Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 12/02/2012, 17:30(GMT+7)
 
Hành chính - hình sự - tư pháp

Tư pháp phục hồi trong việc xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật
“Tư pháp phục hồi” (restorative justice) là một cách tiếp cận tư pháp của quốc tế trong xử lý vi phạm...

 

                                                                                               

 

“Tư pháp phục hồi” (restorative justice) là một cách tiếp cận tư pháp của quốc tế trong xử lý vi phạm pháp luật của người chưa thành niên, trong đó nhấn mạnh khía cạnh giải quyết hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, chứ không chỉ nhằm trừng phạt người vi phạm. Quá trình tư pháp phục hồi là quá trình trong đó người bị hại, người vi phạm chưa thành niên và các thành viên đại diện cộng đồng bị ảnh hưởng do hành vi của người vi phạm gây ra cùng nhau tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh do hành vi vi phạm gây ra. Những người này có thể tham gia xác định các nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến hành vi sai trái của người vi phạm và lập ra một kế hoạch giúp người vi phạm vừa sửa chữa hành vi sai trái của mình, nhằm mục đích giảm nguy cơ người chưa thành niên tái phạm. Quá trình này thường có sự hỗ trợ của một người trung gian.

1. Kinh nghiệm quốc tế về tư pháp phục hồi

Các nguyên tắc tư pháp phục hồi của quốc tế hiện nay được xây dựng dựa trên những nhận thức cơ bản sau:

o          Vi phạm pháp luật là hành vi chống lại con người hoặc cộng đồng chứ không phải là chống lại “Nhà nước”. Vì vậy, cần có sự tham gia của nạn nhân, cộng đồng trong quá trình giải quyết, xử lý vi phạm.

o          Vi phạm pháp luật không những gây tổn hại cho nạn nhân, cộng đồng mà còn gây tổn hại cho ngay chính bản thân người vi phạm, làm phát sinh trách nhiệm phải sửa chữa sai phạm của bản thân họ.

o          Tất cả các bên: người chưa thành niên phạm pháp, gia đình họ, cộng đồng, nạn nhân (nếu họ muốn)... tham gia vào quá trình xử lý người vi phạm.

o          Khôi phục hoặc sửa chữa thiệt hại, xây dựng mối quan hệ thân thiện với cộng đồng thay cho việc áp dụng hình phạt là mục tiêu cơ bản của công lý.

Tư pháp phục hồi có thể áp dụng thay thế hoặc bổ sung cho hệ thống tư pháp chính thức vào bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng:

Tư pháp phục hồi như là biện pháp thay thế cho hệ thống chính thức (trước hoặc sau khởi tố):

- Do cảnh sát áp dụng, thay cho việc áp dụng chế tài hành chính hoặc khởi tố hình sự.

- Do điều tra viên hoặc công tố viên áp dụng, thay thế cho việc tiếp tục áp dụng những thủ tục tố tụng đối với vụ án đã được khởi tố (đình chỉ vụ án và miễn trách nhiệm hình sự)

- Do toà án áp dụng, để hỗ trợ thẩm phán lựa chọn chế tài thích hợp nhất.

Tư pháp phục hồi áp dụng sau khi đã áp dụng chế tài đưa vào trường giáo dưỡng hoặc phạt tù:

- Do người có thẩm quyền trong cơ sở tập trung áp dụng, để hỗ trợ cho việc xây dựng một kế hoạch trước khi trả tự do và giúp người chưa thành niên hoà giải với nạn nhân, cộng đồng.

- Do người có thẩm quyền tại địa phương áp dụng để giúp đỡ việc xây dựng kế hoạch tái hoà nhập cho người chưa thành niên sau khi được trả tự do.

Trên thế giới hiện có nhiều mô hình, chương trình tư pháp phục hồi, nhưng tựu trung có một số mô hình cơ bản sau:

Hoà giải dựa vào cộng đồng

Một trong những hình thức tư pháp phục hồi ra đời sớm nhất được xây dựng phù hợp với nhu cầu của các nạn nhân đồng thời đảm bảo người vi phạm phải có trách nhiệm với hành vi của mình là mô hình hoà giải giữa nạn nhân và người vi phạm (gọi tắt là VOM). Các chương trình VOM có thể do các cơ quan nhà nước hoặc có thể do các tổ chức phi chính phủ thực hiện và thường chỉ áp dụng cho các vi phạm ít nghiêm trọng. Các trường hợp này thường do công an, toà án và các cán bộ hỗ trợ phạm nhân ra quyết định chuyển tuyến từ xử lý chính thức ra xử lý bằng chương trình hoà giải (xử lý chuyển hướng – diversion). Các chương trình này có thể được áp dụng cả trước và sau thời điểm khởi tố, và trước khi xét xử với sự tham gia tự nguyện của nạn nhân và người vi phạm, hoặc cũng có thể được áp dụng ngay trước khi tuyên phạt người chưa thành niên nhằm đánh giá và đưa ra những tham mưu, khuyến nghị về mức độ xử phạt. Khi được áp dụng trước khi xử phạt, kết quả của quá trình hoà giải thường được báo cáo lại cho cơ quan kiểm sát hoặc thẩm phán để cân nhắc xem xét. Quá trình hoà giải giữa nạn nhân - người vi phạm cũng có thể được áp dụng trong quá trình xử phạt người vi phạm như là một phần của quá trình phục hồi của người đó.

Xử lý chuyển hướng do cảnh sát áp dụng

Xử lý chuyển hướng dựa vào lực lượng cảnh sát là khi các cán bộ công an ra quyết định chuyển tuyến xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật (NCTNVPPL) ra khỏi hệ thống tư pháp chính thức trước khi người đó bị đề nghị khởi tố. Mục đích của các chương trình xử lý chuyển hướng dựa vào lực lượng công an là hỗ trợ người chưa thành niên để giúp họ không tiếp tục vi phạm pháp luật trong tương lai. Các chương trình xử lý chuyển hướng dựa vào lực lượng công an sẽ giúp các cán bộ công an có cơ hội thực hành thẩm quyền tự quyết (discretion) và xây dựng các biện pháp can thiệp[2] sáng tạo đối với NCTNVPPL. Các chương trình này có thể được đặt tại Phòng chuyên trách người chưa thành niên của các Sở cảnh sát hoặc tại cộng đồng. Trong nhiều thể chế tư pháp trên thế giới, pháp luật quy định các vụ án có NCTNVPPL chỉ được giải quyết ở cấp Sở cảnh sát và chỉ được chuyển lên các bước tiếp theo của trình tự tư pháp khi tất cả các bước trước đã được áp dụng và không đạt kết quả. Và chỉ những người tái phạm rất nhiều lần, thực sự cần phải quản lý tập trung có thời hạn, mới phải ra trước toà.

Xử lý chuyển hướng do kiểm sát viên áp dụng

Các chương trình xử lý chuyển hướng có thể được áp dụng trong quá trình truy tố người chưa thành niên phạm pháp. Chúng ta có thể tham khảo một ví dụ điển hình là chương trình hiện đang được Phòng công tố Stearns County, bang Minnesota (Hoa Kỳ) vận hành. Trong chương trình này, người chưa thành niên phạm pháp có cơ hội tránh bị xét xử, kết án và chương trình này được coi là một sáng kiến giúp người chưa thành niên sửa đổi thái độ, hành vi của mình, bồi thường thiệt hại cho nạn nhân và trong một số trường hợp, chấp hành biện pháp xử lý.

Người chưa thành niên vi phạm sẽ ký một bản thoả ước cam kết tham gia chương trình xử lý chuyển hướng bao gồm tham gia vào các cuộc xét nghiệm, đánh giá tình trạng nghiện ma tuý/rượu, các chương trình tham vấn, xử lý, giáo dục nhằm thúc đẩy việc chịu trách nhiệm về hành vi của mình, viết bản kiểm điểm và lời xin lỗi, đền bù, bồi thường cho nạn nhân, tham gia đánh giá ảnh hưởng đối với nạn nhân, các biện pháp tư pháp phục hồi và lao động công ích. Mục tiêu chủ chốt là giúp người chưa thành niên phạm pháp nhận thức đầy đủ những thiệt hại mà họ gây ra cho nạn nhân và cộng đồng.

Xử lý chuyển hướng do toà án áp dụng

Xử lý chuyển hướng trong giai đoạn xét xử bao gồm hai hình thức chính. Toà án có thể ra quyết định chuyển người chưa thành niên tới chương trình xử lý thay thế khi người chưa thành niên thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình hoặc ít nhất không phủ nhận. Trong trường hợp đó, toà án có thể yêu cầu người chưa thành niên đó quay trở lại toà vào một thời gian khác để tiến hành các thủ tục tiếp theo hoặc có thể không. Hình thức xử lý chuyển thứ hai là toà ra quyết định cho người chưa thành niên hoãn thi hành hình phạt và yêu cầu họ tham gia vào một chương trình giáo dục hoặc phục hồi. Loại hình thứ hai này nói một cách chặt chẽ thì không phải là một hình thức chuyển hướng vì người chưa thành niên đã phải trải qua toàn bộ quy trình tố tụng chính thức, bị kết luận là có tội và bị ghi án tích.

2. Luật pháp, thực tiễn Việt Nam về tư pháp phục hồi

Ở Việt Nam, tư pháp phục hồi là một vấn đề còn rất mới. Thuật ngữ tư pháp phục hồi hiện chưa được sử dụng trong pháp luật Việt Nam, hay nói cách khác, tư pháp phục hồi chưa được nhìn nhận như một phương pháp giải quyết các vi phạm pháp luật của người chưa thành niên, mặc dù trong hệ thống pháp luật và thực tiễn Việt Nam đã áp dụng những hình thái nhất định của tư pháp phục hồi. Những yếu tố của tư pháp phục hồi ở Việt Nam có thể tìm thấy trong các mô hình giải quyết các tranh chấp và các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

·           Tổ Hòa giải cơ sở (hòa giải các tranh chấp và các vi phạm pháp luật nhỏ trong cộng đồng dân cư, thúc đẩy giải quyết mối quan hệ giữa người vi phạm và người bị thiệt hại).

·           Phê bình, góp ý người có hành vi vi phạm nhỏ (ví dụ say rượu, gây rối, đánh nhau…) tại cuộc họp Tổ dân phố, họp thôn xóm.

·           Các hình thức xử lý của Nhà trường đối với học sinh vi phạm như cảnh cáo tại trường, họp giữa thày cô chủ nhiệm với cha mẹ học sinh, họp Ban Phụ huynh học sinh…

·           Phê bình, góp ý người chưa thành niên vi phạm tại Đội Thiếu niên tiền phong, Đoàn Thanh niên…

·           Sự tham gia của Trưởng tộc, dòng họ trong giải quyết tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, dòng tộc…

Nhìn chung, các mô hình trên chỉ áp dụng trong giải quyết các vi phạm nhỏ của người chưa thành niên, chưa đến mức xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự.

Trong việc xử lý chính thức gồm xử lý hành chính và xử lý hình sự, những dấu hiệu của tư pháp phục hồi cũng có thể tìm thấy, tuy còn mờ nhạt. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính có một số quy định cho phép nạn nhân, người vi phạm tham gia vào quá trình giải quyết vi phạm, tuy nhiên, những quy định này mang tính thủ tục nhiều hơn là tạo điều kiện cho nạn nhân (người bị thiệt hại) và người vi phạm cùng tham gia giải quyết vi phạm mà vai trò giải quyết vi phạm chính ở đây là cơ quan nhà nước.

Cộng đồng dân cư và các tổ chức xã hội khác cũng có vai trò nhất định trong quá trình xử lý vi phạm hành chính của người chưa thành niên như tham gia vào quá trình xem xét, ra quyết định áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng; tham gia giáo dục, giúp đỡ người vi phạm tại cộng đồng v.v..

Trong  xử lý hình sự, tư tưởng động viên mọi thành tố xã hội tham gia vào việc phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm của người chưa thành niên nói riêng đã được thể hiện trong pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam (xem Điều 4 BLHS). Tuy nhiên, khái niệm tư pháp phục hồi không được sử dụng trong pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam. Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự cũng chỉ có rất ít quy định về sự tham gia của nạn nhân và các thành tố xã hội khác trong việc xử lý hình sự đối với NCTNVPPL.

Theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự hiện hành, nạn nhân có thể tham gia vào việc xử lý, giáo dục, phục hồi đối với NCTNVPPL dưới hai hình thức. Thứ nhất, đối với những trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nạn nhân có thể yêu cầu khởi tố hình sự đối với NCTNVPPL hoặc thương lượng, hoà giải giữa hai bên. Thứ hai, trong trường hợp người chưa thành niên bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nạn nhân có thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và đề xuất chế tài đối với người chưa thành niên.    

Cộng đồng dân cư chủ yếu tham gia vào việc thi hành các chế tài không giam giữ như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, cải tạo không giam giữ; giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội được hưởng án treo…

Ngoài cộng đồng dân cư và nạn nhân, những cơ quan, tổ chức như Ủy ban nhân dân cấp xã, các cơ sở giáo dục, đào tạo, doanh nghiệp nơi người chưa thành niên phạm tội đang cư trú, học tập, làm việc… có thể tham gia vào việc (1) giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên  phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây hại không lớn, được miễn trách nhiệm hình sự, (2) quản lý người chưa thành niên được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, (3) thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, hình phạt tù cho hưởng án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự.

3. Một số nhận xét và kiến nghị

Nhìn chung, có thể thấy, tư pháp phục hồi là vấn đề mới ở Việt Nam, pháp luật Việt Nam chưa có khái niệm về tư pháp phục hồi cũng như cũng chưa có các mô hình, chương trình chính thức về tư pháp phục hồi. Tuy vậy, những nguyên tắc, yếu tố nhất định của tư pháp phục hồi đã được thừa nhận và áp dụng trong thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở Việt Nam. Điều này cho thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam đã chú ý đến sự cần thiết của các yếu tố “phục hồi” bên cạnh yếu tố “xử lý” đối với các hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên.

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, tư pháp phục hồi là một cách tiếp cận tiến bộ trong việc xử lý, giáo dục, phục hồi đối với NCTNVPPL. Mục đích của tư pháp phục hồi là giúp người chưa thành niên hiểu rõ hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra đối với cộng đồng và chấp nhận sửa chữa sai lầm đó. Qua đó, tư pháp phục hồi có thể tác động đến người chưa thành niên người chưa thành niên để họ thay đổi một cách thực sự và lâu dài, giảm tỷ lệ tái phạm của NCTNVPPL. Đồng thời, sự tham gia của người bị hại và đại diện cộng đồng có thể sẽ giúp tăng cường quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng và hỗ trợ quá trình phát triển năng lực dựa vào cộng đồng cho NCTNVPPL. Cách tiếp cận này nhìn chung phù hợp với yêu cầu và định hướng chính sách xử lý vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở Việt Nam.

Việt Nam có một truyền thống khá mạnh mẽ về việc cộng đồng tham gia vào giải quyết các công việc chung, nhưng đáng tiếc là truyền thống này lại chưa thực sự được khai thác triệt để để phục vụ việc xử lý NCTNVPPL tại cộng đồng. Trên thực tế hiện nay, khi hành vi vi phạm của người chưa thành niên được giải quyết thông qua các biện pháp không chính thức hoặc các chế tài không giam giữ (giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong hệ thống xử lý hành chính và hình sự, án treo…), người chưa thành niên đó thường chỉ nhận được những dịch vụ hỗ trợ rất hạn chế. Sự giám sát của các cơ quan tổ chức hữu quan thường chỉ mang tính chất hình thức trong khi còn thiếu rất nhiều những hỗ trợ để ngăn ngừa người chưa thành niên tái phạm. Mặc dù rất nhiều các yếu tố nguy cơ đã được xác định là nguyên nhân góp phần dẫn đến hành vi vi phạm của người chưa thành niên nhưng những nỗ lực tập trung giải quyết những yếu tố nguy cơ này thông qua việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ như tham vấn, kèm cặp, tập huấn kỹ năng sống, dạy nghề, đi học trở lại… hiện vẫn còn rất hạn chế. Do đó, tỷ lệ tái phạm trong người chưa thành niên bị áp dụng giám sát tại cộng đồng hiện nay là tương đối cao.

Để tăng cường hiệu quả xử lý, giáo dục, phục hồi, tái hoà nhập đối với NCTNVPPL, trong thời gian tới cần nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng sau:

- Các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu khả năng thừa nhận một cách chính thức việc áp dụng tư pháp phục hồi ở Việt Nam và tạo cơ sở pháp lý cho vấn đề này. Trước mắt, cần nghiên cứu để quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự sửa đổi, Luật Thi hành án hình sự - hiện đang trong quá trình xây dựng. Việc áp dụng các chương trình tư pháp phục hồi phải gắn liền với việc xây dựng cơ sở pháp lý cho khả năng áp dụng xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL (chuyển tuyến NCTNVPPL ra khỏi hệ thống xử lý chính thức để xử lý bằng các biện pháp phi chính thức); tạo ra một khuôn khổ trong đó các cơ quan hữu quan (công an, thẩm phán…) được trao thẩm quyền tự quyết (discretion), tức là quyền quyết định áp dụng các biện pháp mang tính thay thế các biện pháp xử lý chính thức để giáo dục NCTNVPPL trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định; xây dựng cơ chế hữu hiệu và thiết thực hơn để động viên toàn thể cộng đồng và các thành tố xã hội khác tham gia vào việc giáo dục, cảm hoá NCTNVPPL.

- Pháp luật về hòa giải ở cơ sở cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng hòa giải đối với các vi phạm pháp luật của người chưa thành niên trong những trường hợp cần thiết và có tác dụng, không nên chỉ giới hạn phạm vi hòa giải ở những vi phạm pháp luật chưa đến mức hành chính hoặc hình sự như hiện nay. Cần phân biệt việc hoà giải giữa nạn nhân và NCTNVPPL với việc hoà giải các tranh chấp khác và có quy trình riêng cho biện pháp hòa giải loại này, nhằm bảo đảm có thể đưa ra được các kết quả hoà giải mang tính phục hồi, giúp cho NCTNVPPL tự nhận thấy sai phạm và tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục các nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật nhằm ngăn ngừa các nguy cơ vi phạm trong tương lai.

- Pháp luật về xử lý hành chính cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo điều kiện và mở rộng sự tham gia của nạn nhân, người vi phạm, cộng đồng dân cư và các thành tố xã hội khác trong quá trình xử lý người vi phạm, đặc biệt trong việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn. Nghiên cứu, hạn chế áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với NCTNVPPL mà thay bằng các biện pháp giáo dục, hòa giải tại cộng đồng.

- Mở rộng việc áp dụng các chế tài không giam giữ mang tính phục hồi đối với NCTNVPPL. Ngoài việc tăng cường các điều khoản về xử lý chuyển hướng, nên sửa đổi Bộ luật Hình sự theo hướng trao quyền tự quyết rộng rãi hơn cho các thẩm phán trong việc áp dụng các chế tài không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội như mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ… Khi Toà án áp dụng các biện pháp tư pháp, có thể quy định theo hướng ưu tiên áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn so với biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng để tạo cơ hội cho người chưa thành niên phạm tội được giám sát, giáo dục tại cộng đồng; sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định tạo điều kiện để cộng đồng dân cư và các thành tố xã hội khác tham gia một cách hiệu quả vào việc giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội bị giáo dục tại cộng đồng.

- Cần có kế hoạch xây dựng và phát triển các chương trình dịch vụ nhằm cung cấp các biện pháp can thiệp, giải quyết nguyên nhân và điều kiện phát sinh vi phạm pháp luật; xây dựng và đào tạo tăng cường năng lực cho các cán bộ làm trong ngành công an, kiểm sát, tòa án và cán bộ cộng đồng (hòa giải viên, cán bộ xã hội…) để có thể thực hiện có hiệu quả, đúng mục đích các chương trình tư pháp phục hồi đối với NCTNVPPL.

[2] Để giúp người chưa thành niên nhận thức được lỗi lầm của mình đồng thời khắc phục những yếu tố nguy cơ dẫn đến việc phạm tội, các chương trình tư pháp phục hồi của các nước thường kèm theo các biện pháp can thiệp nhất định như buộc xin lỗi, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho nạn nhân, lao động công ích, buộc tham gia một số khoá giáo dục kỹ năng sống, các chương trình tham vấn, buộc phải thường xuyên có mặt tại nhà trong những thời gian nhất định (cufew) v.v..  

Ths. Đỗ Hoàng Yến
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Thay đổi trong quan điểm chỉ đạo của Đảng về tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự (07/09/2011)
Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước (28/06/2011)
Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (26/05/2011)
Đổi mới cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ (05/05/2011)
Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (07/03/2011)
Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (09/02/2011)
Mục đích và nguyên tắc thực hiện đặc xá (01/10/2010)
Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (09/02/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân