Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 28/05/2017, 22:08(GMT+7)
 
Khoa học - công nghệ, môi trường

Sự cần thiết xây dựng Luật phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam
Sự cần thiết xây dựng Luật phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam
Những tấm pin mặt trời đầu tiên xuất xưởng của Trung tâm Tiết kiệm năng lượng. Ảnh:VNN
Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam là vấn đề quan trọng và cấp thiết...

LTS: Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam là vấn đề quan trọng và cấp thiết đã và đang đặt ra ở nước ta. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, quy định liên quan đến vấn đề này nhưng các quy định này còn chưa thật đầy đủ, toàn diện, chưa thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và xu thế hội nhập quốc tế. Chưa kể, các quy định này còn rải rác trong nhiều văn bản, gây khó khăn cho quá trình vận dụng. Từ đó, một trong những yêu cầu đặt ra là cần thiết xây dựng một đạo luật về vấn đề này. Nhân dịp Kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa XII đang diễn ra, trong đó có nội dung xem xét, quyết định về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Tạp chí NCLP xin trân trọng giới thiệu bài viết về sự cần thiết xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ như một ý kiến đóng góp cho công tác lập pháp của Quốc hội.

1. Xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam nhằm tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng và Chính phủ ta rất quý trọng những người trí thức của dân, vì dân”; Người cũng căn dặn: “Kiến thiết cần có nhân tài… nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển thêm nhiều”.

Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng ta luôn chủ trương và đề ra nhiệm vụ nhằm không ngừng xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức. Ngay khi đất nước còn chiến tranh, Bộ Chính trị BCHTW Đảng khóa III (1960 - 1976) đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về đào tạo bồi dưỡng cán bộ, trong đó đã chỉ rõ: “Muốn học sinh giỏi vào các trường đại học, phải có kế hoạch phát triển và bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ lớp 7, lớp 8”. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Bộ Chính trị BCHTW Đảng (khóa IV) ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 20/4/1981 về Chính sách khoa học và kỹ thuật, khẳng định: “Trên cơ sở đảm bảo sự bình đẳng thực sự về quyền lợi học tập cho mọi người và phổ cập giáo dục cho toàn dân, cần quan tâm đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, những nhân tài của đất nước”…

Việc xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò quan trọng của tầng lớp trí thức trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Đặc biệt, việc quan tâm xây dựng Luật trong thời điểm hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng như: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 6/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 02/02/2009 của Hội nghị lần thứ 9 BCHTW Đảng khóa X về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng: “ Trong những năm trước mắt, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đã ban hành, xây dựng cơ chế, chính sách mới nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức; xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí thức đến năm 2020”; “Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo kịp thời thể chế hóa và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, xây dựng đội ngũ trí thức từ nay đến năm 2020, đồng thời rà soát hệ thống luật pháp và các văn bản liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới phù hợp với Nghị quyết”. “Tiếp tục phát huy dân chủ trong nghiên cứu khoa học. Phát triển thị trường khoa học - công nghệ. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học; gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục - đào tạo. Có chính sách, chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc tốt hơn cho cán bộ nghiên cứu khoa học, nhất là cán bộ đầu ngành, có trình độ cao”...

Việc Quốc hội quan tâm xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam là một trong những nội dung rất quan trọng nhằm triển khai chương trình hành động cụ thể, nhanh chóng đưa các Nghị quyết trên của Đảng vào cuộc sống.

2. Xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, những năm gần đây, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ được Nhà nước ban hành khá nhiều như: Luật Giáo dục; Luật Dạy nghề; Luật Khoa học và công nghệ; Luật Giao dịch điện tử; Luật Đa dạng sinh học, Luật Hóa chất; Luật Cán bộ, công chức… Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và công nghệ và các bộ, ngành, địa phương cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền nhằm tổ chức thực hiện, hướng dẫn thi hành các Luật nêu trên. Nhiều quy định của pháp luật hiện hành đã và đang phát huy tác dụng trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ…

Tuy nhiên, trong thực tế, một số quy định về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, phát triển nguồn nhân lực khoa học Việt Nam, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các nhà khoa học Việt Nam, chế độ, chính sách đối với họ... còn mang tính nguyên tắc chung và nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật; không ít quy định chưa đồng bộ mà còn chồng chéo, mâu thuẫn, khó thực hiện. Bên cạnh đó, vẫn còn thiếu không ít quy định cụ thể, có tính khả thi để các cấp, ngành, cơ quan tổ chức đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, thực hiện chính sách chế độ đãi ngộ đối với cán bộ khoa học và công nghệ…

Vì vậy, nghiên cứu, xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam không những không làm phức tạp, gây khó khăn, “gò bó”, “trói buộc” các nhà khoa học mà trái lại, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nêu trên; góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo sự đồng bộ, có hiệu quả, có tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật về việc đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong điều kiện hiện nay. Trên cơ sở đó, quy định cụ thể các chính sách, chế độ đãi ngộ phù hợp, nhằm khích lệ, động viên các nhà khoa học cống hiến nhiều hơn cho đất nước.

3. Xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam nhằm góp phần đáp ứng những yêu cầu thực tiễn đang đặt về nhu cầu nguồn nhân lực trong xây dựng và phát triển khoa học, công nghệ

Thực tiễn thi hành pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ những năm qua đem lại những thành tựu rất đáng trân trọng. Các ngành khoa học và công nghệ ngày càng được mở rộng và phát triển. Việc quan tâm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm (nhất là lĩnh vực công nghệ cao) đã và đang tạo ra những bước đột phá, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, việc tổ chức thi hành pháp luật về lĩnh vực này còn không ít khó khăn bất cập. Đó là tình trạng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những người có khả năng đặc biệt, nguồn nhân lực trẻ trong nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng khoa học, công nghệ… chưa được quan tâm đúng mức; việc trọng dụng, tạo môi trường làm việc thuận lợi cho các “thủ khoa”, các nhà khoa học nhiều nơi còn rất hạn chế; số lượng các nhà khoa học làm việc tại các phòng thí nghiệm, trường đại học, cơ sở nghiên cứu có nguy cơ ngày càng giảm; chất lượng hoạt động của nhiều cán bộ khoa học công nghệ chưa cao, không ít kết quả nghiên cứu của họ chỉ được lưu trữ, “xếp ngăn tủ” mà không được áp dụng trong thực tế; có sự lãng phí chất xám và hẫng hụt cán bộ khoa học phổ biến ở nhiều nơi do phần lớn cán bộ có trình độ cao đều đã lớn tuổi hoặc nghỉ hưu, trong khi đó không ít cán bộ khoa học và công nghệ chuyển đi làm việc khác hoặc bỏ nghề; thiếu sự gắn kết giữa nghiên cứu với ứng dụng, với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội ở từng cấp, từng ngành, địa phương; không ít người còn e ngại, né tránh những vấn đề phức tạp hoặc chưa rõ ràng trong thực tế; chưa có sự phối hợp đồng bộ hoặc chủ động hợp tác với nhau trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng và công bố kết quả nghiên cứu; các nhà khoa học là nữ, là người dân tộc thiểu số, làm việc ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn chiếm tỷ lệ rất thấp; nhiều nhà khoa học Việt Nam ở trong nước chưa được trọng dụng, đãi ngộ theo quy định hiện hành và tương ứng với những đóng góp, cống hiến của họ; hầu hết các nhà khoa học Việt Nam, Việt kiều ở nước ngoài chưa có điều kiện để có thể đóng góp nhiều hơn nữa đối với sự phát triển nền khoa học nước nhà; việc khen thưởng, tôn vinh các nhà khoa học Việt Nam nhìn chung còn nhiều hạn chế …

Nguyên nhân của thực trạng là do: hệ thống giáo dục và đào tạo của chúng ta mới chú trọng yếu tố “phổ thông” mà chưa coi trọng yếu tố phát hiện, bồi dưỡng “tài năng trẻ”, những người có khả năng đặc biệt ngay từ khi còn nhỏ tuổi; tổ chức bộ máy, hoạt động của nhiều cơ quan nghiên cứu - ứng dụng còn trùng lắp, chưa đồng bộ; thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị; đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ còn dàn trải, thiếu khoa học, không hiệu quả, nhiều nơi không chấp hành quy định mức đầu tư tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ; thiếu chiến lược đào tạo, quy hoạch và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ; chưa có chính sách quy định cụ thể nhằm phát huy tính hợp tác và phát huy dân chủ trong đội ngũ các nhà khoa học; chính sách đãi ngộ tôn vinh đối với các nhà khoa học (nhất là đối với các người có tài năng và trình độ cao, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài…) còn rất bất cập, nhiều quy định chưa thoả đáng, lạc hậu, chưa thực sự khuyến khích các nhà khoa học tâm huyết, có trình độ, say mê nghiên cứu, lao động sáng tạo, đóng góp cho đất nước...

Vì vậy, việc xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng, góp phần khắc phục những bất cập, tồn tại trong thực thi pháp luật hiện nay.

4. Xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam góp phần phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng những người có tài năng, các nhà khoa học trẻ, đồng thời tạo sự gắn kết các nhà khoa học trên các lĩnh vực, tạo cơ hội cho các nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước

Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 1999, Việt Nam có 1, 477 triệu người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên (tăng 117,9% so với năm 1989, bình quân tăng hằng năm 8,1%; cứ 10.000 dân có 193 người có trình độ từ cao đẳng trở lên), trong đó trình độ TS, PTS có 13.500 người (nữ: 14,49%); GS có 38,9%; PGS có 28,9%... Theo số liệu chưa đầy đủ, còn có khoảng hơn 300.000 người có trình độ từ đại học trở lên và là chuyên gia có kỹ thuật, tay nghề cao (chiếm 10-15%) cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó: ở Mỹ có khoảng 150.000 trí thức người Việt (riêng ở Silicon Valey có hơn 10.000 người Việt làm việc), ở Pháp khoảng 40.000 người, ở Canađa khoảng 20.000 người... Hầu hết các nhà khoa học Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đều băn khoăn về cơ chế, chính sách, chế độ hiện hành chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu, khả năng và nguyện vọng cống hiến của họ. Không ít người có trình độ cao, có học hàm học vị nhưng không thể toàn tâm toàn ý làm khoa học mà vẫn phải lo toan “cơm, áo, gạo, tiền”, lo “lấy ngắn nuôi dài”; điều kiện làm việc, nơi ăn chốn ở của nhiều nhà khoa học thực sự còn rất khó khăn...

Việc xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam Việt Nam sẽ góp phần phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, trọng dụng những người có tài năng, các nhà khoa học trẻ, đồng thời tạo sự gắn kết các nhà khoa học trên các lĩnh vực, tạo cơ hội cho lực lượng các nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước không ngừng lao động sáng tạo, cống hiến cho đất nước, thúc đẩy nền khoa học, công nghệ nước nhà phát triển hơn nữa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở đó, khuyến khích, ủng hộ, tạo cơ hội cho họ quan tâm nghiên cứu, đóng góp tích cực vào sự ổn định, phát triển chung của nhân loại, để các nước trong khu vực và quốc tế ghi nhận, đánh giá đúng tài năng của các nhà khoa học Việt Nam trong thế kỷ 21 và những năm tiếp theo.

Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam nếu được Quốc hội quan tâm, xây dựng sẽ góp phần rất quan trọng tạo cơ hội cho các nhà khoa học Việt Nam và nền khoa học Việt Nam hội nhập sâu hơn vào sự phát triển khoa học, công nghệ của khu vực cũng như thế giới hiện tại và tương lai.

5. Xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam vừa kế thừa được truyền thống trọng dụng nhân tài của đất nước, vừa phù hợp với xu thế chung của thể giới và khu vực, đáp ứng xu thế hội nhập hiện nay.

Từ xa xưa, cha ông ta đã luôn coi trọng và có chính sách trọng dụng nhân tài. Tấm văn bia đầu tiên (khoa thi năm 1442) tại Văn miếu Quốc Tử Giám (thủ đô Hà Nội) còn ghi rõ: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp kém. Vì thế, các bậc thánh Đế, minh Vương chẳng ai không coi việc kén chọn kẻ sĩ, bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí là công việc cần kíp. Bởi vì, kẻ sĩ có quan hệ trọng đại với quốc gia như thế, cho nên được quý chuộng không biết nhường nào”…

Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, tận dụng có hiệu quả những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, nhiều nước trong khu vực và thế giới đã có những bước phát triển mạnh, nâng tầm vị thế của họ trên trường quốc tế. Đó là: Hàn Quốc, Singapo, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, …. Ngoài việc Nhà nước có đường lối, chính sách đúng đắn về phát triển khoa học, công nghệ quốc gia, họ còn xây dựng các chương trình, chiến lược, quy định pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ và trọng dụng nhân tài, như: Nhật Bản có Luật số 64 ngày 18/7/1969 phát triển nguồn nhân lực; Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) có Chương trình phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ…

Là một thành viên của tổ chức ASEAN và tổ chức WTO, với xuất phát điểm là nước nông nghiệp còn nghèo nàn, lạc hậu, còn nhiều khó khăn, muốn phát triển kinh tế và hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra chủ trương: vừa phải quan tâm, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời vừa “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức”; “Thống nhất định hướng giữa phát triển khoa học và công nghệ với chấn hưng giáo dục và đào tạo, phát huy quan hệ tương tác thúc đẩy lẫn nhau giữa hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu này”; “Chú trọng công tác đào tạo, bổ sung cơ chế chính sách sử dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học” (Nghị quyết Đại hội X của Đảng). Vì vậy, xây dựng Luật Phát triển nguồn nhân lực khoa học Việt Nam vừa là sự kế thừa, phát huy truyền thống trọng dụng nhân tài của cha ông, vừa là sự học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm hay của các nước trong khu vực và quốc tế nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.

Ths Trần Thị Quốc Khánh - Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học-công nghệ và môi trường của Quốc hội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Vai trò và hoạt động của các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ, giám sát môi trường (17/10/2011)
Quyền sở hữu trí tuệ và quyền tiếp cận dược phẩm dưới góc độ quyền con người (20/09/2011)
Đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (10/05/2011)
Môi trường với quyền con người và vận dụng quyền con người trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam (23/06/2010)
Pháp luật về đa dạng sinh học: thực trạng và những tồn tại trước khi có Luật đa dạng sinh học (17/10/2008)
Trợ giúp lập pháp của IAEA trong xây dựng khung pháp luật hạt nhân (17/04/2008)
Cần pháp luật hoá giao dịch thương mại điện tử ở nước ta (11/04/2008)
Pháp luật về đa dạng sinh học: thực trạng và những tồn tại trước khi có Luật đa dạng sinh học (17/10/2008)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân