Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 28/05/2017, 22:12(GMT+7)
 
Hành chính - hình sự - tư pháp

Thay đổi trong quan điểm chỉ đạo của Đảng về tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự

Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra (Kết luận 79) theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết 49) tiếp tục thể hiện các quan điểm nhất quán của Đảng về cải cách tư pháp. Tuy nhiên, từ Nghị quyết 49 đến Kết luận 79 của Bộ Chính trị đã có những điều chỉnh, những thay đổi quan trọng liên quan đến công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, đòi hỏi các ngành Kiểm sát và Toà án cần có sự quán triệt và nghiên cứu thực hiện cho đúng đắn.

Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành thì Tòa Hình sự TAND tối cao có nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Quân sự trung ương, Tòa Hình sự TAND tối cao và các Tòa Phúc thẩm TAND tối cao.

Nghị quyết 49 có nêu “tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và sơ thẩm một số vụ án; Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực, có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; TAND tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”.

Theo Nghị quyết 49, hệ thống Tòa án các cấp bao gồm (1) Tòa án sơ thẩm khu vực, (2) Tòa án phúc thẩm, (3) Tòa thượng thẩm, (4) TAND tối cao. Nhiệm vụ của TAND tối cao là xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, ngoài ra có nhiệm vụ nữa là tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ.

Theo tinh thần nêu trên của Nghị quyết 49 thì nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự hiện nay của Tòa án cấp tỉnh sẽ không còn nữa. Trong khi đó, nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND tối cao vẫn được giữ nguyên. Điều đó có nghĩa là tất cả các trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, từ cấp sơ thẩm khu vực, cấp phúc thẩm, cấp thượng thẩm sẽ dồn hết về Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) tối cao và TAND tối cao.

Ngay trong điều kiện hiện tại thì Viện KSND tối cao và TAND tối cao đã ở trong tình trạng quá tải khi giải quyết các trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự phải thụ lý, giải quyết. Qua theo dõi hàng năm, Viện KSND tối cao thụ lý khoảng 1000 trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự. Số án giải quyết được chỉ khoảng 500 đến 600 vụ, tức đạt khoảng 50 đến 60%. Như vậy, số vụ án đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tồn lại hàng năm khoảng 40 đến 50%. Tính trong phạm vi nhiều năm, thì số án tồn qua các năm càng ngày càng lớn, năm này tồn sang năm sau, năm sau lại tồn qua năm sau nữa. Nếu theo Nghị quyết 49, hai cơ quan này lại phải thụ lý, giải quyết thêm các trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khu vực (tức cấp huyện hiện nay), thì chắc chắn tình trạng quá tải sẽ trở nên trầm trọng hơn, nếu không có một giải pháp cơ bản nào để chủ động xử lý tình hình.

Chính vì vậy, đã có một sự thay đổi quan trọng trong quan điểm chỉ đạo của Trung ương Đảng về vấn đề này. Sự thay đổi đó đến từ Kết luận 79, Kết luận này vẫn khẳng định việc đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra cơ bản theo Nghị quyết 49 với bốn cấp Tòa án, song đã có một số điều chỉnh và một trong những điều chỉnh đáng chú ý có liên quan đến công tác xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự. Bốn cấp Tòa án theo Kết luận 79 là: (1) TAND sơ thẩm khu vực (không gọi là Tòa án sơ thẩm khu vực như Nghị quyết 49); (2) TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (không gọi là Tòa án phúc thẩm); (3) TAND cấp cao (không gọi là Tòa án thượng thẩm); (4) TAND tối cao. Theo Kết luận 79, nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự không chỉ giao cho TAND tối cao như Nghị quyết 49 nữa mà giao cho hai cấp Tòa án, đó là TAND cấp cao và TAND tối cao. Trong đó, TAND cấp cao “giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại kháng nghị”, TAND tối cao “xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, được tổ chức tinh gọn, với số lượng thẩm phán từ 13 đến 17 người”.

Như vậy, TAND tối cao sẽ chủ yếu giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao và tương đương trở lên; TAND cấp cao có nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TAND sơ thẩm khu vực và TAND cấp tỉnh.

Kết luận 79 cũng khẳng định “Tổ chức hệ thống Viện KSND gồm bốn cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của TAND”, cụ thể là: (1) Viện KSND khu vực, (2) Viện KSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (3) Viện KSND cấp cao; (4) Viện KSND tối cao.

Nhiệm vụ của Viện KSND có một sự tương thích nhất định với nhiệm vụ của Tòa án, khối lượng nhiệm vụ của Viện kiểm sát các cấp tăng lên hay giảm đi đều tỷ lệ thuận với nhiệm vụ của Tòa án. Số lượng việc thụ lý, giải quyết các trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự ở TAND tối cao và Viện KSND tối cao trong những năm qua tương đương nhau, khoảng 1.000 trường hợp mỗi năm.

Giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự - một nhiệm vụ nặng nề của TAND tối cao - sẽ được san sẻ phần lớn cho TAND cấp cao. Tình trạng quá tải của việc thụ lý, giải quyết các trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự ở Viện KSND tối cao và TAND tối cao vì thế sẽ được giải tỏa. Hai cơ quan này sẽ khắc phục được tình trạng sa lầy vào những công việc sự vụ cụ thể, có điều kiện nhiều hơn để thực hiện tốt các nhiệm vụ ở tầm vĩ mô, theo chức năng nhiệm vụ của mình như nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm công tác, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, quản lý chỉ đạo điều hành trong toàn ngành, vạch ra và tổ chức thực hiện những vấn đề chiến lược của ngành, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, trong khi thực hiện sự phân cấp việc giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự, cần phải tiếp tục nghiên cứu, tính toán về những phát sinh có thể xảy đến đối với TAND cấp cao, Viện KSND cấp cao khi tiếp nhận nhiệm vụ này. Theo Kết luận 79, TAND cấp tỉnh “không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm” nữa, trong khi đó cũng theo Kết luận 79, TAND cấp cao “giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, TAND cấp cao phải thụ lý, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hai loại án sau:

  - Số bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Loại án này hiện tại do Viện KSND tối cao, TAND tối cao thụ lý, giải quyết.

- Số bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TAND sơ thẩm khu vực. Loại án này hiện tại do Viện KSND, TAND cấp tỉnh thụ lý, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

TAND cấp cao, theo Kết luận 79 còn có nhiệm vụ quan trọng là xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh có kháng cáo, kháng nghị và Viện KSND cấp cao phải thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc thụ lý, giải quyết số án này.

Riêng về ngành KSND, hiện có quan điểm Viện KSND các cấp phải kiểm sát việc thụ lý, giải quyết, tham gia xét xử tại phiên toà đối với tất cả các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, kinh doanh thương mại và những việc khác theo quy định của pháp luật. Hiện Bộ luật Tố tụng dân sự đang được xây dựng theo hướng này. Cùng với việc thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Viện KSND cấp cao cũng sẽ phải thụ lý, giải quyết các vụ án dân sự... theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo đó, khối lượng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nói chung và của Viện KSND cấp cao sẽ lại tăng lên rất nhiều.

Như vậy, phần lớn các trường hợp đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự hiện do Viện KSND tối cao và TAND tối cao thụ lý, giải quyết cộng với toàn bộ các trường hợp đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự do TAND sơ thẩm khu vực xét xử dồn về cho TAND cấp cao thụ lý, giải quyết. Qua theo dõi, hiện nay mỗi năm, TAND tối cao phải xét xử khoảng 70 vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, trong khi đó TAND cấp tỉnh phải xét xử khoảng từ 160 đến 180 vụ (năm 2010 thụ lý 169 vụ - 317 bị cáo). Theo Kết luận 79, toàn bộ số lượng án này sẽ được giao cho TAND cấp cao giải quyết, và với số lượng lớn các trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự như thế này sẽ đòi hỏi một lực lượng lớn cán bộ tham gia giải quyết. Trong khi đó, số vụ án phải xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ chiếm phần rất nhỏ trong tổng số các trường hợp đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mà Viện kiểm sát và Toà án phải thụ lý, xem xét giải quyết. Vì vậy, theo chúng tôi, vấn đề này cần được tiếp tục xem xét, tính toán để có sự tổ chức, bố trí lực lượng tham gia giải quyết cho phù hợp, tránh việc khắc phục tình trạng quá tải ở TAND tối cao lại chuyển tình trạng đó về TAND cấp cao.

Giải pháp phân cấp án giám đốc thẩm, tái thẩm ở TAND tối cao về TAND cấp cao mặc dù rất quan trọng và sẽ phát huy tác dụng tích cực trong tình hình hiện nay, nhưng theo chúng tôi, đó cũng chưa phải là giải pháp căn bản và tối ưu nhất đối với một nền tư pháp. Bởi vì, thực chất đó cũng chỉ là các giải pháp mang tính kỹ thuật, là việc điều chỉnh, cơ cấu lại, phân công lại cho Toà án và Viện kiểm sát các cấp tham gia giải quyết số án giám đốc thẩm, tái thẩm, cụ thể là sự chuyển dịch, giảm tải số án ở cấp cao nhất để chuyển về cấp thấp hơn, còn tổng số án giám đốc thẩm, tái thẩm phát sinh là vẫn chưa thay đổi.

Giải pháp nào để giảm một cách căn bản tổng số các trường hợp đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự trong phạm vi toàn quốc? Đây là vấn đề chiến lược lâu dài của cả nền tư pháp. Luật pháp của chúng ta yêu cầu phải tôn trọng quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, thụ lý, giải quyết thỏa đáng tất cả các đề nghị của họ liên quan đến các vụ án, dù đó là các vụ án đã có bản án, quyết định giải quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Song ở góc nhìn khác, thì tố tụng hình sự không thể là một quá trình kéo dài vô tận. Cần phải giải quyết thỏa đáng mọi yêu cầu, mọi ý kiến của người dân liên quan đến vụ án, song là giải quyết trong một giới hạn nào đó cả về thời gian và về cấp độ của tố tụng. Tố tụng của chúng ta đã đưa ra nguyên tắc xét xử hai cấp, vẫn chưa đủ, chúng ta lại phải đưa ra một thủ tục đặc biệt là thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, nhưng lại vẫn là chưa đủ, trong khi các thủ tục đặc biệt ấy, dường như đã trở thành thủ tục thông thường.

Phạm Văn An - Vụ Thực hành quyền công tố và Kiểm sát xét xử hình sự, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Nguyên tắc "Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" - thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện (15/01/2013)
Vai trò và giới hạn của tòa hiến pháp, tòa hành chính trong việc đảm bảo tính thống nhất của pháp luật (02/07/2012)
Kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật từ góc độ phân quyền (22/02/2012)
Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyền (17/02/2012)
Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước (28/06/2011)
Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (26/05/2011)
Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước (28/06/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân