Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 12/02/2012, 21:42(GMT+7)
 
Hành chính - hình sự - tư pháp

Hoàn thiện pháp luật về xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Xử lý chuyển hướng là một khái niệm mới xuất hiện vào khoảng từ cuối đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX.

                                                        

I. Bản chất, tính ưu việt của xử lý chuyển hướng và các yêu cầu của chuẩn mực quốc tế

Xử lý chuyển hướng là một khái niệm mới xuất hiện vào khoảng từ cuối đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Khái niệm này ra đời sau khi có một loạt nghiên cứu cho thấy, những biện pháp can thiệp chính thức của hệ thống tư pháp đối với các hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên đã gắn án tích lên các em, gây ra sự miệt thị của xã hội đối với các em, ảnh hưởng tiêu cực đến sự trưởng thành và tương lai của các em. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, những biện pháp xử lý tư pháp chính thống thường làm cho người chưa thành niên lún sâu hơn vào con đường lầm lỗi vì bị phân biệt đối xử. Các kết quả nghiên cứu đã làm nảy sinh ý tưởng là cần phải tránh áp dụng các biện pháp xử lý chính thức đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật (NCTNVPPL) bằng cách khuyến khích các cán bộ tư pháp chuyển người chưa thành niên từ hệ thống tư pháp chính thức sang các chương trình giải quyết tranh chấp dựa vào cộng đồng, các dịch vụ hỗ trợ hoặc các chương trình giáo dục tại cộng đồng.

Xử lý chuyển hướng là một quá trình thay thế nhằm xử lý các vi phạm của người chưa thành niên bằng các biện pháp không chính thức nằm ngoài hệ thống tư pháp chính thống. Thuật ngữ này chỉ việc chuyển hướng hoặc đưa một NCTNVPPL ra ngoài hệ thống tư pháp chính thống để áp dụng biện pháp xử lý thay thế ở cộng đồng[1]. Xử lý chuyển hướng do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng vào bất cứ thời điểm nào trong quá trình tố tụng khi thấy cần thiết. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, việc áp dụng xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL có những điểm ưu việt nổi trội so với việc áp dụng các chế tài chính thức truyền thống từ xưa đến nay.

Thứ nhất, xử lý chuyển hướng tạo cơ hội cho NCTNVPPL nhìn nhận lại và chịu trách nhiệm đối với những hành vi vi phạm mà mình đã thực hiện mà không để lại án tích cho các em. Và vì thế giúp ngăn ngừa sự miệt thị của xã hội đối với NCTNVPPL cũng như các hậu quả bất lợi của việc bị đưa ra xử lý theo hệ thống tư pháp hình sự.

Thứ hai, cho phép các cán bộ tư pháp xử lý vụ việc một cách nhanh chóng và buộc NCTNVPPL phải chịu những hình thức kỷ luật tức thì đối với hành vi phạm pháp của mình. Điều này làm giảm số lượng các vi phạm nhỏ và ít nghiêm trọng hiện đang gây ra tình trạng tồn đọng, tắc nghẽn trong hệ thống tư pháp chính thống và cho phép tập trung nguồn lực vào những người vi phạm nhiều lần và có nguy cơ cao. 

Thứ ba, xử lý chuyển hướng không nhằm đến việc áp dụng các chế tài có tính chất trừng phạt người vi phạm pháp luật mà chú trọng việc hoà giải và khắc phục thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên gây ra, qua đó, khuyến khích NCTNVPPL tự ý thức được và tự chịu trách nhiệm giải thích về những thiệt hại đã gây ra. Với các mục tiêu và cách thức như vậy, xử lý chuyển hướng thúc đẩy một cách tích cực việc tái hoà nhập của NCTNVPPL vào gia đình và cộng đồng.

Thø t­, các chương trình xử lý chuyển hướng tạo ra cơ hội cho người bị hại và cộng đồng tham gia vào lựa chọn một biện pháp xử lý thích hợp đối với hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên để giảm thiểu nguyên nhân và nguy cơ vi phạm pháp luật, vì thế sẽ mang tính hiệu quả cao hơn so với việc xử lý bằng hệ thống tư pháp chính thức.

Các văn kiện quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em cũng như về tư pháp người chưa thành niên có rất nhiều quy định về yêu cầu áp dụng xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL.

Công ước về Quyền trẻ em[2] quy định các quốc gia thành viên phải đề ra các biện pháp để xử lý những trẻ em bị coi là, bị tố cáo hay bị thừa nhận là đã vi phạm pháp luật hình sự mà không phải viện đến những quá trình tố tụng của việc xét xử, miễn là các quyền con người và những điều kiện bảo vệ về pháp lý được tôn trọng đầy đủ bất cứ khi nào thấy thích hợp và cần phải làm (Điều 40(3)(b).

Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên[3] có riêng một điều quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện áp dụng xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL:

Quy tắc 11.1. Bất cứ khi nào xét thấy phù hợp, cần xem xét xử lý NCTNVPPL theo hướng không viện đến hoạt động xét xử chính thức của cơ quan thẩm quyền được đề cập trong điều 14.1 dưới đây.

Quy tắc 11.2. Cơ quan công an, kiểm sát và các cơ quan khác có trách nhiệm giải quyết những vụ án người chưa thành niên cần được toàn quyền thụ lý những vụ như vậy mà không dùng đến những phiên toà chính thức, theo tiêu chuẩn đã được định ra cho mục đích đó trong từng hệ thống pháp luật và theo các nguyên tắc có trong những quy tắc này.

Quy tắc 11.3. Bất cứ việc xử lý theo cách nào khác do các tổ chức cộng đồng hay các cơ quan thích hợp khác chuyển giao đến đều phải có sự đồng ý của người chưa thành niên hoặc cha mẹ hay người giám hộ của người đó, miễn là một quyết định như vậy liên quan đến một vụ án phải được một nhà chức trách có thẩm quyền xem xét trước khi thi hành.

Quy tắc 11.4. Để hỗ trợ các quyết định được đưa ra dựa trên thẩm quyền tự quyết trong các vụ việc có người chưa thành niên, cần có những nỗ lực cung cấp các chương trình tại cộng đồng như quản lý giám sát ngắn hạn, giáo huấn chỉ dẫn, buộc bồi thường thiệt hại, đền bù cho người bị hại.

Bộ quy tắc Tối thiểu chuẩn của Liên hợp quốc về Các biện pháp không giam giữ[4] quy định các biện pháp không giam giữ phải được khuyến khích phát triển và giám sát chặt chẽ (Quy tắc 2.4). Văn kiện này cũng quy định cần xem xét xử lý người vi phạm tại cộng đồng và tránh đến hết mức có thể việc sử dụng các quy trình xử lý chính thức hoặc xét xử chính thức tại toà án trên cơ sở vẫn tuân thủ các quy định và sự nghiêm minh của pháp luật (Quy tắc 2.5).

Trong bản Bình luận chung số 10 (2007) về quyền trẻ em trong lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên, Uỷ ban Quyền trẻ em đã bày tỏ ý kiến rằng các quốc gia thành viên nên đưa những biện pháp không chính thức xử lý NCTNVPPL thành một phần của hệ thống tư pháp người chưa thành niên. Uỷ ban đã viện dẫn các quy định tại Điều 40 Công ước về Quyền trẻ em và nhấn mạnh một số nguyên tắc áp dụng xử lý chuyển hướng sau:

Mét lµ, chỉ nên áp dụng xử lý chuyển hướng khi có chứng cứ thuyết phục về việc vi phạm pháp luật của trẻ em và trẻ em đó phải tự nguyện thừa nhận trách nhiệm của mình.

Hai lµ, trẻ em phải tự nguyện bày tỏ sự chấp thuận bằng văn bản đối với việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Các Quốc gia thành viên cũng có thể cân nhắc việc đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha mẹ, đặc biệt trong trường hợp đối với trẻ em dưới 16 tuổi.

Ba lµ, pháp luật phải có những quy định cụ thể về các trường hợp có thể áp dụng xử lý chuyển hướng, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp này, cơ chế kiểm tra, giám sát;

Thø t­, trẻ em phải được trợ giúp pháp lý để biết được biện pháp xử lý chuyển hướng áp dụng với mình có phù hợp không và khả năng yêu cầu xem xét lại biện pháp đó.

Thø n¨m, sau khi trẻ em chấp hành xong biện pháp xử lý chuyển hướng thì vụ việc phải được chấm dứt hoàn toàn và các em không bị ghi án tích về hành vi vi phạm pháp luật của mình.

Nghiên cứu hệ thống pháp luật về tư pháp người chưa thành niên của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, nhiều nước đã có quy định rất cụ thể về xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL trong các luật riêng về tư pháp người chưa thành niên[5]. Một số hình thức xử lý chuyển hướng được áp dụng phổ biến trên thế giới như: cảnh cáo của công an đối với NCTNVPPL; thoả thuận giữa công an và NCTNVPPL cùng với cha, mẹ các em về một số điều kiện mà các em phải tuân thủ; chuyển tuyến NCTNVPPL sang hoà giải giữa họ với nạn nhân; chuyển tuyến các em đến họp nhóm gia đình có NCTNVPPL, nạn nhân, các thành viên gia đình, cảnh sát và những người có ảnh hướng lớn trong cộng đồng tham gia; giới thiệu NCTNVPPL đến Uỷ ban tư pháp người chưa thành niên, Uỷ ban này sẽ tổ chức cuộc họp giữa NCTNVPPL, nạn nhân và những thành viên của cộng đồng.

Khi được quyết định áp dụng xử lý chuyển hướng, NCTNVPPL thường được yêu cầu thực hiện một số nghĩa vụ để các em có thể nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm của mình, hiểu rõ nguyên nhân và hậu quả của hành vi đó, sớm hoà nhập lại với cộng đồng và ngăn ngừa họ tái phạm. Các nghĩa vụ có thể là: viết kiểm điểm về hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra; buộc đi học văn hoá hoặc học nghề; lao động công ích; đền bù thiệt hại cho nạn nhân; tham gia các chương trình xây dựng, phát triển năng lực; tuân thủ sự giám sát, hướng dẫn của người có trách nhiệm tại cộng đồng; tham gia các chương trình tư vấn hoặc trị liệu cho người nghiện ma tuý hoặc nghiện rượu; tham gia các chương trình hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng tại các trung tâm trình diện hoặc điểm danh ban ngày; tham gia các chương trình về kèm cặp giúp đỡ người chưa thành niên.

II. Pháp luật và thực tiễn áp dụng xử lý chuyển hướng tại Việt Nam 

1. Pháp luật Việt Nam về xử lý chuyển hướng

Việt Nam có hai hệ thống chính thức xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm của người chưa thành niên nói riêng, đó là hệ thống tư pháp hình sự và hệ thống xử lý vi phạm hành chính.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định một số biện pháp xử lý không chính thức đối với  NCTNVPPL, chẳng hạn như hòa giải, giao cho gia đình, nhà trường hoặc tổ chức xã hội quản lý, giáo dục, giám sát.     

Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có quy định về khái niệm “xử lý chuyển hướng” cũng như chưa có khuôn khổ pháp lý rõ ràng để áp dụng xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL. Tuy nhiên, đã có quy định một số nguyên tắc chung về xử lý NCTNVPPL là cơ sở pháp lý để có thể áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL. Cụ thể, các nguyên tắc chung như sau:

- Khoản 1 Điều 5 Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu”.

- Điều 36 Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004 cũng nêu rõ: “Việc xử lý trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ để trẻ em nhận thấy sai lầm, sửa chữa sai lầm và tiến bộ”.

- Khoản 1 Điều 58 Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em vi phạm pháp luật được gia đình, nhà trường và xã hội giáo dục, giúp đỡ để sửa chữa sai lầm, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quy tắc của đời sống xã hội và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Việc tổ chức giáo dục trẻ em vi phạm pháp luật chủ yếu được thực hiện tại cộng đồng hoặc đưa vào trường giáo dưỡng”.

- Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định: “Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”.

- Khoản 3 Điều 69 BLHS năm 1999 quy định: “Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”.

Đặc biệt, Khoản 2 Điều 69 BLHS quy định: “Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục”. Đây là một trong những nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, tạo cơ sở pháp lý để cho các cơ quan áp dụng pháp luật có thể áp dụng xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội từ hệ thống xử lý hình sự sang xử lý bằng các biện pháp không chính thức, đó là giao cho gia đình, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, trong trường hợp hành vi phạm tội của người chưa thành niên ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng gây hại không lớn và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

2. Thực tiễn áp dụng xử lý chuyển hướng tại Việt Nam

Hiện nay, chúng ta chưa có số liệu thống kê tổng thể về áp dụng xử lý chuyển hướng tại Việt Nam. Vì vậy, chưa có căn cứ để đánh giá được một cách toàn diện về thực tiễn áp dụng xử lý chuyển hướng tại Việt Nam. Tuy nhiên, qua các báo cáo về kết quả  khảo sát thực hiện tại ba địa phương Khánh Hoà, Nghệ An và thành phố Hồ Chí Minh do đại diện Bộ Tư pháp, các cơ quan hữu quan phối hợp với UNICEF tổ chức từ ngày 3/9 đến ngày 2/10/2007, với cách thức khảo sát là phỏng vấn nhóm và phỏng vấn cá nhân những NCTNVPPL, cha mẹ NCTNVPPL, các cán bộ tư pháp cũng như đại diện các tổ chức xã hội, chúng ta cũng có thể hình dung được một phần về tình hình áp dụng xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL. Cụ thể kết quả khảo sát cho thấy, việc xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL hành chính hiện nay là khá phổ biến. Ví dụ như tại Khánh Hoà, trong số 35 em vi phạm pháp luật được phỏng vấn thì có 9 em được áp dụng xử lý chuyển hướng và trong số 35 cha mẹ có con vi phạm pháp luật được phỏng vấn thì có 11 người nói rằng con của họ được áp dụng xử lý chuyển hướng. Kết quả phỏng vấn các đối tượng được xử lý chuyển hướng cho thấy, tất cả các vụ việc được xử lý chuyển hướng đều là những vi phạm pháp luật nhỏ như trộm cắp vặt, gây gổ đánh nhau, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có, lẽ ra phải xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của pháp luật hiện hành. Các trường hợp NCTNVPPL hành chính được xử lý chuyển hướng đều là được cảnh sát khu vực gọi lên nhắc nhở, cảnh cáo hoặc cho các em viết cam đoan về việc sau này sẽ không vi phạm pháp luật nữa.

Một điểm đáng lưu ý là kết quả khảo sát cho thấy rằng, cha mẹ của người chưa thành niên hầu như không tham gia vào quá trình quyết định xử lý chuyển hướng. Các tổ chức cộng đồng, đoàn thể xã hội như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh… cũng không tham gia vào quá trình này. Hơn nữa, việc xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL đều không có dịch vụ hỗ trợ kèm theo. Ngoại trừ việc cảnh sát khu vực có ghé thăm nhắc nhở, động viên người chưa thành niên, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, tổ dân phố… không có biện pháp gì để giúp đỡ, hỗ trợ người chưa thành niên. Vấn đề động viên các em tiếp tục học văn hóa, cho các em tham gia vào các chương trình tham vấn, giáo dục kỹ năng sống để các em có kiến thức tốt hơn, có quan điểm tích cực về bản thân, về cuộc sống và có ý thức vươn lên hiện chưa được đặt ra. Tuy nhiên, khi phỏng vấn các cán bộ tư pháp đều cho rằng, các biện pháp xử lý không chính thức đối với NCTNVPPL nói chung là cần thiết, nhất là đối với những trường hợp vi phạm pháp luật không thường xuyên, do vô ý hoặc vi phạm không nghiêm trọng.

III. Một số đánh giá và kiến nghị

Qua nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng xử lý chuyển hướng tại Việt Nam, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Pháp luật Việt Nam tuy chưa có quy định về khái niệm “xử lý chuyển hướng” nhưng đã có một số quy định về nguyên tắc chung để xử lý NCTNVPPL như đã nói ở trên. Đặc biệt, quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho việc xử lý chuyển hướng người chưa thành niên phạm tội trong một số trường hợp sang giao cho gia đình, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục. Theo phản ánh của các cơ quan điều tra, kiểm sát và toà án, thì trên thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng quy định này tuy các trường hợp được áp dụng không nhiều.

Đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính thì pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào về xử lý chuyển hướng người chưa thành niên từ hệ thống xử lý hành chính sang áp dụng các biện pháp không chính thức. Điều này có nghĩa là, khi người chưa thành niên vi phạm hành chính thì bắt buộc phải bị xử lý theo pháp luật hành chính mà không còn lựa chọn nào khác. Tuy nhiên, qua khảo sát tại một số địa phương thì thấy rằng, việc xử lý chuyển hướng từ hệ thống xử phạt vi phạm hành chính sang các biện pháp không chính thức như cảnh cáo, nhắc nhở đã được cảnh sát khu vực áp dụng rất phổ biến đối với những người chưa thành niên vi phạm hành chính ít nghiêm trọng.

Pháp luật Việt Nam tuy đã có một số quy định về nguyên tắc chung để có thể chuyển hướng xử lý người chưa thành niên phạm tội sang áp dụng biện pháp không chính thức là giao cho gia đình, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, nhưng thiếu các quy định cụ thể về điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, các biện pháp không chính thức để chuyển hướng xử lý, cũng như hậu quả pháp lý và cơ chế kiểm tra, giám sát việc áp dụng xử lý chuyển hướng. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thiếu một hệ thống các văn bản hướng dẫn cụ thể nên khó áp dụng xử lý chuyển hướng một cách bài bản và thống nhất. Chính vì vậy, quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS rất ít khi được áp dụng trong thực tiễn.

Kinh nghiệm các nước cho thấy, việc xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL có đạt được hiệu quả tối ưu hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào các chương trình hỗ trợ tại cộng đồng nhằm hỗ trợ người vi phạm hoà nhập vào xã hội và ngăn ngừa họ tái phạm. Các chương trình hỗ trợ có thể là hỗ trợ đào tạo hoặc tìm kiếm việc làm, giám sát hướng dẫn, tư vấn hoặc trị liệu cho những em nghiện ma tuý hoặc nghiện rượu, các chương trình giáo dục, phục hồi, các lớp học kiến thức và xoá mù chữ, các khoá học về kỹ năng sống cũng như các hoạt động thể thao, giải trí khác. Tuy nhiên, các chương trình hỗ trợ tại cộng đồng để giúp NCTNVPPL nhanh chóng tái hoà nhập xã hội sau khi đã được xử lý chuyển hướng tại Việt Nam còn thiếu và chưa có nhiều hình thức phong phú.

Từ các nhận xét đánh giá ở trên cho thấy, tuy pháp luật đã có quy định cho phép áp dụng và thực tế xử lý chuyển hướng đã được áp dụng tại Việt Nam, nhưng mới chỉ theo các quy trình đơn giản và còn thiếu cơ chế giám sát cũng như các chương trình dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng, nên chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Vì vậy, có thể nói rằng, xử lý chuyển hướng theo mô hình tiêu chuẩn của quốc tế chưa được phổ biến và áp dụng rộng rãi tại Việt Nam. Việc thực hiện các chương trình xử lý chuyển hướng hoàn chỉnh đòi hỏi phải tiến hành các biện pháp vận động, tuyên truyền sâu rộng và hiện tại vẫn còn quá sớm để đưa các mô hình quốc tế vào quy định và áp dụng tại Việt Nam. Công việc trước mắt cần phải làm, theo chúng tôi, là phải phổ biến cho các nhà làm luật và các nhà áp dụng pháp luật ý thức được, hiểu rõ được tầm quan trọng của việc áp dụng xử lý chuyển hướng ra ngoài hệ thống chính thức đối với NCTNVPPL. Công việc này đòi hỏi phải tổ chức phổ biến, tuyên truyền hết sức rộng rãi về lợi ích của biện pháp này, cộng thêm với việc thực hiện thí điểm xử lý chuyển hướng tại một số địa phương. Sau khi mọi sự chuẩn bị về quan điểm, ý thức đã sẵn sàng, thì mới có thể tính đến việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật để đưa chế định này vào quy định và áp dụng tại Việt Nam.

Có một số ý kiến cho rằng, do xử lý chuyển hướng là một khái niệm mới, khó chuyển tải đầy đủ vào bối cảnh của Việt Nam, nên trong thời gian tới đây có thể xem xét việc chuyển hướng từ hệ thống xử lý hình sự sang hệ thống xử lý hành chính và coi đó như một cách thức quá độ trước khi chuyển hoàn toàn sang xử lý chuyển hướng theo đúng nghĩa của nó. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách làm này không thể giải quyết được triệt để vấn đề và cũng không đạt được các mục tiêu chính của xử lý chuyển hướng theo yêu cầu của các văn bản pháp luật quốc tế, là tạo cho NCTNVPPL cơ hội chịu trách nhiệm về những hành vi của mình mà không bị tước tự do và không bị ghi án tích. Hơn nữa, một loạt các văn bản pháp luật quốc tế như Công ước Quyền trẻ em, Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về quản lý tư pháp người chưa thành niên đều yêu cầu các quốc gia thành viên là bất cứ khi nào xét thấy phù hợp, cần xem xét xử lý NCTNVPPL theo hướng không viện đến các thủ tục tư pháp trong điều kiện đảm bảo quyền con người và sự nghiêm minh của pháp luật. Bên cạnh đó cũng phải thấy rằng, nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định trong pháp luật của mình cơ chế xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL và trong quá trình áp dụng đã có rất nhiều mô hình hay, được phổ biến rộng rãi. Vì các lý do trên, Việt Nam cũng không thể không đi theo xu hướng chung của thế giới được.

Việc đưa xử lý chuyển hướng vào Việt Nam là điều hoàn toàn có thể thực hiện được với các lý do sau đây:

Thứ nhất, quan điểm về bảo vệ người chưa thành niên của Việt Nam từ trước đến nay đã rất rõ ràng, với việc tham gia tích cực các Công ước về Quyền trẻ em cũng như các văn kiện quốc tế khác.

Thứ hai, như đã trình bày ở trên, pháp luật Việt Nam tuy chưa có khái niệm và chưa có cơ chế đầy đủ về xử lý chuyển hướng, nhưng cũng đã có một số các quy định về nguyên tắc xử lý người chưa thành niên tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển hướng xử lý người chưa thành niên phạm tội sang giám sát, giáo dục tại gia đình và cộng đồng. Thực tế, chúng ta đã áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS để thay thế các chế tài hình sự bằng áp dụng biện pháp giao cho gia đình, tổ chức giám sát, giáo dục. Đặc biệt hơn, qua phỏng vấn một số NCTNVPPL, cha mẹ các em và các cán bộ tư pháp tại 3 địa phương là thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hoà và Nghệ An thì thấy rằng, tuy pháp luật xử lý vi phạm hành chính chưa có quy định về xử lý chuyển hướng người chưa thành niên vi phạm hành chính, nhưng thực tiễn thì đã được các cán bộ cảnh sát áp dụng rất phổ biến. Vì vậy, việc đưa một cơ chế đầy đủ về xử lý chuyển hướng NCTN VPPL vào áp dụng tại Việt Nam, theo chúng tôi, là điều có thể thực hiện được.

Để xây dựng một cơ chế xử lý chuyển hướng NCTN VPPL một cách đầy đủ, bài bản tại Việt Nam, theo chúng tôi, có thể nghiên cứu, cân nhắc đến những điểm sau:

Một là, trên cơ sở tham khảo các văn bản pháp luật quốc tế và kinh nghiệm pháp luật các nước, nên nghiên cứu thấu đáo và tính toán kỹ để có thể bổ sung một số quy định về khái niệm, nguyên tắc, điều kiện áp dụng, các loại biện pháp không chính thức áp dung khi xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL, hiệu quả pháp lý của việc áp dụng xử lý chuyển hướng vào Chương X Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội của BLHS trong lần sửa đổi, bổ sung BLHS sắp tới, cũng như  Chương Xử lý vi phạm hành chính người chưa thành niên trong Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính đang xây dựng, dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối năm 2010.

Hai là, nên mở rộng khả năng áp dụng hoà giải với tư cách là một trong các biện pháp xử lý chuyển hướng từ hệ thống xử lý hành chính và xử lý hình sự bằng cách bổ sung quy định này vào Chương X Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội của BLHS trong lần sửa đổi, bổ sung BLHS sắp tới cũng như  Chương Xử lý vi phạm hành chính người chưa thành niên trong Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính và sửa đổi Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở theo hướng trên.

Ba là, nên bổ sung vào Chương XXXII Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên của Bộ luật Tố tụng hình sự cũng như Chương Xử lý vi phạm hành chính người chưa thành niên trong Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính đang xây dựng các quy định chung về trình tự, thủ tục áp dụng xử lý chuyển hướng, cũng như về cơ chế giám sát, thực thi các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với NCTNVPPL.

Bốn là, để tăng cường hiệu quả áp dụng xử lý chuyển hướng, nên ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành các quy định hiện hành cũng như các quy định sẽ bổ sung của BLHS, Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến xử lý chuyển hướng, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp để nâng cao năng lực áp dụng xử lý chuyển hướng, cũng như xây dựng và phát triển các chương trình, dịch vụ tại cộng đồng giúp người chưa thành niên được xử lý chuyển hướng nhanh chóng hoà nhập xã hội và không tái phạm.

[1] Tài liệu tập huấn tư pháp người chưa thành niên (UNICEF, UBDSGDTE), Hà Nội ngày 17/4/2006, Phần 2 Chương 5 trang 15.

[2] Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 theo Nghị quyết số 44/25.

[3] Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 theo Nghị quyết số 40/33

[4] Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 theo Nghị quyết số 45/110

[5] Luật Xây dựng hệ thống tư pháp và phúc lợi người chưa thành niên của nước Cộng hoà Philippin, Bộ luật Tư pháp Thanh thiếu niên Kosovo, Luật Tư pháp người chưa thành niên Papua New Guinea …

Ths. Đỗ Thuý Vân
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Thay đổi trong quan điểm chỉ đạo của Đảng về tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự (07/09/2011)
Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước (28/06/2011)
Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (26/05/2011)
Đổi mới cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ (05/05/2011)
Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (07/03/2011)
Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (09/02/2011)
Mục đích và nguyên tắc thực hiện đặc xá (01/10/2010)
Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (09/02/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân