Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 16/11/2018, 04:03(GMT+7)
 
Kinh tế - dân sự

Bảo đảm công bằng và điều chỉnh quan hệ lợi ích khi sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là khoản thu phát sinh từ hoạt động kinh doanh và các khoản thu nhập khác. Khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh được xác định bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng các khoản chi phí phát sinh. Thông thường, bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp theo Luật thuế TNDN liên quan trực tiếp đến các quy định xác định thu nhập chịu thuế, xác định các loại chi phí được trừ, đặc biệt là quy định về thuế suất và biện pháp ưu đãi.

Luật thuế TNDN được sửa đổi, bổ sung năm 2008 và sau 4 năm thực hiện đã bộc lộ một số hạn chế như quy định về xác định thu nhập chịu thuế đối với một số hoạt động kinh doanh mang tính xã hội, xác định thuế suất đối với doanh nghiệp yếu thế và ưu đãi thuế đối với một số đối tượng doanh nghiệp nhất định... Các hạn chế này đang đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN.  

 I. Các yếu tố tác động đến việc hoàn thiện Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 

1. Thuế TNDN trong quan hệ lợi ích với chủ sở hữu và người tiêu dùng

Thuế TNDN là thuế trực thu đánh vào thu nhập của các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Thu nhập của doanh nghiệp nhiều hay ít phụ thuộc vào tổng doanh thu từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng. Về nguyên tắc, giá hàng hóa và dịch vụ được xác định trên cơ sở lấy thu bù chi, doanh nghiệp chỉ có lãi khi tổng doanh thu bù đắp được tất cả các chi phí bỏ ra.

Trong điều kiện cạnh tranh về giá cả trên thị trường, thu nhập của doanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô sản xuất sản phẩm hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Khi hàng hóa với giá cả hợp lý được người tiêu dùng chấp nhận và với quy mô sản xuất lớn sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận và góp phần làm tăng vốn của chủ sở hữu trong doanh nghiệp và thu nhập cho chủ sở hữu. Có nghĩa là, đánh thuế TNDN tác động vào quá trình tích lũy của doanh nghiệp, lợi ích của chủ sở hữu nhưng phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trong xã hội.

Có thể nói, do lợi ích về thuế TNDN của Nhà nước gắn chặt chẽ với lợi ích của doanh nghiệp và chủ sở hữu cũng như người tiêu dùng, nên việc sửa đổi các quy định của Luật thuế TNDN phải cân nhắc không chỉ đến lợi ích của doanh nghiệp và Nhà nước, mà phải cân nhắc đến lợi ích của chủ sở hữu và người tiêu dùng.

2.  Kiểm soát tình trạng gian lận thuế  

Mức thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp bằng thuế suất nhân tổng thu nhập chịu thuế. Để giảm bớt nghĩa vụ nộp thuế, doanh nghiệp có thể gian lận bằng cách khai giảm doanh thu và tăng chi phí. Do khoản thuế TNDN chỉ được xác định sau khi kết thúc năm tài chính nên quyền thu thuế của Nhà nước chỉ được thực hiện sau khi xác định được TNDN. Doanh nghiệp có nghĩa vụ kê khai nộp thuế nên dữ liệu về thu nhập chịu thuế do doanh nghiệp tự xác định, cơ quan thuế có quyền kiểm tra trước và sau khi nộp thuế. Tuy nhiên, trên thực tế, các hành vi gian lận, trốn thuế hầu hết chỉ được phát hiện thông qua thủ tục thanh tra sau nộp thuế. Vấn đề đặt ra là làm thế nào kiểm soát được tình trạng gian lận thuế để hạn chế tối đa nguyên nhân gây thất thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ việc hoàn thiện các quy định của Luật thuế TNDN?

Theo pháp luật hiện hành, các doanh nghiệp không phân biệt yếu tố sở hữu, loại hình doanh nghiệp phải tuân thủ chế độ kế toán theo Luật Kế toán, ngoài ra, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty đại chúng và các công ty nhà nước, công ty trong lĩnh vực tài chính là đối tượng buộc phải kiểm toán. Nghĩa vụ này buộc doanh nghiệp phải hạch toán chi phí trong nội bộ chính xác làm cơ sở kê khai nộp thuế. Tuy nhiên, để làm gia tăng lợi nhuận trong đầu tư, các doanh nghiệp thường tác động làm giảm thu nhập hoặc không có thu nhập, bằng cách phổ biến là thông qua thủ đoạn lập các hợp đồng mua hàng khống, kê khống giá trị hàng hoá để làm tăng chi phí đầu vào hoặc lách luật để chuyển giá, nhằm làm tăng chi phí hoặc thông đồng để lập hóa đơn, chứng từ khống, khai giảm doanh thu.

 Để hạn chế tình trạng gian lận thuế, ngoài sử dụng thẩm quyền thanh tra xử lý vi phạm của Cơ quan thuế và vai trò  xét xử của Tòa án, Nhà nước cần thiết phải tạo ra cơ chế giám sát từ  phía chủ sở hữu[1], chủ nợ và người tiêu dùng[2] nói chung cũng như tác động vào ý thức tự giác nộp thuế bằng cách tạo dựng niềm tin của người nộp thuế vào việc sử dụng tiền thuế của Nhà nước, cũng như bảo đảm lợi ích cho họ khi họ tuân thủ pháp luật.   

Đặc biệt, trong bối cảnh Nhà nước khuyến khích các chủ thể đầu tư kinh doanh nhằm xã hội hóa các nguồn vốn thì việc tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng trên thực tế để doanh nghiệp làm ăn chân chính có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cũng chính là nhân tố tác động vào ý thức tuân thủ pháp luật thuế[3], giảm bớt hành vi gian lận, trốn thuế.

3. Lợi ích doanh nghiệp từ địa phương quản lý thu thuế

Theo Luật NSNN, thuế TNDN đối với doanh nghiệp không phải doanh nghiệp hạch toán toàn ngành thuộc khoản thu điều tiết của ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương - NSĐP (Điều 30, Khoản 2). Khoản thu điều tiết về nguyên tắc được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về dự toán NSNN và phân bổ NSTW năm đầu thời kỳ ổn định (Điều 16 Luật NSNN). Tuy nhiên, hiện nay tỉ lệ thu điều tiết không được quy định cụ thể đối với từng khoản thu thuế riêng biệt nên khó xác định lợi ích của địa phương từ khoản thu thuế TNDN.

 Luật thuế TNDN hiện hành quy định doanh nghiệp nộp thuế nơi có trụ sở chính. Trường hợp doanh nghiệp có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc hoạt động tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với địa bàn của doanh nghiệp có trụ sở chính thì số thuế được tính nộp theo tỉ lệ chi phí giữa nơi sản xuất và nơi có trụ sở chính (Điều 12). Quy định này có ý nghĩa điều chỉnh nguồn thu thuế để thực hiện kế hoạch chi ngân sách trong năm tài chính. Còn thực tế, số thu thuộc quyền hưởng lợi của NSĐP phụ thuộc vào quyết định điều tiết tổng thể của Quốc hội.

  Với thực trạng phân cấp quản lý NSNN hiện hành, người nộp thuế chỉ được hưởng lợi ích từ điều chỉnh thuế suất và ưu đãi thuế chung theo Luật thuế TNDN. Về mặt pháp luật, xét trong quan hệ với chính quyền địa phương thì doanh nghiệp chỉ có nghĩa vụ nộp thuế TNDN chung mà không được hưởng quyền lợi phát sinh từ hành vi nộp thuế ở địa phương. Sự minh bạch hóa trong phân cấp khoản thu thuế TNDN giữa NSTW và NSĐP và luật hóa quan hệ quyền lợi và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và chính quyền địa phương sẽ bảo đảm thực hiện quyền tự chủ của chính quyền địa phương, đồng thời gắn trách nhiệm của chính quyền địa phương trong bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp trên địa bàn.  

4.  Nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong đánh thuế   

Thông thường, nguyên tắc công bằng, bình đẳng được áp dụng trong đánh thuế. Các chủ thể có thu nhập ngang nhau và có điều kiện áp dụng giống nhau có nghĩa vụ nộp thuế như nhau và các chủ thể có vị trí bình đẳng trong hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và có tính đến vị trí yếu thế của các chủ thể nộp thuế. Trên thực tế, thuế TNDN được coi là một công cụ thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội. Nhà nước có thể quy định mức thuế suất khác nhau để áp dụng cho các doanh nghiệp có thu nhập từ hoạt động kinh doanh mang tính xã hội hoặc áp dụng biện pháp miễn, giảm thuế để khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh... Ngoài ra, việc xác định thu nhập chịu thuế TNDN có liên quan mật thiết tới việc hạch toán doanh thu, chi phí trong doanh nghiệp theo các nguyên tắc kế toán nên không thể bỏ qua sự ảnh hưởng này đến việc áp dụng các nguyên tắc đánh thuế.  

Có thể thấy, nguyên tắc công bằng và bình đẳng chỉ có thể được áp dụng một cách tương đối nhằm đạt được mục đích của chính sách thuế. Tuy nhiên, tất cả các quy định khi sửa đổi Luật thuế TNDN phải dựa trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng để điều chỉnh hợp lý quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, các doanh nghiệp và các chủ thể liên quan.

Do các doanh nghiệp có điều kiện về vốn, ngành nghề kinh doanh khác nhau nên khi bảo đảm thực hiện nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong áp dụng Luật thuế TNDN, cần tính đến lợi thế về vốn cũng như lợi thế kinh doanh tạo ra doanh thu, nhằm giúp cho doanh nghiệp có khả năng thu hồi được vốn đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh và điều quan trọng là phải tính đến bối cảnh áp dụng Luật thuế TNDN ở nước ta, khi nền kinh tế thị trường mới phát triển, ý thức tuân thủ pháp luật thuế còn chưa cao.

II. Bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp và quyền thu thuế của Nhà nước 

1. Quy định về thuế suất

- Mức thuế suất phổ thông

Mức thuế suất theo Luật thuế TNDN 2008 áp dụng chung là 25%, mức thuế suất này được đánh giá là tương đối hợp lý so với mức thuế suất 28% theo Luật thuế TNDN năm 2003. Tuy nhiên, sau 4 năm áp dụng, mức thuế suất hiện hành đã bộc lộ những bất cập khi hoạt động tạo ra thu nhập của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn và xu hướng lập pháp của các nước trong khu vực đang theo lộ trình giảm thuế để khuyến khích đầu tư[4]. Theo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN (Dự thảo sửa đổi Luật thuế TNDN), mức thuế suất phổ thông được đề xuất điều chỉnh giảm từ 25% xuống còn 23%.  

Việc giảm thuế suất phổ thông với 2% là nhằm thực hiện Chiến lược cải cách thuế đến năm 2020. Theo đó, điều chỉnh giảm dần mức động viên theo lộ trình cho phù hợp để thu hút đầu tư và vừa đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn của đầu tư so với các nước trong khu vực. Vấn đề đặt ra là mức thuế suất phổ thông là 23%  đã phù hợp với năng lực đóng thuế của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế hiện nay hay chưa? Báo cáo tổng kết đánh giá của Chính phủ chủ yếu dựa trên con số thống kê thu thuế TNDN trên thực tế và ảnh hưởng của việc giảm thuế suất đến tạo nguồn thu NSNN[5], các bất cập trong áp dụng thuế suất đối với một số đối tượng và  kinh nghiệm điều chỉnh thuế suất ở một số nước trong khu vực, mà chưa đánh giá các yếu tố tác động tổng thể đến quá trình tạo ra lợi nhuận như lãi suất vốn, cơ cấu thu nhập và phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp để đưa ra mức đánh thuế gắn với đặc thù tạo ra thu nhập của các doanh nghiệp nước ta.

Tại phiên thảo luận của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 18/3/2013 về Dự thảo sửa đổi Luật thuế TNDN , Chủ tịch Quốc hội đã gợi ý Bộ Tài chính nên tính toán và cân nhắc khả năng giảm TNDN về 20%. Chủ tịch Quốc hội cho rằng, giảm thuế sẽ khuyến khích doanh nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp sẽ đóng thuế nhiều hơn, ngân sách thu thêm được không nhỏ. "Nếu giảm thuế suất mà chỉ tính toán ngân sách mất bao nhiêu nghìn tỷ thì chưa khách quan. Cần tính xem tác động vào sản xuất kinh doanh như thế nào"[6]. Ý kiến của Chủ tịch Quốc hội có thể bổ sung định hướng đánh thuế ở nước ta trong bối cảnh hiện nay, đó là quy định thuế suất thấp nhằm nuôi dưỡng nguồn thu của Nhà nước từ doanh nghiệp trong tương lai.

- Mức thuế suất áp dụng ưu đãi đối với doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ

Một trong những bất cập của Luật thuế TNDN 2008 là đánh thuế suất phổ thông 25% mà không phân biệt quy mô doanh nghiệp, nên đã tạo ra sự bất lợi cho doanh nghiệp yếu thế[7]. Dự thảo sửa đổi Luật thuế TNDN quy định doanh nghiệp sử dụng dưới 200 lao động, làm việc toàn bộ thời gian và có tổng doanh thu không quá 20 tỉ đồng được áp dụng thuế suất 20%.

Việc quy định mức thuế suất thấp hơn thuế suất phổ thông cho đối tượng doanh nghiệp yếu thế về quy mô doanh thu là cần thiết, góp phần tạo lập tài sản cho doanh nghiệp cũng như khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng trong điều kiện kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là tiêu chí khống chế này sẽ làm cho các doanh nghiệp dựa vào cơ cấu doanh thu để được áp dụng thuế suất ưu đãi, đồng thời sẽ gây ra tình trạng không muốn mở rộng đầu tư để tăng quy mô doanh thu do phải đóng thuế TNDN ở mức cao hơn. Về điểm này, Ban soạn thảo cần xem xét kỹ lưỡng, có thể cân nhắc phương án xác định doanh nghiệp là đối tượng hưởng ưu đãi theo ngưỡng tổng thu nhập và tổng số lao động thuê.

Việc kiến nghị sửa đổi mức thuế suất đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cần quy định ở mức hợp lý hơn thấp hơn 20%. Ngoài ra, quy định bổ sung các điều kiện áp dụng nhằm minh bạch hóa hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tác động vào ý thức tuân thủ pháp luật thuế, giảm tối đa tình trạng người quản lý, điều hành gian lận thuế để thu hồi vốn một phần vốn trước khi đóng thuế cho Nhà nước.

-  Mức thuế suất đối với doanh nghiệp quy mô lớn

Tờ trình của Chính phủ về Dự thảo sửa đổi Luật thuế TNDN đề xuất áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với doanh nghiệp có quy mô thu nhập lớn với lý do là  trong thời gian qua, một số dự án đầu tư đáp ứng được tiêu chí về quy mô lớn và có tác động lớn tới kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng. Ví dụ như trường hợp của của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sam Sung, Nokia, LG, Canon... Tuy nhiên, theo Luật thuế TNDN hiện hành, các doanh nghiệp này chưa được hưởng ưu đãi thuế hoặc mức ưu đãi chưa cao, trong khi vấn đề ưu đãi thuế đối với các dự án loại này thường là một trong những tiêu chí quan trọng để nhà đầu tư quyết định việc lựa chọn đầu tư vào Việt Nam[8].  

Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 13 Luật thuế TNDN về ưu đãi cho các dự án đầu tư mới đáp ứng điều kiện về quy mô đầu tư và phạm vi tác động đến kinh tế - xã hội theo quyết định của Chính phủ với mức thuế 10% trong thời hạn 15 năm và khoản 1 Điều 14 miễn tối đa không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo với các tiêu chí quy định tại Nghị định của Chính phủ dự kiến là dự án đầu tư quy mô lớn và phạm vi tác động lớn đến kinh tế - xã hội (quy mô vốn đầu tư tối thiểu từ 500 triệu USD, thực hiện giải ngân nhanh (từ 2 - 3 năm) và có tổng doanh thu đạt 5 tỷ đô la Mỹ trở lên khi đi vào sản xuất kinh doanh ổn định; dự án sử dụng trên 5.000 lao động trong một số lĩnh vực khuyến khích đầu tư như điện, điện tử…; dự án sử dụng công nghệ tiên tiến trong một số lĩnh vực khuyến khích đầu tư và có cam kết tỷ lệ nội địa hoá từ 50% trở lên; dự án có sản phẩm nằm trong chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn hàng đầu thế giới (có thể nằm trong 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới).

Có thể thấy, đề xuất của Chính phủ là hợp lý trong bối cảnh khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp quy mô lớn. Ngoài ra, theo lý thuyết đánh thuế, có thể đánh thuế lũy thoái khi thu nhập càng tăng thì áp dụng mức thuế suất thấp hơn để đảm bảo công bằng cho chủ thể tạo ra nhiều thu nhập. Tuy nhiên, việc miễn giảm thuế này cần coi là trường hợp đặc biệt phải được Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định. Ngoài ra, để khẳng định sự cần thiết ưu đãi thuế đối với trường hợp này, bên cạnh tiêu chuẩn về ngưỡng doanh thu và số lượng lao động thuê, cần thiết phải bổ sung điều kiện quy mô đóng góp vào thị trường xuất khẩu và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật để đảm bảo công bằng trong đánh thuế, hạn chế tình trạng doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế cạnh tranh hơn doanh nghiệp trong nước trong cùng lĩnh vực kinh doanh tại thị trường nội địa.  

-    Kết hợp điều chỉnh  lợi ích về thuế TNDN giữa NSTW và NSĐP

Theo Luật NSNN hiện hành, khoản thu thuế TNDN ngoài doanh nghiệp hạch toán toàn ngành thuộc khoản thu điều tiết giữa NSTW và NSĐP. Tuy nhiên, theo chế độ phân cấp các khoản thu NSNN hiện hành, tỉ lệ thu điều tiết không xác định cụ thể đối với từng khoản thu thuế cho địa phương. Do đó, có thể thấy chế độ ưu đãi thuế chỉ áp dụng chung mà chưa xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp ở địa phương một cách cụ thể. Thông thường, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tại địa phương, thực hiện các hoạt động kinh doanh tại địa phương được hưởng những lợi ích nhất định từ sử dụng công trình công cộng và dịch vụ công…, ngoài ra, bản thân doanh nghiệp cũng có quyền yêu cầu đối với địa phương với tư cách là chủ thể đóng thuế. Bởi vậy, phân cấp cụ thể lợi ích của NSTW và NSĐP khoản thu từ thuế TNDN bằng xác định mức thuế mỗi cấp được hưởng sẽ thúc đẩy chính quyền địa phương có tinh thần trách nhiệm đối với doanh nghiệp trên địa bản. Về kinh nghiệm phân định thẩm quyền thu thuế TNDN giữa NSTW và NSĐP, có thể tham khảo kinh nghiệm lập pháp ở một số nước châu Á: ở Nhật Bản, pháp luật thuế pháp nhân phân biệt quyền đánh thuế của NSTW và NSĐP đối với TNDN, từ năm 2011, thuế pháp nhân thuộc quyền đánh thuế của trung ương là 25,5% trên thu nhập chịu thuế, còn thuế pháp nhân ở địa phương là  20,7% của khoản thuế pháp nhận ở trung ương; còn ở Hàn Quốc, thuế pháp nhân của NSTW là 22%, thuế thu nhập pháp nhân ở địa phương là 10% của khoản thuế pháp nhân ở trung ương[9]. Ở Trung Quốc, trước năm 2007 áp dụng Luật thuế TNDN được ban hành năm 1994 quy định thuế suất chung là 30%, ngoài ra quy định quyền đánh thuế của các địa phương với mức thuế suất 3%, theo đó, khi các địa phương khuyến khích đầu tư vào địa phương mình thì miễn đánh thuế TNDN ở địa phương. Có thể thấy, các quốc gia có căn cứ khác nhau trong xác định khoản thu thuế TNDN của mỗi cấp ngân sách, nhưng điều có thể tham khảo là mức ưu đãi thuế có thể được thực hiện bằng quyết định của chính quyền địa phương gắn với thực hiện quyền tự chủ tài chính ở  địa phương.

2. Về chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại…  

Theo Dự thảo sửa đổi Luật thuế TNDN, chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới, chi phí tiếp tân, khánh tiết, hội nghị, chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh... (gọi chung là chi phí quảng cáo) nếu muốn trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp thì phải không vượt quá 15% tổng số chi. Tuy nhiên, quy định này chưa đảm bảo công bằng khi áp dụng đánh đồng đối với các doanh nghiệp, không cân nhắc đến vị trí yếu thế của doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ và doanh nghiệp mới thành lập. Mặc dù theo thiết kế của Dự thảo, doanh nghiệp vừa và nhỏ mới thành lập, ngoài việc được áp dụng ưu đãi thuế trong địa bàn và lĩnh vực đầu tư theo Luật hiện hành, còn được hưởng thuế suất TNDN ưu đãi hơn so với thuế suất phổ thông, nhưng các quy định ưu đãi này không liên quan trực tiếp đến xác định chi phí được trừ. Có thể thấy, phương án xác định chi phí được trừ theo hướng điều chỉnh hợp lý phù hợp với chi phí thực tế về quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại… của doanh nghiệp bỏ ra, chưa được đề cập. Vấn đề vẫn tiếp tục tồn tại là doanh nghiệp chưa được khấu trừ hết chi phí sẽ tìm mọi cách để được trừ hết bằng cách gian lận hóa đơn chứng từ chi phí, còn doanh nghiệp không có cách nào điều chỉnh phù hợp với định mức khấu trừ thì phải chấp nhận chịu thiệt do thuế TNDN thực chất đánh vào lợi nhuận thực thu. Về vấn đề này, Ban soạn thảo cần phải đưa ra các phương án và đánh giá mức độ đảm bảo công bằng trong áp dụng đối với doanh nghiệp theo một số tiêu chí nhất định. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, tại Nghị định hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN 2007, chi phí khánh tiết liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh được khấu từ 60%/tổng chi phí, nhưng không được quá 0,5% doanh thu trong năm tài chính (Điều 42). Còn chi phí quảng cáo khấu trừ không quá 15% trong năm tài chính, phần vượt quá thì được khấu trừ sang năm sau, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của cơ quan thuế và cơ quan tài chính. Từ kinh nghiệm này, Dự thảo sửa đổi Luật thuế TNDN - bên cạnh phương án khấu trừ chi phí theo tỉ lệ %/tổng chi phí - cần đưa ra phương án khấu trừ chi phí/tổng doanh thu và đánh giá sự tác động đến việc đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp./.

 

 


[1]Trong các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hình thành do nhiều người góp vốn, thiết lập tổ chức kiểm tra giám sát tài chính trong nội bộ chặt chẽ có ý nghĩa kiểm soát hành vi gian lận trong các giao dịch vốn nói chung và gian lận thuế nói riêng. Các quy định của Luật thuế cũng chính là giới hạn đối chiếu để kiểm soát việc tuân thủ pháp luật bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu, người tiêu dùng.      

[2] Ở nước ta, vị trí của người tiêu dùng với tư cách là người nộp thuế ở mức độ nhất định chưa có tác động nhiều đến ý thức tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp. Việc người tiêu dùng không nhận hóa đơn bán lẻ để được mua hàng giá rẻ là  một trong những nguyên nhân dẫn tới sự tùy tiện của doanh nghiệp trong kê khai doanh thu bán hàng. 

[3] Trên thực tế, không ít các doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ và được các Chi cục thuế biểu dương hàng năm. Có doanh nghiệp cho rằng, “đóng thuế dù ít, dù nhiều cũng là để xây dựng đất nước, đóng thuế chính  là để duy trì sản xuất  kinh doanh, ích nước, lợi nhà” nên không bao giờ chậm nộp thuế và chưa xảy ra sai sót về hóa đơn chứng từ. 

[4] Thái Lan  giảm thuế suất từ 30% xuống 23% năm 2012.

[5]  Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật thuế TNDN tháng 3/2013, trang 3-5.

[6] Thanh Thanh Lan, “Chủ tịch Quốc hội muốn thuế thu nhập doanh nghiệp về 20%,” Báo điện tử Vietnamexpress;  ngày 18/3/2013.

 

[7] Trung Quốc quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng mức thuế suất 20% trong khi mức thuế suất phổ thông là 25%, Thái Lan quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng mức thuế suất 15% trong khi mức thuế suất phổ thông là 23%.

 

[9] Tham khảo tại 法人所得課税実行税率国際比較 日本財務省 4/2012 (So sánh quốc tế về  thuế suất thuế TNDN) Tài liệu của Bộ Tài chính Nhật Bản tháng 4/2012, tải từ: http://www.mof.go.jp/tax-policy/summary /corporation/084.htm (tiếng Nhật).

TS. Nguyễn Thị Lan Hương - Giảng viên Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai theo Hiến pháp 1992 và các vấn đề đặt ra (15/10/2013)
Chức năng kinh tế của chính quyền địa phương (04/10/2013)
Tự do cam kết, thỏa thuận và giới hạn đối với tự do cam kết, thỏa thuận - nhìn từ góc độ Hiến pháp (27/08/2013)
Xây dựng thể chế kinh tế thị trường bình đẳng trong sự thống nhất với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (23/07/2013)
Chế độ kinh tế trong Hiến pháp phải bảo đảm nền kinh tế vận hành hiệu quả và dựa trên nền tảng quyền con người (11/06/2013)
Trao đổi về một số nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (10/05/2013)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân