Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 24/05/2017, 15:13(GMT+7)
 
Kinh tế - dân sự

Quyền tự do kinh doanh và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh

1.      Dẫn nhập

Ghi nhận quyền tự do kinh doanh (QTDKD) trong Hiến pháp năm 1992 là nền tảng quan trọng cho việc hình thành và phát triển của khung pháp luật về tổ chức và vận hành thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Một thị trường - dù theo định hướng XHCN - thì cơ chế vận hành và phát triển đều phải dựa trên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia. Sự tương tác và cạnh tranh giữa các thành phần thị trường (dù là người mua hay người bán) một cách lành mạnh sẽ tạo ra động lực phát triển chung cho thị trường dưới sự dẫn dắt của các lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Khi cạnh tranh đã được thừa nhận là động lực cho sự phát triển kinh tế thì pháp luật và cơ chế quản lý không chỉ có trách nhiệm tạo ra môi trường cho cạnh tranh hình thành và phát triển, mà còn phải có các công cụ để duy trì sự lành mạnh của môi trường đó. Trong quan hệ giữa QTDKD và cơ chế cạnh tranh của thị trường, chúng tôi nhận thấy có những luận điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, việc thừa nhận và đảm bảo QTDKD là cơ sở hình thành môi trường cạnh tranh cho từng lĩnh vực kinh tế cụ thể hoặc cho toàn bộ nền kinh tế. Bất kỳ yếu tố nào làm hạn chế QTDKD đều có thể là nguyên nhân tạo nên những khiếm khuyết về cạnh tranh cho thị trường. Một khi pháp luật hạn chế quyền kinh doanh trong một số lĩnh vực kinh tế nhất định và chấp nhận những khiếm khuyết về cạnh tranh vì những lý do như an sinh xã hội, an ninh kinh tế hoặc ổn định kinh tế - chính trị của quốc gia… thì yêu cầu được đặt ra là pháp luật và cơ chế quản lý kinh tế (QLKT) phải thiết kế những giải pháp pháp lý hoặc giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật… để loại trừ hoặc hạn chế rủi ro mà xã hội hoặc thị trường phải gánh chịu do môi trường cạnh tranh không được bảo đảm.

Vì vậy, những quy định liên quan đến QTDKD hoặc ảnh hưởng đến QTDKD trong Hiến pháp cần được đặt trong sự tính toán và dự báo khôn ngoan về ảnh hưởng của chúng đến môi trường cạnh tranh của nền kinh tế hoặc của từng lĩnh vực kinh tế có liên quan.

Thứ hai, QTDKD đương nhiên bao hàm quyền được cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các thành phần kinh tế (TPKT), giữa các chủ thể tham gia thị trường. Kinh tế thị trường (KTTT) chỉ phát huy hiệu quả khi môi trường cạnh tranh được tạo lập dựa trên QTDKD và sự bình đẳng. Ghi nhận sự tồn tại của các TPKT và khẳng định những vị thế, giá trị của từng TPKT trong Hiến pháp cần được cân nhắc dựa trên yêu cầu cơ bản trên. Một khi việc ghi nhận vai trò, giá trị và vị thế của từng TPKT là nguyên nhân tạo ra sự đối xử không bình đẳng giữa các TPKT trong quá trình quản lý nền kinh tế của Nhà nước hoặc tạo ra sự không bình đẳng trong quá trình kinh doanh hoặc đầu tư thì những quy định của Hiến pháp đương nhiên hạn chế một phần QTDKD và tạo ra khiếm khuyết về cạnh tranh cho KTTT.

Thứ ba, tự do kinh doanh và sự cạnh tranh lành mạnh của thị trường luôn đặt trong quan hệ chặt chẽ với vai trò QLKT của Nhà nước và với định hướng XHCN. Luận điểm hiến định này đặt ra hai vấn đề: (1) cần làm rõ nội hàm của hoạt động QLKT của Nhà nước. Ghi nhận vai trò QLKT của Nhà nước trong Hiến pháp đòi hỏi đạo luật cơ bản này phải đặt ra giới hạn can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế và đòi hỏi hoạt động ấy không làm mất đi vai trò điều tiết tự nhiên của các quy luật, các quy tắc vận hành tất yếu của thị trường. Nếu sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế làm mất đi giá trị và khả năng tự điều tiết của thị trường, chắc chắn, sự can thiệp ấy sẽ làm biến dạng thị trường. Mặt khác, cần có sự sòng phẳng và bình đẳng giữa việc ghi nhận quyền QLKT với trách nhiệm minh bạch và trách nhiệm vật chất của Nhà nước đối với các chủ thể tham gia thị trường. Một khi Hiến pháp đặt các chủ thể kinh doanh vào môi trường chịu sự quản lý của Nhà nước thì Hiến pháp cũng cần có bảo đảm rằng môi trường quản lý ấy không gây ra bất kỳ rủi ro nào về kinh doanh cho họ. (2) Cần định hình rõ đặc tính định hướng XHCN của thị trường trong Hiến pháp. Trong vấn đề này, đặc tính định hướng XHCN có làm thay đổi bản chất của thị trường hay là yếu tố cộng thêm để tạo bản sắc của thị trường Việt Nam và những nội dung của định hướng XHCN có ảnh hưởng đến sự bình đẳng trong kinh doanh và có can thiệp vào QTDKD của doanh nghiệp không. Khi ghi nhận định hướng XHCN là cơ sở pháp lý nền tảng cho chế độ kinh tế thì Hiến pháp không những cần chỉ rõ các yếu tố tạo nên định hướng này trong chế độ kinh tế, mà còn cần dự báo được những tác động và ảnh hưởng của các yếu tố đó đến sự vận hành chung của thị trường cạnh tranh.

Dựa trên ba luận điểm trên, chúng tôi khảo sát những quy định cơ bản trong Chương II về chế độ kinh tế của Hiến pháp nhằm đánh giá khả năng tác động của các quy dịnh hiện hành đến môi trường cạnh tranh và có những gợi ý cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp về vấn đề này.

1.   Đánh giá tác động của các quy định trong Chương II Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đối với việc hình thành và vận hành của thị trường cạnh tranh

1.1.    Khảo sát về khả năng tác động của các quy định trong Chương II Hiến pháp đối với việc hình thành thị trường cạnh tranh

Chế độ kinh tế trong Hiến pháp năm 1992 có thể được phân tích và đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ của QTDKD và cạnh tranh lành mạnh, các quy định trong Chế độ kinh tế đã đặt nền tảng pháp lý cơ bản để định hình môi trường cạnh tranh và đảm bảo cho QTDKD được thực thi bằng việc ghi nhận những nguyên tắc, những nội dung cơ bản sau:

- Ghi nhận nhiều hình thức sở hữu và thừa nhận kinh tế nhiều thành phần với quyền lựa chọn hình thức tổ chức và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Việc ghi nhận sự tồn tại của các TPKT với sự đa dạng về hình thức tổ chức và quy mô kinh doanh không chỉ là sự cụ thể hóa QTDKD mà còn góp phần định hình môi trường cạnh tranh với các mức độ cạnh tranh khác nhau trong từng lĩnh vực kinh tế.

- Điều 16 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) ghi nhận nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh dựa trên tinh thần hợp tác lâu dài, cạnh tranh bình đẳng và tuân thủ pháp luật của các chủ thể kinh doanh; đặt ra trách nhiệm của Nhà nước trong việc thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN. Như vậy, nhiệm vụ xây dựng và duy trì thị trường cạnh tranh đã được ghi nhận trong đạo luật có hiệu lực cao nhất của hệ thống pháp luật. Quy định này là nền tảng cho việc hình thành khung pháp luật về cạnh tranh tại Việt Nam.

- Hiến pháp 1992 dành 3 điều (19, 20 và 21) định hình vị trí và vai trò của các TPKT và khẳng định các chính sách nhất quán của Nhà nước áp dụng đối với từng TPKT. 

- Đặt ra vai trò và phương thức QLKT của Nhà nước. Theo đó, (1) Nhà nước có vai trò xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nhà nước thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN. (2) Điều 26 Hiến pháp 1992 quy định các phương thức Nhà nước sử dụng để QLKT: Nhà nước thống nhất QLKT quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể và lợi ích của Nhà nước. (3) Đặt ra nguyên tắc xử lý những hành vi sản xuất kinh doanh bất chính xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và của cá nhân bằng quy định mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Khảo sát những nội dung cơ bản trong các quy định của Hiến pháp về chế độ kinh tế, chúng tôi có những đánh giá về khả năng tác động đến môi trường cạnh tranh của nền kinh tế như sau:

Thứ nhất, từ nhận thức, cạnh tranh là động lực phát triển cho KTTT, Hiến pháp đã định hình cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức tổ chức kinh doanh dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Suy cho cùng, tuyên bố pháp lý quan trọng này là kết quả của việc ghi nhận và bảo đảm QTDKD của công dân. Tuyên bố pháp lý về cơ cấu kinh tế trong Hiến pháp là nền tảng pháp lý để tổ chức nên một thị trường có cấu trúc đa dạng, phong phú về loại hình doanh nghiệp, về TPKT và đa dạng nguồn đầu tư vốn kinh doanh. Sự đa dạng và phong phú trong tổ chức của một thị trường tất yếu dẫn đến kết quả là môi trường cạnh tranh sẽ hình thành và phát triển trong nền kinh tế ở từng vùng thị trường cụ thể.

Thứ hai, Hiến pháp đã có cách tiếp cận đúng về việc ghi nhận nguyên tắc cạnh tranh trên thị trường. Nhà nước không thể dùng pháp luật để buộc các chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh với nhau. Nhà nước chỉ xây dựng khung pháp lý để tạo điều kiện cho môi trường cạnh tranh hình thành một cách tự nhiên bằng việc ghi nhận QTDKD, tự do khế ước. Khi thị trường cạnh tranh đã hình thành, Nhà nước và pháp luật có vai trò duy trì sự lành mạnh của thị trường cạnh tranh. Với cách tiếp cận này, Hiến pháp quy định (1) Nhà nước thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN; và (2) ghi nhận nguyên tắc bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp trong quan hệ kinh doanh trên thị trường.

Thứ ba, dù không trực tiếp khẳng định, song một số quy định trong Hiến pháp năm 1992 đã gián tiếp thừa nhận khả năng tồn tại và duy trì những vùng thị trường bị khiếm khuyết về cạnh tranh. Việc thừa nhận sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể là nền tảng; kinh tế nhà nước (KTNN) giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhiều thành phần; thừa nhận vai trò của Nhà nước trong việc thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN là cơ sở pháp lý để chấp nhận và duy trì những lĩnh vực kinh tế, những vùng thị trường đặc biệt. Sự khiếm khuyết về cạnh tranh có thể bao gồm những hình thức như duy trì vai trò thống lĩnh, độc quyền của một hoặc một số doanh nghiệp đặc biệt; đặt cơ chế vận hành của thị trường vào sự quản lý chặt chẽ, mang tính hành chính của Nhà nước và không để cạnh tranh tự điều tiết thị trường… Những lý do được đưa ra cho sự tồn tại các ngành kinh tế không có sự cạnh tranh hoặc môi trường cạnh tranh yếu là vai trò then chốt của lĩnh vực kinh tế, an ninh kinh tế, an ninh quốc gia… Những lý do này mặc nhiên được chấp nhận trong QLKT của Nhà nước và trong đời sống xã hội.

Thứ tư, đặt ra vai trò của Nhà nước trong QLKT nói chung và quản lý môi trường cạnh tranh của nền kinh tế nói riêng. Vai trò của Nhà nước được khẳng định qua hai điều luật có ngay từ bản Hiến pháp năm 1992 và khẳng định lại trong Nghị quyết 51/2001 QH10 của Quốc hội khóa 10. Hiến pháp năm 1992 khẳng định Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách…; Những sửa đổi Hiến pháp trong Nghị quyết 51/2001/QH10 có quy định Nhà nước thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN. Như vậy, sự hình thành, vận hành, phát triển, định hình cơ cấu và cấu trúc… của thị trường Việt Nam không hoàn toàn do những quy luật tự nhiên và tất yếu của KTTT quyết định mà có sự can thiệp của Nhà nước. Với những quy định trên, chúng ta có thể hiểu (1) nền kinh tế Việt Nam không theo mô hình tự do tuyệt đối mà là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Trong khoa học pháp lý, gần như chưa tồn tại quan điểm phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, nhưng có những lo ngại cho số phận thị trường khi Hiến pháp chưa định rõ giới hạn hoạt động quản lý của Nhà nước vào thị trường. (2) Những ngôn ngữ pháp lý trong các quy định trên đã trao cho Nhà nước vị thế khá lớn tác động vào sự hình thành và vận hành của nền kinh tế, của các khu vực thị trường cụ thể. Vai trò thúc đẩy sự hình thành, phát triển và hoàn thiện các loại thị trường… không thể định lượng và không dễ dàng xác định giới hạn sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường, nên mức độ tác động của Nhà nước vào quá trình hình thành, phát triển của thị trường do Nhà nước quyết định (có thể không theo yêu cầu chính đáng của thị trường). (3) Phương thức quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế được xác định rộng bằng ba công cụ cơ bản là pháp luật, kế hoạch và chính sách. Hiến pháp chỉ xác định một cách khái quát quyền sử dụng các phương thức trên để Nhà nước QLKT mà chưa định rõ mức độ sử dụng từng phương thức. Điều này là hợp lý để tạo sự bền vững của Hiến pháp và trao cho Nhà nước quyền chủ động trong QLKT tùy theo điều kiện cụ thể của từng lĩnh vực kinh tế trong những hoàn cảnh nhất định. Tuy nhiên, việc không giới hạn mức độ sử dụng các công cụ quản lý ngoài pháp luật như kế hoạch, chính sách kinh tế… cho thấy khả năng chi phối nền kinh tế của các cơ quan quản lý ngành, cơ quan quản lý các cấp trong bộ máy nhà nước là khá lớn.

Tóm lại, những quy định trong chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp năm 1992 được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo thực hiện QTDKD và là nền tảng pháp lý cơ bản để hình thành và phát triển thị trường cạnh tranh lành mạnh có sự quản lý của Nhà nước. Trong 20 năm hiệu lực, các quy định của Hiến pháp là cơ sở định hình khung pháp luật kinh doanh; là nền tảng pháp lý để triển khai QTDKD của công dân trong thực tế phát triển thị trường. Nhìn dưới góc độ của thị trường cạnh tranh, Hiến pháp năm 1992 có ý nghĩa to lớn trong việc chuyển đổi cơ chế kinh tế phi cạnh tranh sang môi trường kinh tế có động lực phát triển cơ bản là quy luật cạnh tranh của thị trường hiện đại.

1.2.         Những ảnh hưởng của các quy định trong Chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp đối với môi trường cạnh tranh

Sự cạnh tranh trên thị trường không hình thành theo ý chí chủ quan của bất kỳ ai mà sẽ tự xuất hiện nếu cơ chế kinh tế vận hành theo đúng bản chất của thị trường và thỏa mãn những điều kiện tiên quyết như: có tự do kinh doanh, có sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia thị trường, quyền tự do khế ước… Tuy nhiên, điều ngược lại có thể xảy ra, cạnh tranh có thể bị hủy diệt, bị cản trở, kìm hãm không phát triển hoặc không đem lại hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội chỉ bởi những chính sách thiếu khôn ngoan, bởi sự can thiệp tùy tiện của các cơ quan quản lý nhà nước hoặc sự chi phối của các thế lực kinh tế tồn tại trên thị trường. Với tư cách là đạo luật cơ bản của toàn bộ hệ thống pháp luật, Hiến pháp không chỉ khẳng định vị trí pháp lý của các TPKT (tương ứng là các doanh nghiệp thuộc từng TPKT) mà còn đặt ra cơ chế, phương thức can thiệp của Nhà nước vào sự hình thành, vận động và phát triển của nền kinh tế. Nên các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp về chế độ kinh tế có thể ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh từ những khía cạnh sau: (1) ảnh hưởng đến sự bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các TPKT. Bằng cách xác định rõ vị trí của từng TPKT, Hiến pháp là cơ sở pháp lý cơ bản quyết định thái độ ứng xử của Nhà nước đối với từng TPKT thể hiện trong pháp luật, chính sách và cách thức quản lý. (2) Định rõ khả năng giới hạn QTDKD trong từng lĩnh vực kinh tế thông qua vai trò của Nhà nước trong việc thúc đẩy sự hình thành, phát triển của các loại thị trường. (3) Đặt ra tương quan giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong việc quản lý nền kinh tế. Một khi chưa xác định rõ đặc thù của quan hệ QLKT và sử dụng các công cụ quản lý hành chính đơn giản đối với từng khía cạnh cụ thể của thị trường có thể gây ra những cản trở cho sự vận hành của các quy luật thị trường.

Những ảnh hưởng của các quy định trong Hiến pháp năm 1992 đến nguyên tắc bình đẳng giữa các TPKT

Điều 16 Hiến pháp năm 1992 khẳng định các TPKT đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN. Tổ chức, cá nhân thuộc các TPKT cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật. Điều 19, Điều 20 và Điều 21 Hiến pháp quy định rõ về vị trí của TPKT: KTNN, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân trong nền kinh tế. Mặc dù nguyên tắc bình đẳng đã trở thành một nguyên tắc hiến định cho việc xây dựng và phát triển thị trường, song việc quy định vị trí và vai trò cụ thể và khác nhau của các TPKT tất yếu dẫn đến những thái độ ứng xử trong hoạt động quản lý và hoạch định chính sách áp dụng đối với từng TPKT sẽ khác nhau. Như vậy, nguyên tắc kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng được ghi nhận tại Điều 16 có nguy cơ bị xâm phạm bằng các quy định của các Điều 19, 20, 21 và 25 của Hiến pháp. Phân tích các điều luật trên, chúng tôi cho rằng, khả năng nguyên tắc bình đẳng giữa các TPKT thể hiện rõ qua những luận điểm sau:

Thứ nhất, hình thức và nội dung diễn đạt của các điều luật trên dường như chưa có sự nhất quán. Điều 19 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận rõ vị trí của TPKT KTNN và xác định chính sách ưu tiên mà Nhà nước sẽ áp dụng đối với TPKT này. Trong khi đó, các điều 20, 21 và 25 chỉ đơn giản là ghi nhận những quyền năng cơ bản của TPKT tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (những quyền năng đương nhiên tồn tại khi tự do kinh doanh được thừa nhận). Đặc biệt, nội dung của Điều 20 chỉ là định nghĩa ngắn gọn về kinh tế tập thể. Dưới góc nhìn pháp lý, Hiến pháp đã có cách tiếp cận khác nhau khi mô tả về vị trí pháp lý của các TPKT trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Với cách tiếp cận này, cơ cấu kinh tế sẽ được thiết kế thành những tầng nấc pháp lý khác nhau và từng TPKT sẽ được sắp xếp vào từng nấc pháp lý đã được hoạch định. Dưới góc độ hình thức lập pháp, cách tiếp cận khác nhau khi mô tả về từng TPKT cho thấy sự thiếu nhất quán trong cách thiết kế điều luật về cùng một vấn đề được áp dụng cho những chủ thể khác nhau. Chúng tôi cho rằng, nếu Hiến pháp muốn làm rõ tính nhất quán trong chính sách Nhà nước sẽ áp dụng hoặc muốn làm rõ quyền năng cơ bản của các TPKT… thì các quy định về từng TPKT cụ thể đều phải đồng nhất khẳng định về vấn đề đó. Nội dung có thể khác nhau theo từng TPKT (miễn sao không tạo ra sự bất công trong cách ứng xử của Nhà nước với các TPKT) nhưng cách tiếp cận phải thống nhất.

Thứ hai, nguyên tắc bình đẳng có nguy cơ bị xâm phạm khi KTNN được đặt vào vị trí đặc biệt với những ưu đãi vượt trội so với các TPKT khác. Luận điểm này được chứng minh qua sự phân tích nội dung của Điều 19 Hiến pháp và trên cơ sở so sánh với các quy định về các TPKT khác.

Phân tích về địa vị pháp lý của KTNN cho thấy: Điều 19 Hiến pháp không chỉ đặt KTNN vào vị trí đặc biệt trong nền kinh tế mà còn khẳng định chính sách đầu tư và phát triển đối với TPKT này. Theo đó: (1) KTNN được củng cố và phát triển, nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt; (2) KTNN giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Việc xác định vị trí của TPKT KTNN như trên đã và đang gây ra những lo ngại cho số phận của nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng của thị trường. Những vấn đề gây ra những lo ngại chủ yếu là:

- Quy định KTNN được củng cố và phát triển, nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt đương nhiên tạo ra cho các doanh nghiệp thuộc TPKT này một đặc quyền là được Nhà nước chú trọng đầu tư và được áp dụng các chính sách ưu tiên phát triển trong hoạt động kinh doanh. Những đặc quyền này không áp dụng đối với TPKT cá thể, kinh tế tư bản tư nhân. Điều này có thể gây ra những hệ lụy cho Nhà nước, cho các doanh nghiệp thuộc TPKT KTNN và cho thị trường. (1) Với các doanh nghiệp thuộc TPKT KTNN, các chính sách củng cố và phát triển được áp dụng có thể bị lạm dụng trở thành phương tiện bảo trợ cho kết quả kinh doanh ngay cả khi các doanh nghiệp này hoạt động không hiệu quả. Sự bảo trợ của Nhà nước cho dù với mục đích tích cực đều có thể gây ra quan niệm ỷ lại, tạo ra sức ỳ cho đối tượng được thụ hưởng - điều này là điểm chết trong môi trường kinh doanh vốn đòi hỏi sự năng động và sáng tạo không ngừng. (2) Với thị trường, quy định trên gây ra sự so sánh tất yếu cho những chủ thể không được thụ hưởng chính sách củng cố và phát triển như các tổ chức, cá nhân thuộc TPKT tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân. Chưa bàn đến việc triển khai quy định trên vào thực tế, chúng ta cũng có thể thấy rằng, ngay trong đạo luật cơ bản của hệ thống pháp luật đã tồn tại sự bất bình đẳng về vị trí pháp lý, về quyền năng giữa các TPKT. Như vậy, khung pháp lý để thiết kế nên cơ cấu kinh tế chưa hoàn toàn tôn trọng tuyệt đối nguyên tắc bình đẳng của thị trường. Mặt khác, mặc dù các quy định khác trong Hiến pháp chưa làm rõ nội hàm của chính sách củng cố và phát triển KTNN, song với những biện pháp và các cách thức mà Nhà nước áp dụng để giải quyết các vấn đề khó khăn của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay như Nhà nước trực tiếp thực hiện các biện pháp tái cơ cấu, đầu tư thêm vốn… cho thấy, Nhà nước đã đặt TPKT này ra ngoài quy luật sinh tồn tự nhiên của thị trường. Dường như đặc quyền mà Hiến pháp trao cho TPKT KTNN đã làm cho các doanh nghiệp nhà nước trở nên bất khả xâm phạm - các quy luật thị trường không thể tác động và loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém. Thực trạng trên có thể gây ra những tranh cãi về tính phi thị trường của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. (3) Với hoạt động QLKT của Nhà nước, quy định trên đã đặt ra trách nhiệm và có thể tạo ra ý thức QLKT ưu tiên cho TPKT KTNN. Một khi các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả thì trách nhiệm trên trở thành gánh nặng cho hoạt động QLKT và giảm uy tín của Nhà nước trước xã hội.

Việc củng cố và phát triển KTNN được thể hiện rõ nét trong các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Ngoài những lĩnh vực đặc thù liên quan đến an ninh quốc gia và an sinh xã hội, các lĩnh vực then chốt còn lại là những ngành, những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế. Hiệu quả hoạt động của các lĩnh vực, các ngành kinh tế này có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Với ý nghĩa đó, việc Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho sự phát triển và ổn định của các ngành, các lĩnh vực then chốt là tất yếu và có cơ sở vững chắc. Tuy nhiên, với quy định tại Điều 19 của Hiến pháp cho thấy, KTNN là một trong những phương tiện chủ yếu để Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực, các ngành kinh tế đặc biệt trên. Tuy nhiên, ở khía cạnh khác, cơ chế quản lý này có thể được diễn giải bằng một cách thức khác. Theo đó, Nhà nước đã chuyển giao trách nhiệm bảo đảm sự ổn định và phát triển của những ngành then chốt cho các doanh nghiệp thuộc TPKT KTNN. Cách thức này hoàn toàn có thể xảy ra khi Hiến pháp cho phép KTNN được củng cố và phát triển trong những ngành, lĩnh vực kinh tế then chốt mà không đặt ra bất kỳ giới hạn nào. Cách thức này nếu được triển khai trên thực tế có thể gây ra những hệ quả sau: (1) Doanh nghiệp nhà nước được giao trách nhiệm trên có thể chi phối được những lĩnh vực, những vùng kinh tế có liên quan, thậm chí toàn bộ nền kinh tế. Khi đó, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước này quyết định sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. (2) Những rủi ro khách quan hoặc sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước tất yếu tạo ra những sóng gió cho các doanh nghiệp thuộc những TPKT khác hoạt động trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế có liên quan. (3) Hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực, các ngành kinh tế then chốt phụ thuộc vào kết quả hoạt động của các doanh nghiệp được Nhà nước ủy thác và hoạt động giám sát của các cơ quan, các cán bộ quản lý có liên quan. Sự yếu kém trong quản lý doanh nghiệp; việc các cán bộ quản lý nhà nước thiếu trách nhiệm hoặc hạn chế năng lực giám sát doanh nghiệp không chỉ gây ra hậu quả khó lường cho sự phát triển của nền kinh tế mà còn có thể làm tổn hại đến uy tín quản lý chung của Nhà nước. Có thể thấy rằng, tâm lý tin tưởng người nhà để trao những trọng trách quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định chung của thị trường chưa hẳn đã đem lại hiệu quả trong QLKT và chưa thể loại trừ triệt để những lo ngại về việc Nhà nước mất khả năng kiểm soát những rủi ro của thị trường nếu để tự do kinh doanh trong những lĩnh vực kinh tế then chốt.

- Hiến pháp khẳng định KTNN có vai trò chủ đạo và ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Cho đến nay, chưa có bất kỳ văn bản pháp luật nào giải nghĩa chính xác vai trò chủ đạo và nền tảng của KTNN. Trong bài viết này, chúng tôi không có ý định phân tích nội hàm của cụm từ vai trò chủ đạo và nền tảng được Hiến pháp ghi nhận. Tuy nhiên, để đánh giá một cách công bằng về vị thế và những đóng góp của một doanh nghiệp, một TPKT cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, chúng ta không thể dựa vào ý chí hay mong muốn của nhà lập pháp, không thể dựa vào nguồn gốc xuất thân của doanh nghiệp, của TPKT, mà chủ yếu căn cứ trên hiệu quả kinh tế và uy tín kinh doanh. KTTT theo định hướng XHCN trước hết phải là KTTT với những đặc trưng vốn có của nó. Theo đó, thị trường cần được vận hành bằng các quy luật tự nhiên và Nhà nước cần tôn trọng các quy luật này. Việc pháp luật và Nhà nước dùng ý chí chủ quan để đặt một nhóm doanh nghiệp (dù thuộc TPKT nào) vào vị thế chủ đạo và nền tảng mà không dựa trên năng lực hoạt động hoặc hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc Nhà nước và pháp luật đã làm thay công việc của thị trường, có thể làm vô hiệu các quy luật vận động của thị trường.

Từ nền tảng pháp lý cơ bản của Hiến pháp về KTNN, các chính sách củng cố và phát triển KTNN, các chủ trương xây dựng vai trò chủ đạo và nền tảng của TPKT này có thể tạo ra những doanh nghiệp có quyền lực thị trường, có khả năng chi phối thị trường thông qua nguồn tài chính được Nhà nước đầu tư, nắm giữ các nguồn lực thiết yếu của thị trường… Dưới góc độ của chính sách cạnh tranh, sự tồn tại của quyền lực thị trường luôn tạo ra những khuyết tật cho môi trường cạnh tranh cho dù sự tồn tại đó có những giá trị nhất định cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Điểm đặc biệt của quyền lực thị trường trong tình huống này là nó được sinh ra và bảo trợ bởi pháp luật và các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước. Vì vậy, cơ chế kiểm soát và khắc chế quyền lực thị trường để ngăn chặn rủi ro do khuyết tật cạnh tranh gây ra không thể thực hiện theo cách thức thông thường (kiểm soát quyền lực thị trường được tạo lập bằng cơ chế tự nhiên của thị trường). Một khi pháp luật tạo ra những nguy cơ cho thị trường thì pháp luật cần dự liệu được những hệ lụy và thiết kế cơ chế để khắc chế quyền lực thị trường và loại trừ những rủi ro có thể xảy ra (hoặc chắn chắn xảy ra) bằng những phương thức tương xứng. Theo đó, Nhà nước phải có cam kết rõ ràng trước các TPKT khác và trước xã hội về việc không để cho những đứa con của mình lạm dụng các ưu đãi, lạm dụng vị thế có được gây hại cho môi trường cạnh tranh và cho những chủ thể khác trên thị trường.

So sánh địa vị pháp lý của KTNN với các TPKT khác cho thấy: quy định về vị trí pháp lý của các TPKT kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu chỉ nêu đặc trưng và các quyền cơ bản của những TPKT này, bao gồm quy định về cơ chế hợp tác của kinh tế tập thể; quyền được thành lập doanh nghiệp không hạn chế về quy mô, ngành nghề kinh doanh và quyền lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh của kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân. Cùng với các quy định khác về bảo hộ sở hữu tài sản và nguyên tắc không quốc hữu hóa tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân, các quy định xác lập địa vị pháp lý của TPKT tập thể, kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân là sự cụ thể hóa QTDKD. Tuy nhiên, so sánh với địa vị pháp lý của KTNN, nội dung của Điều 20, 21, 25 Hiến pháp chỉ là kết quả tất yếu về quyền năng pháp lý của việc thừa nhận tự do kinh doanh. Quyền quyết định về quy mô và hình thức kinh doanh là nội dung cơ bản của tự do kinh doanh mà bất ký chủ thể tham gia kinh doanh đáng được và phải được nhận cho dù thuộc TPKT nào. Nếu so sánh với những luận điểm pháp lý được áp dụng cho KTNN, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự bất cân xứng giữa KTNN và các TPKT khác. Do đó, môi trường cạnh tranh đã bị khuyếm khuyết ngay từ khung pháp lý cơ bản để định hình nên KTTT.

Nhìn chung, ước muốn định hình cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đã thể hiện qua nỗ lực tạo lập khung pháp lý cơ bản về việc xác định địa vị pháp lý của từng TPKT. Như đã phân tích, các quy định về cơ cấu kinh tế còn nhiều bất cập về nội dung và hình thức. Những hạn chế trong các quy định của Hiến pháp ảnh hưởng trực tiếp đển việc xây dựng và vận hành thị trường cạnh tranh. Một khi sự bình đẳng (ngay từ khung pháp lý cơ bản) không được đảm bảo thì môi trường cạnh tranh không thể lành mạnh và phát huy hiệu quả cho việc phát triển KTTT theo đúng nghĩa.

Khả năng giới hạn QTDKD trong những lĩnh vực cụ thể

Dưới góc độ cơ cấu cạnh tranh của thị trường, quy định Nhà nước thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN có thể được hiểu là Hiến pháp đã trao cho Nhà nước quyền định hướng cơ cấu thị trường trong từng lĩnh vực cụ thể tùy theo nhu cầu của nền kinh tế và theo định hướng XHCN. Với những vùng thị trường đặc biệt và trong hoàn cảnh cụ thể, Nhà nước có thể quyết định cấu trúc cạnh tranh, mức độ cạnh tranh và đưa ra các quyết sách bằng kế hoạch hoặc chính sách để khuyến khích hoặc giới hạn quyền tham gia thị trường của các TPKT. Trên thực tế, nhiều vùng thị trường đặc thù đã tồn tại những rào cản pháp lý do Nhà nước đặt ra như quy định vốn pháp định, quy định giấy phép kinh doanh, điều kiện kinh doanh… để điều tiết cơ cấu và mức độ phát triển của thị trường. Về nội dung này, chúng tôi có một số bình luận sau:

Một là, quy định này trao cho Nhà nước vai trò định hướng sự phát triển của thị trường và lựa chọn các loại thị trường cho nền kinh tế. Như vậy, sự vận hành của thị trường luôn có sự dẫn đắt của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch và chính sách kinh tế cụ thể. Sự tham gia của Nhà nước vào thị trường không chỉ đơn giản là đảm bảo trật tự của thị trường mà còn là định hình và thúc đẩy các loại thị trường hình thành và phát triển. Đương nhiên, với vai trò này của Nhà nước, sự vận hành của nền kinh tế Việt Nam không chỉ chịu sự tác động của các quy luật tự nhiên của thị trường mà còn chịu sự tác động to lớn bởi sự lựa chọn của Nhà nước về mô hình thị trường hiệu quả cho từng lĩnh vực kinh tế trong từng thời điểm cụ thể bằng kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế.

Hai là, khi quyền QLKT của Nhà nước được xác định rộng như trên, QTDKD của tổ chức, cá nhân sẽ được xác định theo mô hình thị trường mà Nhà nước lựa chọn. Mặc dù Điều 57 của Hiến pháp khẳng định công dân có quyền tự do theo quy định của pháp luật, song QTDKD phải đặt vào tương quan với chính sách, kế hoạch phát triển thị trường của Nhà nước. Bằng chính sách và kế hoạch, Nhà nước điều tiết sự phát triển của thị trường cạnh tranh theo cơ cấu, mô hình cụ thể tùy theo định hướng phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Mức độ điều tiết của Nhà nước sẽ quyết định phạm vi của quyền tham gia kinh doanh của các TPKT.

Ba là, những phân tích trên cho thấy tính hợp pháp của các vùng thị trường còn tồn tại độc quyền hoặc có mức cạnh tranh yếu. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sự điều tiết của Nhà nước cần có một giới hạn cụ thể để đảm bảo các quy luật điều tiết của thị trường không mất giá trị vốn có của nó, đảm bảo QTDKD không bị giới hạn một cách thô bạo hoặc bất hợp lý. Việc định hình mô hình thị trường không thể do ý chí của các cơ quan, các cán bộ QLKT của Nhà nước mà trước hết phải từ nhu cầu phát triển kinh tế của thực tiễn khách quan. Sự kìm hãm hay mở rộng phạm vi QTDKD mà không gắn với nhu cầu thực tiễn tất yếu nhận được phản ứng trái chiều từ xã hội và từ các chủ thể tham gia thị trường. Do đó, chúng tôi cho rằng, vai trò thúc đẩy hoặc định hình các loại thị trường của Nhà nước phải được giới hạn ngay trong Hiến pháp nếu vai trò này tiếp tục được tái khẳng định trong Hiến pháp sửa đổi. Theo đó, các chủ thể chủ yếu của thị trường sẽ quyết định mô hình thị trường, mô hình cạnh tranh. Nhà nước chỉ can thiệp vào những lĩnh vực, những ngành then chốt và có các chính sách thúc đẩy cạnh tranh trong những lĩnh vực đang có mức cạnh tranh yếu hoặc đang tồn tại những rào cản tự nhiên cản trở sự phát triển thị trường. Nhà nước cần hạn chế việc sử dụng các công cụ quản lý như chính sách, kế hoạch… để tạo ra những rào cản pháp lý cho sự phát triển của thị trường cạnh tranh.

Tương quan giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong QLKT

Những quy định trong Chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp đã tạo lập khung pháp lý cho quan hệ QLKT giữa Nhà nước và các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuộc các TPKT. Trong quan hệ này (1) Nhà nước đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các TPKT; bảo hộ vốn và tài sản hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh; Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, kế hoạch và chính sách trên cơ sở phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp; Nhà nước thực hiện quyền xử lý các hành vi kinh doanh bất hợp pháp, kinh doanh trái pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác; Nhà nước thực hiện chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và tiêu dùng. (2) Các tổ chức, cá nhân kinh doanh được bảo đảm thực hiện các quyền kinh doanh cơ bản, quyền liên doanh, liên kết với các cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước; phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với Nhà nước và bảo đảm tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh; mọi hành vi kinh doanh bất hợp pháp làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân khác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Vấn đề cần quan tâm là sự minh bạch của pháp luật, kế hoạch và chính sách QLKT của Nhà nước. Chúng tôi cho rằng, Hiến pháp định ra phương thức QLKT khá rộng bao gồm pháp luật, kế hoạch và chính sách kinh tế. Trong đó, kế hoạch và chính sách kinh tế là những phương tiện quản lý nhạy bén, linh hoạt nhưng có thể thay đổi nhanh chóng và chất lượng, hiệu quả quản lý phụ thuộc vào năng lực và nhận thức của người hoạch định chính sách, kế hoạch. Trong khi đó, mọi sự thay đổi kế hoạch, chính sách đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thị trường, đến quyền lợi và tình hình kinh doanh của từng đơn vị kinh tế. Một khi pháp luật đòi hỏi các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải đảm bảo sự minh bạch và hợp pháp của hoạt động kinh doanh, đảm bảo thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ với Nhà nước thì pháp luật cần xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trước thị trường và trước các đơn vị kinh doanh. Việc minh bạch nội dung QLKT của Nhà nước cần đáp ứng những nguyên tắc sau:

- Các kế hoạch, chính sách QLKT phải đảm bảo tuân theo pháp luật;

- Những thay đổi trong chính sách, kế hoạch QLKT phải được minh bạch, công khai dựa trên tinh thần tôn trọng quyền thông tin và các quyền hợp pháp khác của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng;

- Nhà nước có trách nhiệm bồi hoàn những thiệt hại mà tổ chức, cá nhân kinh doanh phải gánh chịu do những thay đổi trong chính sách, kế hoạch quản lý gây ra (nếu những quyền lợi bị xâm phạm là hợp pháp).

2.                     Kết luận

Sau 20 năm có hiệu lực, những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp đã và đang là cơ sở pháp lý để hình thành và thúc đẩy sự phát triển của thị trường Việt Nam và là nền tảng định hình cho khung pháp luật điều tiết nền KTTT theo định hướng XHCN. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường và nhu cầu xây dựng thị trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả đang đặt ra những đòi hỏi cấp bách cho hệ thống pháp luật điều tiết kinh tế, trong đó có những yêu cầu thay đổi về cấu trúc và cách tiếp cận về kinh tế nhiều thành phần của Hiến pháp. Với những phân tích trên, những thay đổi trong Chương về Chế độ kinh tế của Hiến pháp cần tập trung vào các nội dung sau:

- Nguyên tắc bình đẳng cần thể hiện rõ hơn nữa trong quy định về các TPKT. Chúng tôi cho rằng, một khi đã khẳng định rõ QTDKD là quyền cơ bản của công dân và thừa nhận nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng thì không nên quy định địa vị pháp lý khác nhau cho các TPKT, không nên định vị vai trò của các TPKT trên thị trường với những kỳ vọng và nội dung khác nhau. Hiến pháp chỉ nên đặt ra những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho khung pháp lý điều tiết thị trường mà không thể định hướng về nội dung cho các chính sách đối xử với các TPKT và càng không thể là cơ sở để tạo ra những hoài nghi về sự bất bình đẳng giữa các TPKT trên thị trường. Vì vậy, việc thừa nhận sự tồn tại của các TPKT và ghi nhận nguyên tắc bình đẳng là cần thiết cho thể chế kinh tế mà không cần có các quy định cụ thể về vai trò của từng TPKT cụ thể.

- Các quy định trong Hiến pháp về chế độ kinh tế cần được xây dựng trên nguyên tắc KTTT theo định hướng XHCN trước hết phải thỏa mãn các điều kiện cơ bản của KTTT. Thị trường cần được vận động và phát triển bằng các quy luật tự nhiên vốn có. Nhà nước và pháp luật chỉ can thiệp khi tồn tại những điều kiện, những hoàn cảnh mà các quy tắc, quy luật của thị trường không phát huy tác dụng, không thể tự điều tiết; Nhà nước thực hiện vai trò đảm bảo trật tự thị trường trước những toan tính, những hành vi lạm dụng tự do kinh doanh để xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước. Theo đó (1) Nhà nước hạn chế sử dụng pháp luật và các công cụ QLKT để tạo nên rào cản pháp lý trên thị trường làm hạn chế quyền kinh doanh và hạn chế sự phát triển của môi trường cạnh tranh; (2) Nhà nước chỉ tham gia định hướng sự hình thành, phát triển của thị trường trong các lĩnh vực kinh tế đặc biệt hoặc có tầm quan trọng đặc biệt đến sự phát triển của nền kinh tế; (3) Nhà nước cần sử dụng công cụ đánh giá hiệu quả để trao các lĩnh vực kinh tế then chốt cho các đơn vị kinh doanh đảm nhận và thiết kế cơ chế giám sát, cơ chế quản lý hiệu quả. Hiến pháp không nên dựa vào nguồn đầu tư, nguồn gốc xuất thân để trao phó các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế cho các đơn vị kinh tế hoặc trao cho một TPKT cụ thể nào đó. Từ đó, chúng ta nên chấm dứt tình trạng các doanh nghiệp nhà nước luôn độc quyền nắm giữ các lĩnh vực kinh tế cơ bản và có quyền chi phối sự phát triển của nền kinh tế.

- Cần sửa đổi điều 26 Hiến pháp 1992 theo các yêu cầu sau: (1) việc quản lý nền kinh tế cơ bản được thực hiện bằng pháp luật; (2) việc sử dụng kế hoạch và chính sách để QLKT phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và đảm bảo minh bạch, công khai và có thể dự đoán; (3) xác định trách nhiệm của Nhà nước trước các đơn vị kinh doanh khi có sự thay đổi trong chính sách, kế hoạch QLKT gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của họ./.

TS. Nguyễn Ngọc Sơn - Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai theo Hiến pháp 1992 và các vấn đề đặt ra (15/10/2013)
Chức năng kinh tế của chính quyền địa phương (04/10/2013)
Tự do cam kết, thỏa thuận và giới hạn đối với tự do cam kết, thỏa thuận - nhìn từ góc độ Hiến pháp (27/08/2013)
Xây dựng thể chế kinh tế thị trường bình đẳng trong sự thống nhất với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (23/07/2013)
Chế độ kinh tế trong Hiến pháp phải bảo đảm nền kinh tế vận hành hiệu quả và dựa trên nền tảng quyền con người (11/06/2013)
Bảo đảm công bằng và điều chỉnh quan hệ lợi ích khi sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (16/05/2013)
Trao đổi về một số nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (10/05/2013)
Bảo đảm công bằng và điều chỉnh quan hệ lợi ích khi sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (16/05/2013)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân