Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 25/05/2017, 08:34(GMT+7)
 
Khoa học - công nghệ, môi trường

Cần pháp luật hoá giao dịch thương mại điện tử ở nước ta
Cùng với sự ra đời của Internet, giao dịch thương mại điện tử cũng đã được hình thành và ngày càng trở nên phổ biến ở nước ta. Do đó, đòi hỏi Nhà nước cần nhanh chóng ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này, đảm bảo cho các giao dịch thương mại điện tử được an toàn cả về mặt kỹ thuật cũng như pháp lý.

 

                                                                               

                                                                            

Thực trạng về giao dịch thương mại điện tử

Hiện nay, các giao dịch điện tử nói chung và thương mại điện tử nói riêng đang phát triển nhanh chóng, có tác động mạnh và trở nên thông dụng trong giao thương quốc tế, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Canada, EU, Singapo, Thái Lan, Nhật Bản...

Những con số trên đã làm các nhà quản lý, các tổ chức kinh tế nước ta phải quan tâm, nhất là khi chúng ta đang chuẩn bị gia nhập WTO, thực hiện AFTA, hiệp định e -ASEAN và mở rộng hợp tác kinh tế với những thị trường lớn như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản...

Nắm bắt được xu hướng và thấy được sự tiện lợi trong các giao dịch điện tử (xem hộp 1), nhiều bộ, ngành, địa phương, nhiều tổ chức kinh tế nước ta đã từng bước đưa công nghệ thông tin vào phục vụ tác nghiệp, ứng dụng sâu rộng trong công tác quản lý và sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, việc chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này đã làm nảy sinh một số khó khăn, bất cập.

Một là, việc áp dụng kê khai thuế, khai báo hải quan qua mạng và các dịch vụ tiện ích của ngân hàng như: Internet Banking, Home Banking, Telephone Banking... chưa thể triển khai đến khách hàng như một dịch vụ hoàn chỉnh, bởi thời gian đầu thí điểm kê khai thuế, khai báo hải quan qua mạng, doanh nghiệp (DN) vẫn phải duy trì song song hình thức in hồ sơ ra giấy để đối chiếu do không có hệ thống chứng thực tính pháp lý, gây lãng phí thời gian và phiền toái cho các DN. Bên cạnh đó, các DN làm ăn chân chính, có nhu cầu đầu tư thiết thực còn băn khoăn về việc mua bán hàng hoá qua mạng có được xem là nhập khẩu, có được tính chi phí đầu vào hay không?

Hai là, đi liền với sự băn khoăn của các DN là sự lo lắng của cơ quan Nhà nước trong việc quản lý thuế nhập khẩu, thuế GTGT. Theo Bộ Bưu chính - Viễn thông, năm 2003, nhu cầu nhập khẩu phần mềm của nước ta khá lớn (tổng giá trị phần mềm nhập khẩu ước đạt 150 triệu USD, chắc chắn tới đây sẽ còn lớn hơn), bởi nhu cầu hiện đại hoá, tin học hoá của chúng ta còn rất lớn, mà năng lực sản xuất phần mềm của các DN trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu.  Trong khi đó, việc nhập khẩu phần mềm lại không khó khăn như nhập khẩu linh kiện điện tử, ô tô, xe máy… mà chỉ cần thông qua con đường Internet. Cách mua bán thuận tiện này sẽ khiến cho một số sản phẩm phần mềm nhập khẩu không thuộc diện miễn thuế có cơ hội trốn thuế, vì việc “vận chuyển” hàng hoá phần mềm nhập khẩu hiện nay vẫn chưa phải qua một “cửa khẩu” nào, gây thất thu cho Nhà nước, tạo ra sự bất bình đẳng trong việc cạnh tranh về giá trên thị trường, gây thiệt cho DN phần mềm trong nước...

Pháp luật hoá giao dịch thương mại điện tử

Năm 1996, Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về pháp luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL) đã ban hành luật mẫu về Thương mại Điện tử, và nhiều nước đã xây dựng văn bản pháp luật quốc gia dựa trên mẫu này. Điểm quan trọng của các văn bản pháp luật đó là thừa nhận thông điệp dữ liệu điện tử có các thuộc tính tương đương văn bản giấy, được tin cậy và có giá trị pháp lý (những thuộc tính căn bản nhất của một văn bản giấy bao gồm:

(i) Khả năng có thể đọc được.

(ii) Không bị thay đổi nội dung theo thời gian.

(iii) Cho phép tái tạo tài liệu sao cho mỗi bên đều có bản sao của tài liệu ban đầu.

(iv) Cho phép xác thực tài liệu bằng chữ ký.

(v) Được cơ quan Nhà nước và Toà án chấp nhận).

Chúng ta hãy lấy ví dụ trên để xem thư điện tử có đáp ứng được những thuộc tính của văn bản giấy hay không. ở đây, cả A và B đều đọc được nội dung thư điện tử của nhau, vậy thuộc tính thứ nhất được đáp ứng. Để thực hiện giao dịch điện tử, cả A và B đều sử dụng phần mềm cho phép tạo và giải mã các dữ liệu, qua đó nhận dạng người gửi và chứng minh người gửi đã chấp nhận nội dung thư. Trên thư điện tử, người gửi “ký” vào thư và gửi cho người nhận. Hành vi “ký” điện tử cho biết người ký là ai và chứng minh được người đó đã chấp nhận nội dung thư. Có nghĩa, A không thể từ chối việc gửi thư với nội dung xác định cho B và ngược lại. Như vậy là đáp ứng các thuộc tính thứ hai và thứ tư. A và B có nhiều cách lưu giữ an toàn tất cả thư điện tử của quá trình giao dịch và xuất trình khi cần thiết, tức là đã thoả mãn thuộc tính thứ ba. Cuối cùng, khi xảy ra tranh chấp, A hoặc B được phép sử dụng các thư điện tử trên để yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc Toà án bảo vệ quyền lợi của mình, thuộc tính thứ năm được thoả mãn.

Như vậy, một thông điệp điện tử hoàn toàn có thể tương đương một văn bản giấy ở cả khía cạnh kỹ thuật và pháp lý. Vấn đề là, cần phải thừa nhận những thuộc tính này trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Ở nước ta, Nghị quyết số 21 (ngày 26/11/2003), Quốc hội khoá XI, đã bổ sung dự án Luật Giao dịch điện tử (GDĐT) vào chương trình làm luật giai đoạn 2002– 2007. Theo đó, Luật GDĐT đang được khẩn trương hoàn thành để áp dụng vào cuối năm 2005, đầu năm 2006. Bên cạnh Luật GDĐTmột khía cạnh kỹ thuật đóng vai trò không thể thiếu trong các loại giao dịch điện tử là chứng thực điện tử (chứng thực điện tử là kỹ thuật nhằm chứng thực danh tính của người tham gia gửi và nhận thông tin qua mạng, chứng thực nguồn gốc và nội dung thông tin giao dịch) cũng đang được chú ý xây dựng cơ sở pháp lý thông qua các văn bản pháp luật khác, đó là Pháp lệnh Thương mại Điện tử (do Bộ Thương mại chủ trì) và Nghị định của Chính phủ quy định việc nghiên cứu, sản xuất và sử dụng mật mã không thuộc phạm vi bí mật nhà nước (do Ban cơ yếu Chính phủ chủ trì).

Qua các cuộc hội thảo gần đây, không ít ý kiến cho rằng, nên gộp dự thảo Pháp lệnh Thương mại Điện tử và Luật GDĐT để trình Quốc hội thông qua vào cuối năm 2005. Trước mắt, để giải quyết những bức xúc, nên ban hành pháp lệnh, bởi nếu tiếp tục chờ đến khi ra luật thì cơ sở pháp lý cho các GDĐT sẽ còn bỏ ngỏ thêm vài năm nữa, và các nhà đầu tư trong lĩnh vực này sẽ không dám mạnh dạn xúc tiến đầu tư. Nhiều DN cũng cho rằng, việc sớm có cơ sở pháp lý trong giao dịch điện tử không những sẽ thúc đẩy các công ty có hoạt động giao dịch thương mại qua mạng điện tử, các siêu thị điện tử bung ra làm ăn, mà còn tạo điều kiện cho những hoạt động có liên quan đến thủ tục hành chính như: đăng ký chứng chỉ ISO, cấp phép kinh doanh, kê khai thuế, khai báo hải quan qua mạng... có cơ sở để phát triển mạnh hơn. Chúng tôi tán thành với những ý kiến trên.

Giao dịch thì không thể không nói đến chữ ký. Đối với giao dịch truyền thống, chữ ký “tay” là phương tiện phổ biến để ghi nhận tính xác thực của thông tin trong văn bản giấy. Còn chữ ký điện tử là “dữ liệu nằm trong, gắn vào hoặc kết hợp một cách hợp lý với thông điệp dữ liệu đó, đồng thời chỉ ra sự chấp thuận của các bên đối với những thông tin trong dữ liệu”. Để có sự tương ứng, chữ ký điện tử vẫn phải có hai chức năng như chữ ký “tay”, đó là: xác nhận nội dung văn bản và sự đồng ý của người lập nội dung đó. Vì vậy, đối với các giao dịch mà pháp luật không yêu cầu lập thành văn bản hay phải lập thành văn bản nhưng không cần công chứng, thì chữ ký điện tử có thể tương đương như chữ ký “thường”. Song, đối với những giao dịch mà pháp luật đòi hỏi phải lập thành văn bản có công chứng thì, chữ ký điện tử như khái niệm nêu trên sẽ không còn đáp ứng được các yêu cầu của luật mà phải viện dẫn đến chữ ký an toàn (chữ ký an toàn là một dạng chữ ký điện tử, nhưng đòi hỏi phải thoả mãn những điều kiện sau: chỉ gắn duy nhất với một chữ ký, cho phép xác định được người ký, được tạo ra bằng những phương tiện mà người ký có thể giữ dưới sự kiểm soát độc quyền của mình, mọi thay đổi đối với thông tin sau thời điểm ký có thể bị phát hiện). Như vậy, với loại chữ ký này, phải có “chứng thực điện tử”  mới có giá trị.

Theo ông Nguyễn Minh Dân (Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Bưu chính – Viễn thông) thì, sau khi Luật GDĐT được ban hành, một hệ thống quản lý và cung cấp chứng thực điện tử sẽ phải được hình thành: Thứ nhất, cơ quan cấp chứng thực gốc với nhiệm vụ cấp chứng chỉ số cho các cơ quan chứng thực. Thứ hai, các cơ quan chứng thực chuyên cung cấp chứng chỉ số cho người sử dụng. Thứ ba, cơ quan đăng ký là những đơn vị được cơ quan chứng thực uỷ quyền cấp chứng chỉ số cho người sử dụng.                                          

Cũng theo ông Dân, hiện nước ta đã tham khảo được một số tiêu chuẩn quốc tế về chứng thực điện tử ở các nước, song vẫn chưa quyết định chọn một phương thức nào, vì cần phải cân nhắc giữa việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế hay tự xây dựng tiêu chuẩn riêng. Bên cạnh đó, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đang bản thảo về việc đưa ra chứng chỉ số hay chương trình mã hoá trước; hoặc tiến hành việc đưa đồng thời cả hai yếu tố này. Hiện nay, do Luật GDĐT và Pháp lệnh TMĐT chưa ban hành nên chưa thể thực hiện hoàn chỉnh hệ thống chứng thực điện tử. Chính phủ đang giao cho Bộ Bưu chính – Viễn thông chủ trì soạn thảo nghị định về chữ ký số và dịch vụ chứng thực điện tử. Theo kinh nghiệm của một số nước, số lượng đơn vị cấp chứng thực điện tử thường từ khoảng 3 - 6 đơn vị, như Hàn Quốc đã cấp phép cho 6 công ty và Malaysia có 3 công ty cấp chứng thực cho người sử dụng. Việc tính toán số lượng các đơn vị cấp chứng thực liên quan đến sự đồng bộ trong việc chứng thực chéo giữa các công ty cấp chứng thực. Đây cũng là vấn đề mà Việt Nam đang tìm hiểu, vì chứng thực chéo là điều bắt buộc khi chúng ta hội nhập quốc tế. /.

 

(Bài viết đăng trên TCNCLP số 49 tháng 2/2005)

 

Trọng Bảo
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Vai trò và hoạt động của các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ, giám sát môi trường (17/10/2011)
Quyền sở hữu trí tuệ và quyền tiếp cận dược phẩm dưới góc độ quyền con người (20/09/2011)
Đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (10/05/2011)
Môi trường với quyền con người và vận dụng quyền con người trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam (23/06/2010)
Sự cần thiết xây dựng Luật phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam (09/06/2009)
Pháp luật về đa dạng sinh học: thực trạng và những tồn tại trước khi có Luật đa dạng sinh học (17/10/2008)
Trợ giúp lập pháp của IAEA trong xây dựng khung pháp luật hạt nhân (17/04/2008)
Pháp luật về đa dạng sinh học: thực trạng và những tồn tại trước khi có Luật đa dạng sinh học (17/10/2008)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân