Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 28/05/2017, 22:13(GMT+7)
 
Hành chính - hình sự - tư pháp

Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyền

Hiện nay, công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, trong đó có cải cách tư pháp đã và đang đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần tiếp tục được nghiên cứu và giải quyết. Viện kiểm sát nhân dân - một chế định trong hệ thống quyền lực nhà nước - cũng được nhắc đến trong các văn kiện của Đảng khi nói về cải cách tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định rõ: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (…), tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”. Để góp phần làm rõ những yêu cầu của Đảng đã đề ra, chúng tôi xin được bàn về quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyền.

1. Quyền công tố 

Ở Việt Nam, cụm từ “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên xuất hiện trong các văn bản pháp lý là Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)  tại Điều 138, và được nhắc lại ở các Điều 1 và 3 Luật tổ chức VKSND năm 1981. Kể từ đó, đã có nhiều tài liệu, bài viết bàn về quyền công tố và thực hành quyền công tố, nhất là từ khi nước ta tiến hành công cuộc cải cách tư pháp. Riêng về “quyền công tố” đã có tới tám quan điểm khác nhau. Mỗi quan điểm có cách thể hiện và lập luận riêng. Nhưng các quan điểm này hoặc là đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát (VKS), dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS)  sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế, lao động, hành chính; hoặc coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của VKS nhân danh quyền lực công; hoặc quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm1.      

Nghiên cứu về lịch sử nhà nước và pháp luật cho thấy, chế định công tố được hình thành dần cùng với sự hoàn thiện và phát triển của TTHS. Lúc đầu, trong nhà nước Hy Lạp và La Mã cổ đại, người bị hại là người buộc tội và có nghĩa vụ chứng minh lời buộc tội của mình, nhưng do hoạt động của họ rất khó khăn, nên sau này việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) được chuyển giao cho nhà nước, do các viên chức của nhà vua tiến hành. Mặt khác, nhà nước ra đời và tồn tại luôn luôn là đại diện chính thức cho xã hội về mọi phương diện, luôn có trách nhiệm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung, đến trật tự xã hội chung và trừng trị những hành vi vi phạm các quan hệ xã hội loại này, nhất là những hành vi mà bị pháp luật coi là tội phạm.

Quyền công tố có liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự, trong đó quy định cụ thể các loại hành vi nguy hiểm nào cho xã hội là tội phạm. Bất kỳ giai cấp thống trị nào khi lên nắm quyền lực nhà nước (QLNN) đều quan tâm trước hết đến lĩnh vực pháp luật hình sự, bởi chính pháp luật hình sự là phương tiện cai trị hữu hiệu, ổn định tình hình xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị. Khi một hành vi bị coi là tội phạm được thực hiện sẽ làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật giữa một bên là nhà nước và bên kia là người phạm tội. Trong quan hệ này, nhà nước là chủ thể sử dụng QLNN, quyền lực công để thực hiện việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội; còn người phạm tội là chủ thể bị truy cứu TNHS và gánh chịu các chế tài hình sự do nhà nước quy định và áp dụng.  

Một trong những nguyên tắc đặc thù của hoạt động TTHS là nguyên tắc công tố, nguyên tắc mà mọi hoạt động tố tụng được tiến hành trước hết và chủ yếu vì lợi ích nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội. Điểm mấu chốt nhất của nguyên tắc này là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định và xử lý người phạm tội. Một số công dân cũng tham gia vào hoạt động tố tụng, nhưng họ chỉ được lôi cuốn vào hoạt động tố tụng khi hoạt động này đã xuất hiện trên cơ sở các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Mặt khác, hoạt động TTHS luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ bản: buộc tội; bào chữa (gỡ tội) và xét xử. Buộc tội, thực chất là hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Người buộc tội, đại diện của cơ quan thực hiện chức năng buộc tội có trách nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc đối với những cá nhân cụ thể và có nhiệm vụ phải đưa ra những bằng chứng cho sự cáo buộc đó. Vì thế, QLNN trong lĩnh vực hình sự gắn liền với sự buộc tội nhân danh nhà nước, hay nói cách khác là nhân danh công quyền, và chỉ phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra. Sự buộc tội nhân danh công quyền này được gọi là quyền công tố. Như vậy, quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội.           

Xuất phát từ khái niệm về quyền công tố như trên, nên đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội; nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm; phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị.

2. Quyền công tố trong nhà nước pháp quyền

Trong lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, các cơ quan chuyên trách thực hiện quyền công tố xuất hiện khá muộn, gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế, phi dân chủ, thực hiện sự phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước. 

Nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại khi xuất hiện và tồn tại những mâu thuẫn đối kháng mang tính giai cấp không thể điều hoà được. Trong bất kỳ một xã hội nào, khi đã xuất hiện nhà nước, bên cạnh lực lượng thống trị xã hội luôn luôn tồn tại một hoặc nhiều lực lượng bị thống trị, lực lượng này thường có thái độ, hành động thù địch chống lại lực lượng thống trị xã hội, nắm QLNN. Hành động của họ thể hiện ở hành vi vi phạm pháp luật. Muốn trừng trị kẻ vi phạm pháp luật, chống lại ý chí của giai cấp thống trị thì phải buộc được tội của họ. Quyền nhân danh nhà nước, nhân danh công quyền thực hiện sự buộc tội này chính là quyền công tố.

Khi nhà nước mới ra đời, trong điều kiện bộ máy nhà nước còn giản đơn và hệ thống pháp luật mới được hình thành, sự phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà nước chưa được rõ ràng, quyền công tố chỉ được sử dụng trong một phạm vi hẹp để bảo vệ các lợi ích công, như các lợi ích của nhà nước, của giai cấp thống trị và lợi ích của cả cộng đồng, nên quyền công tố có thể do một cơ quan, thậm chí một quan chức nhà nước duy nhất thực hiện từ đầu đến cuối. Càng về sau, cùng với sự phát triển, hoàn thiện của bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật, việc phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn theo hướng chuyên môn hoá. Mặt khác, nhận thức xã hội về lợi ích công và lợi ích tư, về trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và cá nhân đã có sự thay đổi đáng kể. Chính lẽ đó, vai trò của công tố ngày càng được đề cao. Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời của công quyền. Quyền công tố chỉ xuất hiện, tồn tại cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Khi không còn nhà nước thì cũng không có quyền công tố.           

Trong nghiên cứu về nhà nước và pháp luật, vấn đề nhà nước pháp quyền đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu, học giả. Do cách tiếp cận hoặc nhận định, đánh giá vấn đề ở các góc cạnh khác nhau, nhưng về cơ bản, hầu hết các tác giả đều cho rằng: dưới góc độ chính trị - xã hội và phân tầng giai cấp xã hội, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mới, độc lập, thoát ly các kiểu nhà nước mà lịch sử nhân loại đã chứng kiến (nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa) và cũng không phải là nhà nước kiểu mới không mang tính giai cấp trong thời đại công nghiệp hiện nay. Mặt khác, nghiên cứu sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận về nhà nước pháp quyền có thể rút ra được: nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đó phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định và thừa nhận tính tối cao của pháp luật. Một trong những dấu hiệu đặc trưng thuộc nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đó pháp luật, trước hết là hiến pháp và các đạo luật phải giữ địa vị tối cao. Pháp luật phải có chất lượng tốt, phải thể hiện đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội… Pháp luật đó phải được nhà nước và nhân viên các cơ quan nhà nước và mọi người trong xã hội tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh.

Như vậy, trong nhà nước pháp quyền có sự hiện diện của pháp luật và đương nhiên cũng tồn tại các hành vi vi phạm pháp luật. Để pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh cần thiết phải sử dụng QLNN, nhân danh công quyền thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người có hành vi phạm tội. Điều đó có nghĩa là trong nhà nước pháp quyền có tồn tại quyền công tố.

Việt Nam hiện đang xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam thu hút sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành một nghị quyết riêng, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Công tác xây dựng pháp luật cũng đã mang lại những kết quả quan trọng. Trong giai đoạn 2005 - 2009, Quốc hội đã ban hành 120 luật, pháp lệnh. Chỉ tính riêng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007 - 2010) có 107 dự án luật, pháp lệnh đã được đưa vào chương trình xây dựng luật và sau 3 năm (2007 - 2009) đã ban hành được 63 văn bản/107 văn bản2. Các đạo luật được ban hành là những đạo luật giữ vị trí trung tâm, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Việt Nam đang tiến hành đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố… Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ”, “…tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra”, “…thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra”3 là những nội dung quan trọng được đặt ra trong công cuộc cải cách tư pháp mà Việt Nam đang tiến hành. Điều này chứng tỏ rằng, quyền công tố vẫn tồn tại và việc tăng cường công tố là những nội dung quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

3. Thực hành quyền công tố      

Cũng  như khái niệm về “quyền công tố”, ở Việt Nam, khái niệm “thực hành quyền công tố” cũng như nội dung, phạm vi của nó còn ít được đề cập đến và chưa rõ ràng. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài ngành kiểm sát nhân dân thời gian qua cho thấy, khi đề cập đến thực hành quyền công tố thì hoặc mới chỉ đưa ra được một số biện pháp pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình sự như: kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án…; hoặc gắn việc thực hành quyền công tố với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của Công tố viên trong TTHS; hoặc lại mở rộng phạm vi quyền công tố được thực hiện trong mọi giai đoạn TTHS bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Hoặc chỉ nêu ra một số biện pháp pháp lý như: lập cáo trạng và luận tội trước phiên toà sơ thẩm hình sự và coi đó là thực hành quyền công tố, thậm chí còn cho rằng, thực hành quyền công tố chỉ là sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm4.

Xuất phát từ quan niệm quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, nên thực hành quyền công tố chính là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu TNHS người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó5. Tuy vậy, xuất phát từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố đã được pháp luật quy định, việc sử dụng những quyền năng này để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với kẻ phạm tội chính là thực hành quyền công tố. Do vậy, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử6.

Với mục tiêu mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật của TTHS, nên về mặt nguyên tắc, cứ có tội phạm xảy ra là đòi hỏi quyền công tố phải được phát động. Khi quyền công tố được phát động thì đồng nghĩa với hoạt động thực hành quyền công tố được triển khai và khi quyền công tố không còn thì hoạt động thực hành quyền công tố cũng được kết thúc. Vì vậy, phạm vi thực hành quyền công tố được bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.

Để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đã quy định hàng loạt các hoạt động tố tụng, như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan điểm truy tố. Việc sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện các hoạt động tố tụng này chính là nội dung của thực hành quyền công tố.

4. Tổ chức thực hiện quyền công tố

Trong quá trình tổ chức QLNN, trên mỗi lĩnh vực cụ thể, Nhà nước thường tổ chức ra một hệ thống các cơ quan nhất định để thực hiện quyền lực đó. Hệ thống các cơ quan nhà nước này đóng vai trò chính trong sự phối hợp cùng các cơ quan nhà nước khác để thực hiện quyền lực đã được xác định. Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố. Các quyền năng đó, Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội, thì cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố hoặc cơ quan công tố.

Các quy định pháp luật và thực tế tổ chức thực hiện QLNN của các nước trên thế giới cho thấy, dù có tên gọi hoặc vị trí trong cơ cấu bộ máy nhà nước có khác nhau, nhưng mỗi nước chỉ có một cơ quan được giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố. Căn cứ vào vị trí trong bộ máy nhà nước có thể thấy được sự đa dạng về việc tổ chức thực hiện quyền công tố của các nước trên thế giới. Có những nước mà ở đó Cơ quan công tố/VKS nằm trong cơ cấu của Bộ Tư pháp (Hoa Kỳ, Pháp, Bỉ, Nhật Bản, Ba Lan, Ru-ma-ni, Hà Lan, Đan Mạch…); có những nước mà ở đó Cơ quan công tố/VKS nằm trong thành phần của hệ thống tư pháp được đặt tại các Tòa án, nhưng độc lập với Tòa án về chức năng (Tây Ban Nha, Columbia, Bun-ga-ri…); hoặc có những nước mà ở đó Cơ quan công tố/VKS là một hệ thống riêng biệt, hoặc trực thuộc Quốc hội, hoặc trực thuộc Nguyên thủ quốc gia (Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Cu Ba, Việt Nam, Lào…). Tuy về cơ cấu tổ chức, dù cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ công tố nằm trong hệ thống hành pháp, tư pháp hoặc lập pháp… nhưng về chức năng thì hoàn toàn độc lập.

Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định pháp luật từ năm 1960 đến nay, thì VKSND chính thức là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công tố. “Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố; bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc VKS phải trông nom, bảo đảm cho tốt”7. Thực tiễn tổ chức và hoạt động mấy chục năm qua của VKSND các cấp cho thấy, 100% các vụ án hình sự đều do VKS truy tố và thực hiện sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm, đưa ra lời kết luận của mình tại phiên toà theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Cùng với những hoạt động đó, VKS các cấp còn có trách nhiệm xem xét, bảo đảm cho việc áp dụng, thay thế hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn được hợp lý và hợp pháp, có quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của Cơ quan điều tra và Toà án.           

Theo quy định của pháp luật, tuy Cơ quan điều tra và Toà án các cấp cũng thực hiện việc khởi tố vụ án hình sự, thậm chí số vụ án do Cơ quan điều tra thực hiện việc khởi tố chiếm tới khoảng 96 - 97% số vụ án được khởi tố, nhưng nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ, thì chỉ có VKS mới có quyền quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố đó; hoặc chỉ có VKS mới có quyền kháng nghị quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ của Hội đồng xét xử. Cơ quan điều tra có quyền khởi tố, bắt, tạm giam người phạm tội, tiến hành điều tra thu thập chứng cứ… nhưng phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp. Tòa án chỉ đưa vụ án ra xét xử trên cơ sở bản cáo trạng, quyết định truy tố của VKS, và chỉ có VKS mới có quyền buộc tội bị cáo tại phiên tòa. Bản án kết tội của Toà án chính là sự chấp nhận lời buộc tội của VKS đối với người phạm tội.

Như vậy, ở Việt Nam, những hoạt động trên đây của VKS hoàn toàn mang tính độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào. Duy nhất chỉ có VKS được giao thực hiện việc truy cứu TNHS, buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan điểm truy tố của mình.

5. Đề xuất về tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam

Mỗi cơ quan nhà nước cần phải có một chức năng, nhiệm vụ riêng. Sự phân công càng rành mạch, cụ thể thì hiệu quả quản lý nhà nước sẽ đạt kết quả càng cao và phát huy cao độ vai trò của cơ quan đó trong từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp. Nếu không, sẽ xảy ra tình trạng là ở một lĩnh vực nào đó có nhiều cơ quan cùng làm dẫn đến sự chồng chéo, hoặc có lĩnh vực bị bỏ trống, hoặc bị buông lỏng sự quản lý của Nhà nước dẫn đến sự vi phạm pháp luật, phá vỡ sự thống nhất trong quản lý nhà nước… mà không có một cơ quan nào chịu trách nhiệm.

Hiện nay Việt Nam đang thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà QLNN được tổ chức theo nguyên tắc phân công rành mạch trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động quyền lực nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm hại tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía Nhà nước. Do vậy, việc quy định rõ chức năng thực hành quyền công tố của VKS có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc cải cách tư pháp cũng như nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Để thực hiện được việc quy định rõ chức năng thực hành quyền công tố, theo chúng tôi, cần phải nghiên cứu để bổ sung những quy định trong Bộ luật TTHS, trong các đạo luật về tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhất là các cơ quan tư pháp nhằm làm rõ hơn vị trí, chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành TTHS theo hướng:

a) Cần khẳng định rõ điều tra tội phạm là một công đoạn của chức năng công tố nhà nước và để phục vụ việc thực hiện chức năng công tố nhà nước; xác định rõ mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và VKS, trong đó VKS là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong quá trình chứng minh tội phạm và trực tiếp thực hiện việc truy tố, buộc tội, luận tội bị cáo tại phiên toà. Đồng thời, để thực hiện chủ trương “...tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra…”, “…thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra...”, cũng cần phải quy định rõ một số trách nhiệm của VKS như sau:

- Là đầu mối tiếp nhận và quyết định việc xử lý mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp. Cơ quan điều tra có nhiệm vụ xác minh tố giác, tin báo về tội phạm theo yêu cầu của VKS và chuyển ngay kết quả xác minh cho VKS để xem xét, quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. VKS trực tiếp ra các quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra quyết định mở cuộc điều tra theo trình tự tố tụng.

- Tự mình, hoặc theo đề nghị của Cơ quan điều tra, ra quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố thay vì việc phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra như hiện nay. VKS phải chịu trách nhiệm về những oan, sai trong bắt, tạm giữ, tạm giam.

 - Có quyền huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; chỉ đạo việc thu thập các bằng chứng buộc tội và gỡ tội. Các yêu cầu, chỉ thị bằng văn bản của VKS có giá trị bắt buộc Cơ quan điều tra phải chấp hành.

- Trên cơ sở kết quả điều tra, quyết định việc truy tố tội phạm và người phạm tội ra toà hoặc đình chỉ vụ án.

- Trực tiếp điều tra các vụ án khi xét thấy việc điều tra của Cơ quan điều tra không khách quan hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện nhưng không đạt hiệu quả và điều tra các vụ án khác khi thấy cần thiết.

- Khi xét xử tại phiên toà, chịu trách nhiệm chính trong việc thẩm vấn bị cáo, hỏi nhân chứng, đưa ra các lập luận, lý lẽ chứng minh cho việc buộc tội của mình.

- Có trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm việc giải quyết vụ án được nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật.

b) Xác định rõ Toà án chỉ tập trung thực hiện chức năng xét xử, không can thiệp vào bất cứ hoạt động tố tụng nào được tiến hành trong các giai đoạn điều tra, truy tố; tăng cường vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền con người. Đồng thời, để thực hiện chủ trương “...việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa...” thì cần quy định rõ quyền và trách nhiệm của Tòa án:

- Có quyền tuyên bố tính vô hiệu của chứng cứ, không chấp nhận các kết quả tố tụng đã được thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố nếu phát hiện quá trình thực hiện đã vi phạm các thủ tục tố tụng, vi phạm các quyền con người đã được luật định.

- Việc thẩm vấn, xem xét chứng cứ của Hội đồng xét xử tại phiên toà chỉ thực hiện sau khi bên buộc tội và bên gỡ tội đã thực hiện chức năng tố tụng mà thấy vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn, thì trực tiếp thẩm vấn, xem xét chứng cứ làm cơ sở cho việc ra phán quyết đúng pháp luật.

- Loại bỏ những thẩm quyền tố tụng mâu thuẫn với chức năng xét xử của Toà án, ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử, ảnh hưởng đến tính khách quan của hoạt động xét xử như: thẩm quyền khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử; thẩm quyền trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung khi thấy thiếu những chứng cứ quan trọng hoặc khi có căn cứ cho rằng, bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; thẩm quyền tiếp tục xét xử vụ án khi VKS đã rút quyết định truy tố; thẩm quyền xét xử vượt quá giới hạn truy tố...

(1) Lê Hữu Thể (chủ biên), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, NXB Tư pháp, Hà Nội 2008, tr. 21-34.

(2) Dự thảo Báo cáo tóm tắt sơ kết thực hiện việc triển khai kế hoạch số 900/UBTVQH11 thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

(3) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia. Hà nội, 2006, tr. 127.

(5) Trần Văn Độ, Một số vấn đề về quyền công tố, Kỷ yếu đề tài cấp bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”. H. 1999, tr. 48.

(6) Lê Hữu Thể (chủ biên). Sđd, tr. 57.

(7) Kết luận về công tác kiểm sát năm 1968, Nội san Công tác Kiểm sát, số 3/1968.

TS. Nguyễn Minh Đức - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Nguyên tắc "Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" - thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện (15/01/2013)
Vai trò và giới hạn của tòa hiến pháp, tòa hành chính trong việc đảm bảo tính thống nhất của pháp luật (02/07/2012)
Kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật từ góc độ phân quyền (22/02/2012)
Thay đổi trong quan điểm chỉ đạo của Đảng về tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự (07/09/2011)
Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước (28/06/2011)
Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (26/05/2011)
Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước (28/06/2011)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân