Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 23/10/2018, 05:36(GMT+7)
 
Hành chính - hình sự - tư pháp

Đổi mới cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ

 

Trong các chủ thể có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật1 thì Bộ trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ là hai chủ thể ban hành các văn bản có ảnh hưởng lớn và trực tiếp nhất đối với từng lĩnh vực quản lý. Tuy nhiên, có rất nhiều các văn bản do cấp Bộ và cơ quan ngang bộ ban hành có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, gây thiệt hại cho xã hội; nhiều quyết định quản lý nhà nước không có tính khả thi cao hoặc việc ra quyết định quá chậm chạp, gây khó khăn cho hoạt động quản lý. Đổi mới cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ở Việt Nam là một bước đi cần thiết trong việc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, là một yêu cầu quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền. 

1. Một số văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trái với các quy định của Hiến pháp và pháp luật trong thời gian qua

Ngày 5/12/2001, Bộ Giao thông vận tải có Quyết định số 4127/2001/QĐ-BGTVT ban hành “Quy định vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định, hợp đồng và vận tải khách du lịch bằng ô tô”. Theo quy định tại khoản 7 Điều 9 của Quyết định này, các doanh nghiệp được thông báo tuyến vận tải khách cố định, trong quá trình khai thác không vi phạm nội quy hoạt động và các quy định khác của pháp luật thì cũng chỉ được khai thác trong thời hạn bảy năm, được gia hạn thêm năm năm tiếp theo. Hết thời hạn này, doanh nghiệp phải đăng ký lại mới được kinh doanh. Quy định này đã hạn chế quyền kinh doanh của doanh nghiệp, gây phiền hà cho doanh nghiệp và cũng không phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Theo Điều 6, Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì doanh nghiệp được tự chủ đăng ký và thực hiện kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm. Luật này cũng không quy định doanh nghiệp được hoạt động trong thời gian bao lâu; doanh nghiệp chỉ bị thu hồi giấy phép chứng nhận đăng ký kinh doanh trong những trường hợp vi phạm pháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 121 Luật Doanh nghiệp. Điều 12 của Quyết định 4127/2001/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải còn quy định, khi doanh nghiệp ngừng khai thác “phải có đơn gửi cơ quan quản lý tuyến…”. Quy định này cũng không phù hợp với  Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ. Theo quy định tại Điều 10, Điều 5 của Nghị định này, khi bổ sung, thay đổi ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp chỉ cần gửi thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, nơi doanh nghiệp đã đăng ký và khi tạm ngừng hoạt động, doanh nghiệp chỉ cần thông báo bằng văn bản cho phòng đăng ký kinh doanh

Điều 2. IV. Thông tư số 29/2001/TT-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin (ban hành ngày 05/06/2001) hướng dẫn thực hiện Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001 - 2005 quy định: hàng hoá nhập khẩu là các loại ấn phẩm (sách, báo, tạp chí, tranh, ảnh, lịch) phải được Bộ Văn hoá - Thông tin phê duyệt nội dung và kế hoạch nhập khẩu trước khi doanh nghiệp làm thủ tục nhập khẩu. Trong khi đó, theo bản Phụ lục 3 được ban hành kèm theo Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì đối với các loại ấn phẩm và tác phẩm điện ảnh nhập khẩu chỉ phê duyệt nội dung. Việc Thông tư 29/2001/TT-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin quy định phải phê duyệt cả kế hoạch là không phù hợp với tinh thần của Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp2.

Thông tư số 02 ngày 13/1/2003 của Bộ Công an về hướng dẫn cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới có quy định: “mỗi người chỉ được đăng ký một mô tô hoặc một xe gắn máy”. Thông tư này không những trái với Bộ luật Dân sự (vì theo Bộ luật này thì tài sản hợp pháp thuộc sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị) mà còn bất hợp hiến vì Điều 58 của Hiến pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản của công dân3.

Quyết định số 34/2008/QĐ-BYT về Tiêu chuẩn sức khỏe của người tham gia giao thông của Bộ Y tế là một văn bản pháp luật có nhiều vi phạm cả về hình thức lẫn nội dung. Điểm bất hợp lý dễ thấy nhất và bị dư luận phản bác nhiều nhất là quy định những người cao chưa  đủ 1,45m, cân nặng chưa tới 40kg hoặc vòng ngực trung bình dưới 72cm... thì không đủ điều kiện lái xe gắn máy từ 50 - 175cm3. Rõ ràng, việc đưa ra tiêu chuẩn cấm lái xe gắn máy đối với những người có thể hình nhỏ bé, khiêm tốn đã làm hạn chế quyền Hiến định của công dân trong việc sử dụng tài sản, phương tiện giao thông. Mặt khác, tạo ra sự phân biệt đối xử không cần thiết đối với những công dân có thể hình nhỏ bé. Hơn nữa, việc đặt ra quá nhiều tiêu chuẩn là không bảo đảm yêu cầu về cải cách hành chính. Từ đó có thể gây phiền hà cho người dân cũng như dễ dẫn đến tiêu cực trong việc khám, chứng nhận sức khỏe để cấp bằng lái xe.

Quyết định số 34/2008/QĐ-BYT do Bộ Y tế ban hành cũng không đúng thẩm quyền, vì Điều 55 của Luật Giao thông đường bộ có quy định: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải thống nhất với Bộ trưởng Bộ Y tế quy định cụ thể về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe và quy định việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ôtô. Đồng thời, căn cứ vào Công văn số 1992/TTg-CN ngày 21/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và lưu hành xe ba bánh, xe cơ giới cho người tàn tật thì: “Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Thương binh và Xã hội, Bộ Giao thông vận tải quy định về điều kiện sức khỏe, mức độ bị hạn chế về vận động của người tàn tật được phép sử dụng xe cơ giới cho người tàn tật”. Như vậy, quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ phải do liên bộ, liên tịch ban hành mới là hợp lệ4.

2. Nguyên nhân

Tình trạng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trái với các quy định của Hiến pháp và pháp luật trong thời gian qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Theo nhận định của Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, được ban hành kèm theo Quyết định số 909/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ, nguyên nhân của tình trạng tiến độ xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp, các ngành còn chậm, chất lượng văn bản chưa cao là do:

Thứ nhất, đội ngũ chuyên gia thực hiện nhiệm vụ soạn thảo, thẩm định, rà soát văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu; kinh nghiệm, trình độ còn hạn chế; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định còn chưa hợp lý.

Thứ hai, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thiếu sự đầu tư thích đáng về thời gian, công sức cũng như kinh phí cho công tác tổ chức soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; chưa có cơ chế hữu hiệu để thu hút sự tham gia đông đảo của các chuyên gia giỏi, các nhà khoa học và nhân dân vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. 

Thứ ba, chúng ta chưa có một cơ chế hiệu quả để kiểm soát quyền lập quy của Chính phủ.

Trên thế giới, công tác kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp các văn bản quy phạm pháp luật thường được giao cho ngành tư pháp thực hiện với sự hoạt động của Toà Hiến pháp và Toà Hành chính. Toà Hiến pháp có quyền tuyên bố về tính vi hiến của văn bản quy phạm pháp luật để nhằm thực hiện chức năng bảo hiến của mình. Và Toà hành chính có quyền đưa ra những phán quyết về tính hợp pháp của các văn bản pháp quy.

Hiện nay, cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành ở nước ta vẫn không thực sự có thay đổi lớn trong quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Cơ chế kiểm tra vẫn mang tính tự kiểm tra, tự đánh giá, tự xử lý, nên còn thiếu khoa học, thiếu dân chủ và sự bình đẳng giữa Nhà nước và công dân. Vai trò của Toà Hành chính chưa thực sự được phát huy khi mà việc kiểm tra các văn bản quy phạm hành chính không được thực hiện. Cơ chế tự kiểm tra bởi chính cơ quan lập pháp hay bởi cơ quan hành chính5 dẫu hoàn thiện đến mấy cũng khó có thể coi là khách quan và chặt chẽ. Có lẽ, những đạo luật, những văn bản pháp quy hay những dự án, dự thảo sẽ không thể tuỳ tiện xuất hiện nếu như cơ quan có trách nhiệm soạn thảo, ban hành biết rằng, sẽ có các Toà án kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật bất cứ lúc nào6.

3. Giải pháp nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Một là, cần một cơ chế kiểm tra mới đối với tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành. Cơ chế kiểm soát quyền lập quy, theo chúng tôi, nên trao cho ngành tư pháp, bởi trong học lý về luật hiến pháp, quyền giám sát văn bản được cho là thuộc địa hạt của quyền tư pháp. Trong lịch sử của quyền tư pháp trên thế giới, ngành tư pháp Mỹ lần đầu tiên tự nhận cho mình quyền giám sát văn bản trong vụ án Mabury chống Madison. Dù quyền giám sát văn bản không được Hiến pháp Mỹ trao cho Toà án, nhưng lại được Toà án tối cao liên bang Hoa Kỳ rút ra từ bản chất của quyền tư pháp (xem box).

Các Toà án có bổn phận hiến định (mission constitutionelle) là giải quyết những vụ tranh tụng giữa mọi người, và trong những vụ tranh tụng đó, các Toà án phải chỉ định các quy tắc luật nào, hay loại luật nào, hiến luật hay thường luật, được đem áp dụng. Sứ mạng dĩ nhiên của thẩm phán là áp dụng cho hai bên nguyên bị cái quy tắc luật có giá trị và trong trường hợp mâu thuẫn giữa hai quy tắc luật, là quyết định xem quy tắc nào ở địa vị ưu tiên, được tôn trọng7. 

 Tư pháp thực hiện chức năng xét xử và đưa ra phán xét trong từng vụ tranh chấp cụ thể theo quy định của pháp luật. Tư pháp được quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật. Toà án tối cao liên bang Hoa Kỳ trong vụ Mabury chống Madison đã đưa ra một nguyên tắc rõ ràng về quyền giám sát văn bản - giám sát Hiến pháp của ngành tư pháp: “Trong một vụ tranh chấp mà Toà án phải xem xét, nếu một bên đương sự đưa ra sự bất hợp hiến của đạo luật mà người ta muốn đem thi hành đối với y, thì Toà án phải kiểm tra xem sự bất hợp hiến đó thật hay không, và nếu có thật, Toà án phải từ chối áp dụng đạo luật bất hợp hiến”8. Lập luận ban đầu về giám sát Hiến pháp có ý nghĩa đối với giám sát văn bản nói chung của Toà án. Từ đó, tất cả các Toà án Hoa Kỳ đều có quyền giám sát văn bản. Tư pháp có quyền từ chối áp dụng một văn bản vi phạm. 

Trong nhiều quốc gia Châu Âu, quyền giám sát văn bản cũng được quan niệm thuộc Toà án. Việc giám sát những văn bản dưới luật vi phạm do Toà án tiến hành bằng con đường kiểm pháp. Thông thường, Toà hành chính được giao cho chức năng này. Toà án được phép trực tiếp đưa ra phán quyết tiêu huỷ văn bản bất hợp hiến hay bất hợp pháp.

Việc thừa nhận chế độ giám sát tư pháp đối với các quyết định hành chính là một bước đi ban đầu trước khi chúng ta tiến đến “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” theo chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ X. Hiện thời, người dân nước ta chưa có thói quen viện dẫn Hiến pháp để bảo vệ mình trước Tòa án cũng như Tòa án hiếm khi viện dẫn đến Hiến pháp để đưa ra phán quyết. Do đó, việc trước tiên cần phải làm là cho người dân quyền được khiếu nại Hiến pháp đối với các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan hành chính ban hành và quyền của Toà án được giải thích Hiến pháp và đưa ra phán quyết trong trường hợp có khiếu nại Hiến pháp. 

Nếu một công dân bình thường có thể khiếu kiện những văn bản quy phạm pháp luật bất hợp hiến hay bất hợp pháp ra Tòa án thì điều đó cũng có nghĩa tính pháp chế và tính dân chủ trong xã hội đã được tăng cường, bởi lẽ việc làm đó sẽ giúp tránh được những mâu thuẫn giữa văn bản pháp quy với Hiến pháp, luật và giữa văn bản pháp quy với các loại văn bản khác. Đồng thời, tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật sẽ không chỉ tồn tại trong văn bản mà nó sẽ bị giám sát thực tế bởi nhân dân - những người bị tác động trực tiếp bởi các văn bản hành chính. Được coi là người  giải thích trong những trường hợp cụ thể, Tòa án áp dụng pháp luật trong một ý nghĩa tích cực cho phép tính hợp pháp được bảo đảm.

Giám sát tư pháp đối với các hoạt động hành chính đã được đưa ra trong quá trình phát triển của luật hành chính không chỉ ở các nước Châu Âu lục địa mà còn ở các nước theo truyền thống thông luật. Mặc dù giám sát tư pháp đối với các hoạt động hành chính dựa trên nhiệm vụ cố hữu của Toà án là bảo đảm các hành vi pháp lý phù hợp với đạo luật tối cao, nhưng có một sự khác biệt quan trọng trong việc tổ chức hệ thống này. Giám sát tư pháp theo truyền thống của Đức và Latinh là quyền của các Toà án đặc biệt quyết định về tính hợp hiến của các hoạt động lập pháp. Điều này dẫn đến sự phát triển của nền hành chính lục địa (contentienx administratif) dựa trên Châu Âu lục địa về một hệ thống Toà án hành chính đặc biệt. Trong một số nước, hệ thống Toà án đặc biệt này được thiết lập độc lập với hệ thống Toà án thường, như trường hợp của Pháp. Trong một số nước khác, các Toà hành chính đặc biệt được thiết lập trong khuôn khổ hệ thống Toà án tư pháp thường, với tính chất tương tự như các Toà án đặc biệt khác trong luật lao động, luật dân sự hay luật thương mại. Cả hai phương thức này đối với việc giám sát tư pháp và tổ chức Toà án thực thi quyền đó đều rất đặc biệt. Ngược lại với trường hợp nói trên, truyền thống thông luật về giám sát tư pháp thường hàm ý rằng các Toà án tư pháp thường là những Toà có quyền thực thi việc giám sát tư pháp đối với các hoạt động hành chính thông qua các thông luật9.

Hệ thống Toà án Việt Nam tổ chức ra các Toà chuyên trách để xét xử các loại vụ án khác nhau, trong đó có Toà hành chính. Toà hành chính ở Việt Nam là một loại Toà chuyên trách nằm trong khuôn khổ của hệ thống Toà án nhân nhân, không phải là một hệ thống độc lập như ở Pháp. Sự tồn tại của Toà hành chính là cơ sở quan trọng cho việc thiết lập chế độ giám sát tư pháp đối với các hoạt động hành chính ở Việt Nam. Không cần phải thành lập thêm một cơ quan nào, Toà hành chính trong hệ thống Toà án nhân dân hiện nay ở nước ta có thể đảm đương được nhiệm vụ tài phán về tính hợp hiến các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. Như vậy, cần mở rộng thẩm quyền của Toà hành chính: không chỉ có quyềt xét xử các quyết định hành chính cá biệt và các hành vi hành chính, toà hành chính cần có quyền xét xử các quyết định quy phạm của các chủ thể hành chính khi có dấu hiệu bất hợp hiến và có thể là bất hợp pháp. Toà hành chính thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà hành chính thuộc Toà án nhân dân tối cao có thể đảm nhận thẩm quyền này.

Toà hành chính thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh cần có thêm thẩm quyền tài phán về tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản do Hội đồng nhân dân (Nghị quyết) và Uỷ ban nhân dân ban hành (Quyết định, Chỉ thị). Toà hành chính thuộc Toà án nhân dân tối cao cần có quyền tài phán về tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành (Thông tư).

Về thủ tục, cần thừa nhận cả quyền giám sát trừu tượng lẫn giám sát cụ thể của Toà hành chính. Về giám sát trừu tượng, cần thừa nhận rằng bất cứ công dân, tổ chức nào phát hiện một văn bản của cơ quan hành chính nhà nước có dấu hiệu bất hợp hiến, bất hợp pháp cũng có quyền khởi hiện ra Toà hành chính yêu cầu Toà hành chính kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của nó. Về giám sát cụ thể, trong một vụ việc liên quan đến cơ quan hành chính, nếu nhận thấy rằng văn bản mà cơ quan hành chính dự định áp dụng đối với trường hợp của mình có dấu hiệu bất hợp hiến, bất hợp pháp thì người dân có quyền yêu cầu hoãn áp dụng văn bản đó và yêu cầu Toà hành chính kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của nó.

Về hệ quả, Toà hành chính có quyền tuyên bố huỷ bỏ một văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan hành chính ban hành nếu xác định được tính chất bất hợp hiến, bất hợp pháp. Văn bản được tuyên là bất hợp hiến, bất hợp pháp không thể được các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng.

Hai là, một số điều kiện thực hiện cơ chế kiểm tra của tư pháp đối với tính hợp pháp các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ở Việt Nam.

Để thực hiện được những điều nói trên, cần sửa đổi Hiến pháp. Cụ thể, Hiến pháp phải trao cho Toà án quyền giải thích Hiến pháp và Luật thay vì cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Điều 91). Sửa đổi các quy định liên quan đến việc giám sát văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bộ, cơ quan ngang Bộ. Theo đó, quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát văn bản của Hội đồng nhân dân (Điều 91), quyền của Thủ tướng Chính phủ giám sát văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cần được chuyển cho Toà hành chính thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh (Điều 114); quyền của Thủ tướng giám sát văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cần chuyển cho Toà hành chính thuộc Toà án nhân dân tối cao (Điều 114).

Ngoài ra, việc thừa nhận quyền giám sát tư pháp của Toà hành chính cũng liên quan đến quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam đang chủ trương cải cách hệ thống toà án theo cấp xét xử, không tổ chức toà án theo đơn vị hành chính lãnh thổ như hiện nay. Điều này là một yếu tố cần thiết cho sự tồn tại chế độ giám sát tư pháp của Toà hành chính. Nếu Toà hành chính cấp tỉnh còn được tổ chức theo đơn vị hành chính cấp tỉnh thì khó có thể thực hiện được việc Toà hành chính phán quyết về tính hợp hiến các văn bản của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Toà hành chính chỉ có thể thực hiện một cách thực tế quyền giám sát tư pháp của mình nếu Toà hành chính được tổ chức độc lập với cơ quan chính quyền địa phương.

(1) Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam năm 2008.

(2) Số chuyên đề về rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp.

(3) Hiện tại, Thông tư này đã được bãi hỏ.

(4) Làm luật sai - Xử lý thế nào? www.cand.com.vn

(5)  Xem Điều 89, 90, 91 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

(6) TS. Nguyễn Hoàng Anh, Toà Hiến pháp, Toà Hành chính và vai trò đảm bảo tính thống nhất của pháp luật.

(7) Lê Đình Chân. Luật hiến pháp và các định chế chính trị. Cuốn I. Sài gòn, 1974, tr. 300-301.

(8) Lê Đình Chân. Luật hiến pháp, Khuôn mẫu dân chủ, cuốn II, Sài Gòn 1975, tr. 78.

(9) Allan R.Brewer- Carías. Judicial review in comparative law. Cambridge University press, p.84.

 

 

Nguyễn Thị Phượng - Trung tâm Luật so sánh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Nguyên tắc "Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" - thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện (15/01/2013)
Vai trò và giới hạn của tòa hiến pháp, tòa hành chính trong việc đảm bảo tính thống nhất của pháp luật (02/07/2012)
Kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật từ góc độ phân quyền (22/02/2012)
Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyền (17/02/2012)
Thay đổi trong quan điểm chỉ đạo của Đảng về tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự (07/09/2011)
Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước (28/06/2011)
Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (26/05/2011)
Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước (28/06/2011)
2.jpg
Phòng Biên tập - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp đón nhận Huân chương lao động hạng ba tại Hà Nội ngày 18/10/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu

Chính sách ưu đãi thuế, tài chính, ngân hàng ở một số đặc khu thuộc Trung Quốc và kiến nghị cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam

Sự hình thành luật tập quán quốc tế trước bối cảnh thay đổi cơ bản

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Giải thích pháp luật - một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân