Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ năm, 08/01/2009, 00:15(GMT+7)
Nhà nước và Pháp luật

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam
Pháp luật nói chung và pháp luật về đại biểu Quốc hội (ĐBQH) nói riêng là phương tiện để thể chế, ghi nhận sự phát triển của nền dân chủ; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân; là phương tiện để đề cao nhân tố con người, quyền con người, quyền công dân và giải quyết hài hoà mối quan hệ mà trước tiên là về mặt lợi ích giữa nhà nước và nhân dân; bảo đảm để các quyền của tổ chức, công dân được thực hiện trên thực tế.

 

               

Pháp luật nói chung và pháp luật về đại biểu Quốc hội (ĐBQH) nói riêng là phương tiện để thể chế, ghi nhận sự phát triển của nền dân chủ; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân; là phương tiện để đề cao nhân tố con người, quyền con người, quyền công dân và giải quyết hài hoà mối quan hệ mà trước tiên là về mặt lợi ích giữa nhà nước và nhân dân; bảo đảm để các quyền của tổ chức, công dân được thực hiện trên thực tế. Việc nghiên cứu để tiếp tục cải cách chế độ bầu cử đại biểu trong các cơ quan đại diện, dân cử; đổi mới việc tiếp xúc, đối thoại giữa cử tri với ĐBQH; xác định rõ ràng, minh bạch trách nhiệm của đại biểu trước cử tri, nhân dân...; nâng cao năng lực và chất lượng của các cơ quan, đại biểu dân cử; tăng cường quyền giám sát của nhân dân thông qua cơ quan đại diện và giám sát trực tiếp đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, công chức, viên chức nhà nước đang là nội dung quan trọng của việc xây dựng và tăng cường nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Mặt khác, hoạt động đại biểu cũng là một trong số những hoạt động được chuyên môn hoá ở mức độ cao. Để có thể thực hiện tốt khối lượng công việc phức tạp, đa dạng đó, ĐBQH cần phải có trình độ, năng lực, kỹ năng và phương thức thực hiện nhiệm vụ cần thiết. Ngoài ra, đại biểu cần phải có thời gian và điều kiện làm việc. Do vậy, pháp luật về ĐBQH cũng có những thay đổi nhất định nhằm làm rõ hơn, minh bạch hơn những vấn đề này, nhất là trong việc bảo đảm các điều kiện tốt nhất cho hoạt động của đại biểu.

1. Giải pháp hoàn thiện về nội dung của pháp luật về ĐBQH

Hoàn thiện các quy phạm pháp luật về bầu cử ĐBQH

Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh đã khẳng định: "Không có bầu cử tự do, dân chủ thì không có Quốc hội dân chủ, không có nhà nước của dân, do dân và vì dân"[1]. Do đó, cùng với việc hoàn thiện các quy định về đại biểu thì việc nghiên cứu, hoàn thiện chế độ bầu cử, bao gồm các vấn đề về nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cử, ứng cử, cơ cấu, tiêu chuẩn, phương thức lựa chọn, giới thiệu, hiệp thương, thủ tục bầu cử, bảo đảm tính đại diện, tính quyền lực của nhân dân và chất lượng ĐBQH là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Quốc hội cần có cơ cấu, thành phần đại biểu có chất lượng cao, phù hợp với vị trí, vai trò và chức năng của Quốc hội. ĐBQH phải là người thật sự có năng lực và điều kiện tham gia thực hiện các nhiệm vụ to lớn của Quốc hội, đặc biệt là cần có đủ người để tham gia thiết thực vào hoạt động của các Uỷ ban của Quốc hội và để bố trí đại biểu chuyên trách. Bên cạnh vấn đề trình độ, năng lực, các ĐBQH còn phải là những người có phẩm chất chính trị tốt, trong sạch, có bản lĩnh, kiên định, có quan điểm đúng đắn và dám đấu tranh chống tham nhũng.

Quốc hội cần có cơ cấu thành phần đại biểu tiêu biểu cho các tầng lớp nhân dân và các dân tộc, bao gồm đại biểu của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, đại diện của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội,… có tỷ lệ hợp lý ĐBQH là người dân tộc thiểu số, phụ nữ và người ngoài Đảng. Trong các khoá Quốc hội tới, số ĐBQH ngoài Đảng cần chiếm một tỷ lệ cao hơn (hiện nay tỷ lệ này mới có 10,24%)[2]. Tất nhiên, đây cũng phải là những đại biểu tán thành đường lối xây dựng CNXH của Đảng, sẵn sàng phấn đấu vì sự nghiệp “ dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ”, góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân của Quốc hội. Ngoài ra, để bảo đảm tính kế thừa, tính chuyên nghiệp trong hoạt động của ĐBQH giữa các khoá Quốc hội thì mỗi cuộc bầu cử mới nên có số ĐBQH khoá trước tái cử từ 35 - 50% tổng số ĐBQH.

Chế độ bầu cử ĐBQH mới phải phát huy được dân chủ trong việc giới thiệu lựa chọn và hoàn thiện cơ chế, sao cho trên thực tế, người dân có điều kiện để bầu được các đại biểu thực sự vừa đại diện cho lợi ích của nhân dân cả nước, kết hợp hài hoà với lợi ích của cử tri ở đơn vị bầu cử. Cần làm rõ hơn và nhấn mạnh vai trò của ĐBQH là thành viên của Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân thông qua việc tham gia lựa chọn, giới thiệu của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội khác trong phạm vi cả nước, đồng thời tôn trọng vai trò của cấp uỷ, Mặt trận và đoàn thể ở địa phương. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội khác cần được đề cao không chỉ trong quá trình lựa chọn, hiệp thương giới thiệu ĐBQH mà còn trong việc phối hợp, hỗ trợ, giám sát hoạt động của ĐBQH trong suốt nhiệm kỳ.

Về quan hệ giữa tiêu chuẩn, cơ cấu đại biểu: Có thể nói, tiêu chuẩn và cơ cấu đại biểu có mối quan hệ biện chứng với nhau; là yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm mục tiêu, hiệu quả hoạt động. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu đại biểu vừa đáp ứng tính truyền thống trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam, vừa hướng tới giải quyết những yêu cầu của công cuộc đổi mới đã và đang đặt ra cho Quốc hội. Trong đó, tiêu chuẩn đại biểu phải được xác định là nhân tố trung tâm, đóng vai trò nền tảng. Những người được giới thiệu ra ứng cử ĐBQH phải có đủ tiêu chuẩn luật định, đủ những tiêu chuẩn được nêu trong Nghị quyết trung ương 3 (khoá VIII) của Đảng như phải có tính đảng cao, gương mẫu về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thể hiện rõ năng lực thông qua hoạt động thực tiễn và phải được nhân dân tín nhiệm, phải là người có khả năng và điều kiện thực tế tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề ở tầm vĩ mô thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. Trên cơ sở bảo đảm nền tảng về tiêu chuẩn này, cơ cấu một cách hợp lý, đại diện cho các giai cấp, thành phần xã hội, nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính, địa bàn, tôn giáo, dân tộc … trong Quốc hội cần được đặt ra nghiên cứu, thực hiện.

Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng đến cơ cấu mà không chú trọng đến tiêu chuẩn thì hiệu quả, chất lượng hoạt động của đại biểu chắc chắn sẽ không cao. Ngược lại, nếu Quốc hội có các đại biểu đủ tiêu chuẩn, nhưng không có một cơ cấu hợp lý thì yêu cầu đặt ra về tính đại diện cao nhất của nhân dân trong việc phản ánh và bảo vệ lợi ích của mọi giai tầng trong xã hội cũng không đạt kết quả tốt. Một cơ cấu đại biểu hợp lý thể hiện ở chỗ, xét trong một tổng thể chung, trình độ, năng lực của mỗi đại biểu có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sự phối hợp, thống nhất trong quá trình hoạt động của các đại biểu cũng như của Quốc hội. Bên cạnh đó, yếu tố hợp lý trong cơ cấu đại biểu còn đòi hỏi các ĐBQH phải có những phẩm chất, trình độ tương đối đồng đều, có những kinh nghiệm phong phú về từng loại, lĩnh vực công tác (đảng, chính quyền, đoàn thể, các lĩnh vực chuyên môn về kinh tế, văn hoá, xã hội,…). Thực tế hoạt động của Quốc hội trong những năm gần đây cho thấy, tỷ lệ đại biểu trẻ tuổi, đại biểu là phụ nữ, người ngoài đảng còn thấp; do vậy, trên cơ sở tiêu chuẩn mà cần thiết phải tăng tỷ lệ những thành phần đại biểu này. Cơ cấu và tiêu chuẩn đại biểu luôn ràng buộc, gắn bó mật thiết với nhau trong mối quan hệ nhân quả và do vậy, việc quá nhấn mạnh đến tiêu chuẩn hay cơ cấu đều có thể dẫn đến những hạn chế nhất định, ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động của Quốc hội, ĐBQH.

Nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH

- Về thực hiện quyền lập pháp của ĐBQH

Một là, để bảo đảm chất lượng tham gia xây dựng dự án luật, pháp lệnh của ĐBQH thì thời gian gửi tài liệu cho ĐBQH trước kỳ họp 20 ngày là không hợp lý, chưa phản ánh đúng thực tiễn của việc đọc, thu thập, nghiên cứu tài liệu, lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan …, nhất là đối với các dự án lớn như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước… Do vậy, việc cung cấp thông tin tài liệu về dự án luật giữa hai kỳ họp phải được tiến hành với thời gian dài hơn trước kỳ họp và phải được tiến hành nhiều lần, tạo hệ thống các quan điểm, kiến thức về các vấn đề của dự án luật cho ĐBQH.

Hai là, cần có những quy định cụ thể về hệ thống tài liệu liên quan đến dự án luật làm cơ sở để ĐBQH có đủ thông tin cần thiết trong việc nghiên cứu, hình thành các quan điểm, ý kiến đóng góp.

Ba là, bảo đảm có đủ các cơ chế mang tính khả thi trong việc ĐBQH tiếp thu ý kiến cử tri, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, sử dụng chuyên gia, tư vấn pháp lý và tư vấn các lĩnh vực chuyên môn liên quan tới dự án luật. Đặc biệt, cần xác định rõ trách nhiệm của bộ  máy tham mưu giúp việc cho ĐBQH ở trung ương và địa phương.

Bốn là, kinh phí dành cho hoạt động lập pháp của ĐBQH phải được bảo đảm một cách hợp lý, tránh phải phụ thuộc vào các cơ quan hữu quan như hiện nay và phải coi đó là một khoản độc lập từ ngân sách nhà nước nhằm góp phần để ĐBQH có được điều kiện độc lập hoạt động, hình thành luận chứng, quan điểm về các nội dung của dự án luật một cách khoa học, hợp quy luật, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của cử tri, phúc đáp yêu cầu của cuộc sống.

- Về trình dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh của ĐBQH

Hiện nay, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định trình tự, thủ tục trình dự án luật, dự án pháp lệnh của ĐBQH; trình tự, thủ tục trình kiến nghị về luật được quy định tại Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH. Tuy nhiên, cơ chế thực hiện và các điều kiện bảo đảm để tổ chức triển khai thực hiện các quy định này trên thực tế như thế nào đang là vấn đề còn bỏ ngỏ. Theo kinh nghiệm hoạt động của Quốc hội một số nước thì quyền sáng kiến pháp luật của cá nhân ĐBQH được thực hiện chủ yếu thông qua các kiến nghị về luật, còn quyền trình dự án luật thực hiện chủ yếu thông qua một tập thể (một uỷ ban, nhóm ĐBQH …). Do đặc thù về tổ chức của Quốc hội Việt Nam, đa số ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm nên hình thức kiến nghị về luật là một phương thức khá phù hợp với ĐBQH. Riêng về việc trình dự án luật, dự án pháp lệnh của ĐBQH có thể thực hiện theo một cơ chế mới thông qua nhóm ĐBQH theo giới tính, ngành nghề chuyên môn, hiệp hội, tổ chức chính trị - xã hội... hoặc có thể là uỷ ban tương ứng của Quốc hội. Thực tế cho thấy đây là phương án có tính khả thi. Việc thông qua các nhóm trên để soạn thảo, trình dự án luật do ĐBQH kiến nghị có thể kết hợp với việc giao cho chính ĐBQH chủ trì, chỉ đạo việc nghiên cứu, soạn thảo và trình dự án luật đó. Việc có quy định khả thi và cơ chế hợp lý, thuận lợi để ĐBQH tăng cường trình dự án luật, pháp lệnh sẽ tăng cường hơn nữa vai trò của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, bảo đảm tính chủ động, khách quan, hạn chế tình trạng cục bộ vì lợi ích ngành, cơ quan thuộc hệ thống hành pháp, tư pháp.

Việc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định trình tự thông qua dự án luật tại kỳ họp (chủ yếu các dự án được thông qua tại hai kỳ họp) đã tạo ra một phương thức làm luật mới của Quốc hội, tạo điều kiện để các ĐBQH tập trung vào những vấn đề lớn có tính vĩ mô trong việc hoạch định chính sách, tránh được sự sa đà vào kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, để tại một kỳ họp có thể cho ý kiến, thông qua được nhiều dự án luật mà vẫn bảo đảm chất lượng thì hoạt động lập pháp của ĐBQH còn nhiều việc phải làm. Trước hết, trong quá trình thảo luận, chỉnh lý các dự án luật mà có nhiều ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề của dự án là một vấn đề tất yếu, vì mỗi ĐBQH xuất phát từ vị trí công tác, nghề nghiệp, chuyên môn các lĩnh vực khác nhau có thể nhìn nhận vấn đề dưới các góc độ khác nhau. Đây là dấu hiệu đáng mừng, vì Việt Nam cần đổi mới hoạt động làm luật theo hướng chuyển từ Quốc hội chỉ có tham luận sang Quốc hội tranh luận về các vấn đề. Việc phát huy dân chủ trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng để các ĐBQH tự do thể hiện được quan điểm của mình. Tuy nhiên, thời gian tại phiên họp toàn thể thường không đủ cho tất cả các ĐBQH trình bày, phát biểu ý kiến, vì vậy, sau mỗi buổi thảo luận cần tổng hợp ý kiến phát biểu, nêu các phương án, ý kiến khác nhau và đề nghị các ĐBQH gửi ý kiến chưa được phát biểu cho Đoàn thư ký để tổng hợp. Căn cứ vào quan điểm, định hướng chung, trên cơ sở tổng hợp ý kiến các ĐBQH, cần nghiên cứu, giải trình cặn kẽ về các phương án, ý kiến để ĐBQH cân nhắc, quyết định. Việc thảo luận của ĐBQH tại phiên họp toàn thể cũng cần đi thẳng vào vấn đề cơ bản, tập trung vào các định hướng lớn, thảo luận về những nội dung cụ thể của dự án luật cũng phải xoay quanh các định hướng này để bảo đảm và tăng cường tính hiệu quả của tranh luận, tránh sa đà vào những vấn đề không cần thiết.

Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của Quốc hội là làm việc tập thể và quyết định theo đa số. Nguyên tắc này được áp dụng trong phần lớn các công việc của Quốc hội, nhất là trong hoạt động lập pháp tại kỳ họp. Tuy nhiên, bên cạnh cơ chế biểu quyết theo đa số, cần có cơ chế để ĐBQH có quyền trình bày ý kiến của mình khác với ý kiến đa số và trong pháp luật về ĐBQH cần quy định trách nhiệm giải trình những vấn đề không được ĐBQH đồng ý, vì trong những trường hợp nhất định có khi chân lý không thuộc về số đông. Biểu quyết theo đa số nhưng phải bảo vệ quyền của ý kiến thiểu số là đặc trưng trong hoạt động của Quốc hội. Nếu không tạo điều kiện cho tất cả các đại biểu Quốc hội được tham gia và tác động lên quá trình ra chính sách thì Quốc hội sẽ không còn đồng nghĩa là cơ quan đại diện. Trong việc thảo luận, chỉnh lý, thông qua dự án luật, chính kiến của ĐBQH phải được thể hiện, việc “đúng”, “sai” cần phải được giải thích, chứng minh một cách rõ ràng, minh bạch,  không căn cứ vào đó là ý kiến của thiểu số hay đa số. Trên thực tế, trước khi biểu quyết về một vấn đề gì đó, Chủ toạ phiên họp thường hỏi các ĐBQH còn có ý kiến gì khác. Đây là một là một yêu cầu cần thiết bảo đảm tính dân chủ và tôn trọng chính kiến của đại biểu trong hoạt động lập pháp của Quốc hội và cần phải được quy định cụ thể và tiến hành một cách thực chất hơn.

- Về thực hiện quyền giám sát của ĐBQH

Hoạt động giám sát của ĐBQH được tập trung ở việc thực hiện quyền chất vấn và tiếp nhận, nghiên cứu, xử lý, đôn đốc, giám sát việc giải quyết đối với các kiến nghị, đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi ĐBQH.

+ Chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động chất vấn tại kỳ họp cần hoàn thiện phương thức chất vấn và trả lời chất vấn theo hướng sau đây:

Một là, chất vấn thể hiện bản lĩnh, trách nhiệm và năng lực tổng hợp của ĐBQH; năng lực chất vấn của ĐBQH phụ thuộc lớn vào các thông tin mà ĐBQH thu nhận được. Do đó, ĐBQH phải được cung cấp thông tin một cách đầy đủ, toàn diện và kịp thời về những vấn đề mà đại biểu quan tâm chất vấn. Tuy nhiên, cần có những thông tin đã được xử lý thông qua chính ĐBQH, bằng chuyên gia phân tích, tư vấn, bằng thảo luận, tranh luận tại kỳ họp… Để chất vấn của ĐBQH phải thật "đắt", làm rõ được trách nhiệm của đối tượng bị chất vấn, tạo cơ sở để Quốc hội buộc họ nhận thức ra và sửa chữa khắc phục những yếu kém. Đây là khâu còn yếu cần phải được hoàn thiện trong thời gian tới.

Hai là, sau khi nghe báo cáo công tác của Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các báo cáo khác (nếu có), các ĐBQH gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội. Đoàn thư ký kỳ họp có trách nhiệm tổng hợp các chất vấn. Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến và trình Quốc hội quyết định những chất vấn phải trả lời tại hội trường, những chất vấn cần được trả lời bằng văn bản, những chất vấn cần được chuẩn bị để trả lời tại kỳ họp khác của Quốc hội hoặc trả lời tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Ba là, sau khi nghe trả lời chất vấn, Quốc hội cần có kết luận hoặc ra nghị quyết làm rõ trách nhiệm của đối tượng bị chất vấn và giao nhiệm vụ cụ thể cho Chính phủ, các thành viên của Chính phủ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao... trong việc khắc phục những yếu kém, hạn chế mà ĐBQH chất vấn. Đây là cơ sở pháp lý để biến chất vấn của ĐBQH thành giám sát tối cao của Quốc hội tại kỳ họp và có giá trị pháp lý buộc chủ thể bị chất vấn phải thực hiện, đồng thời để tiếp tục giám sát, đánh giá tại các kỳ họp tiếp theo. Nếu trong một thời hạn hợp lý (qua 2-3 kỳ họp) mà các cá nhân, cơ quan không đề ra và thực hiện được những biện pháp khắc phục hữu hiệu thì cần xem xét và có thể bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người này. Đương nhiên, khi thực hiện cũng cần đánh giá đúng khó khăn khách quan và khuyết điểm chủ quan của người, cơ quan có trách nhiệm.

Việc ra nghị quyết của Quốc hội về trách nhiệm của người bị chất vấn phải được xem như một hoạt động bình thường, thể hiện tính cương quyết, công khai, minh bạch trong hoạt động giám sát của các ĐBQH.

Bốn là, không nên bố trí chất vấn và trả lời chất vấn vào cuối kỳ họp, vì dễ có tâm lý buông xuôi, cho qua. Nên bố trí vào khoảng thời gian từ giữa kỳ họp đến khoảng 2/3 kỳ họp. Căn cứ vào nội dung chất vấn và trả lời chất vấn, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) quyết định những vấn đề cần báo cáo, giải trình hoặc những biện pháp mà các cơ quan hữu quan phải khắc phục và báo cáo Quốc hội. Đương nhiên, tuỳ vấn đề và mức độ trách nhiệm mà xác định thời hạn báo cáo để đánh giá hoặc có thể tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm nhưng cần  báo cáo về biện pháp khắc phục đã làm tại kỳ họp tiếp theo của Quốc hội. Như vậy để các cơ quan phải thực sự nêu cao trách nhiệm, có những biện pháp hữu hiệu giải quyết những vấn đề bức xúc mà ĐBQH đã chất vấn.

Năm là, đề cao trách nhiệm, chất lượng chất vấn của đại biểu. Chất vấn cần hướng vào các vấn đề bức xúc của đời sống xã hội mà cử tri đòi hỏi để làm rõ trách nhiệm, khuyết điểm của người bị chất vấn và yêu cầu họ phải thực hiện các biện pháp khắc phục. Tránh tình trạng nêu chất vấn không rõ hoặc chỉ để biết thông tin, không liên quan tới thẩm quyền, trách nhiệm của người, cơ quan bị chất vấn.

Sáu là, đối với những vấn đề bức xúc mà cử tri nêu ra, ĐBQH phải nghiên cứu trước, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin hoặc tự mình thu thập, xử lý thông tin về những vấn đề liên quan đến chất vấn. Chất lượng và hiệu quả của hoạt động chất vấn phụ thuộc vào chất lượng, đúng bản chất sự việc, buộc đối tượng bị chất vấn phải "tâm phục, khẩu phục" sẽ làm cho cử tri cả nước có điều kiện để đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước và thêm tin tưởng vào Quốc hội.

Bảy là, đối với người trả lời chất vấn phải nghiên cứu kỹ yêu cầu chất vấn, chuẩn bị đầy đủ dữ liệu, trả lời tập trung, chính xác, súc tích vấn đề đã nêu. Không báo cáo vòng vo, liệt kê thành tích ngành, né tránh trách nhiệm hoặc thanh minh, đổ lỗi cho ngành khác, cho khách quan; sau trả lời chất vấn phải đề ra và thực hiện cho được biện pháp khắc phục các hạn chế, khuyết điểm.

+ Về tiếp dân và xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân

Để khắc phục những khó khăn, hạn chế trong công tác ĐBQH tiếp dân, xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân, cần giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, cần quy định rõ trách nhiệm của Đoàn ĐBQH, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân trong việc tổ chức để ĐBQH tiếp dân, xử lý kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân và đôn đốc, giám sát việc giải quyết của các cơ quan  hữu quan.

Hai là, quy định rõ trách nhiệm của Văn phòng và Thư ký Đoàn ĐBQH trong việc tổ chức, giúp ĐBQH phân loại, xử lý kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân.

Ba là, bố trí cán bộ chuyên làm công tác tiếp dân, giúp ĐBQH trong việc theo dõi, đôn đốc các cơ quan giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo. Cán bộ tiếp dân phải có đủ tư cách, bản lĩnh, nắm vững pháp luật để giải thích cho nhân dân trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.

Bốn là, cần quy định cụ thể trách nhiệm, thời hạn của các cơ quan trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân do ĐBQH chuyển đến. Trong trường hợp cơ quan hữu quan thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố tình không giải quyết theo đúng quy định của pháp luật thì có cơ chế để ĐBQH yêu cầu cấp có thẩm quyền xử lý và đăng tải vụ việc trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH thì cần nghiên cứu để hoàn thiện các quy định về tiêu chí đánh giá, nhận xét chất lượng thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH.

Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội và trên thực tế, hàng năm UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm báo cáo công tác của mình tại mỗi kỳ họp Quốc hội. Tại mỗi khoá, Quốc hội xem xét, thảo luận, đánh giá báo cáo công tác của nhiệm kỳ của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội. Tuy nhiên, cho tới nay, có thể nói chưa có cơ chế, hình thức rõ ràng, minh bạch để cử tri, Quốc hội đánh giá nhận xét chất lượng hoạt động, việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH. Mặc dù pháp luật đã có những quy định trách nhiệm của ĐBQH và hậu quả pháp lý trong trường hợp vi phạm pháp luật nhưng lại chưa có quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá chất lượng thực thi nhiệm vụ của ĐBQH. Đây là một trong các nguyên nhân làm cho việc đánh giá thực trạng hoạt động, nhất là trách nhiệm của ĐBQH trước cử tri và Quốc hội là chưa rõ ràng, chưa minh bạch. Cho đến nay cũng chỉ chủ yếu dựa trên tinh thần tự giác của ĐBQH.

Chế độ hoạt động của ĐBQH

Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Quốc hội đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện chế độ đại biểu hoạt động chuyên trách và kiêm nhiệm. Việc giảm tỷ lệ đại biểu là những người hoạt động kiêm nhiệm trong bộ máy các cơ quan hành pháp, tư pháp và tăng cường các ĐBQH hoạt động chuyên trách là một trong những nội dung đổi mới căn bản, đúng hướng về tổ chức Quốc hội cần phải được tiếp tục hoàn thiện. Tuy nhiên, cho đến nay số đại biểu chuyên trách so với tổng số ĐBQH còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu  đổi mới tổ chức và họat động của Quốc hội theo Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001. Một trong những nguyên nhân là do cho tới nay, Quốc hội vẫn chưa bố trí đủ số đại biểu cần thiết hoạt động theo chế độ chuyên trách vì chúng ta chưa có các quy định cụ thể về đặc điểm, tính chất của ĐBQH họat động chuyên trách và kiêm nhiệm; chế độ, phương thức làm việc, những điều kiện bảo đảm cho hoạt động cũng như về chế độ của ĐBQH hoạt động chuyên trách… Trên cơ sở những quy định của Hiến pháp năm 1992 về nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH, cần nghiên cứu để sớm có quy định cụ thể đối với ĐBQH hoạt động chuyên trách và kiêm nhiệm, nhất là về cơ chế và chế độ làm việc.

Chế độ hoạt động của ĐBQH phải bảo đảm sự bình đẳng về quyền và trách nhiệm giữa các ĐBQH. Các ĐBQH dù hoạt động chuyên trách hay kiêm nhiệm thì họ vẫn là đại biểu của nhân dân, luôn bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm. “Không thể có đại biểu lãnh đạo, đại biểu bị lãnh đạo”[3]. Họ đều là đại biểu của một bộ phận cử tri, vừa là đại biểu của nhân dân cả nước. Do vậy, “cơ cấu của Quốc hội cần quan niệm rằng đó là những hình thức tổ chức để thực hành dân chủ ở Quốc hội, chứ tuyệt nhiên không thể là cấu trúc phân định quyền uy trong Quốc hội”[4].

Để các ĐBQH làm tròn trách nhiệm của mình với tư cách là người đại diện cho cử tri và thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội thì các đại biểu, kể cả các ĐBQH kiêm nhiệm phải lấy việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu làm hoạt động chính của mình. Việc tham gia hoạt động thực tiễn của ĐBQH ở các cơ quan, tổ chức, địa phương là những mạng liên kết giúp cho ĐBQH tránh được sự quan liêu, thiếu thực tiễn. Việc xác định tính chất của chế độ hoạt động kiêm nhiệm như vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí cơ cấu và tổ chức bộ máy của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong thời gian tới và phải được quy định rõ ràng cụ thể ngay trong luật thay vì quy định: “Đại biểu Quốc hội hoạt động theo chế độ không chuyên trách được dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc để làm nhiệm vụ đại biểu. Cơ quan, tổ chức nơi đại biểu làm việc phải tạo điều kiện để đại biểu làm nhiệm vụ”[5]. Trước mắt, để bảo đảm cho các ĐBQH kiêm nhiệm trong điều kiện chỉ có thể dành một phần ba thời gian làm việc cho Quốc hội nhưng có thể thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn như các đại biểu hoạt động chuyên trách thì cần nghiên cứu để quy định chế độ làm việc phù hợp đối với họ. Theo chúng tôi, có hai vấn đề cần được giải quyết, đó là chế độ thông tin cho ĐBQH và việc bố trí thư ký làm tham mưu, giúp việc cho ĐBQH. Đối với ĐBQH của nhiều nước trên thế giới thì việc bố trí thư ký giúp việc cho ĐBQH là một trong những yêu cầu bắt buộc để thực hiện nhiệm vụ đại biểu, mỗi ĐBQH có số thư ký cần thiết phục vụ cho hoạt động của mình. Đối với các đại biểu chuyên trách ở Việt Nam có đội ngũ cán bộ, chuyên viên của Văn phòng Quốc hội tham mưu, giúp việc chung. Tuy nhiên, đối với đại biểu hoạt động kiêm nhiệm thì dường như họ luôn “đơn phương độc mã”, giữa hai kỳ họp chỉ có thể tập hợp ở Đoàn để hỗ trợ nhau họat động. Đây là một thực tế bất hợp lý nhưng ít được quan tâm. Đã đến lúc cần thiết phải quy định ngay trong luật yêu cầu đặt ra đối với ĐBQH kiêm nhiệm cần phải được bố trí ít nhất một thư ký chuyên nghiệp để tham mưu giúp ĐBQH thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Về cung cấp thông tin tư liệu đối với ĐBQH hoạt động chuyên trách, bên cạnh việc thường xuyên được cập nhật các thông tin liên quan tới hoạt động của Quốc hội còn có thư viện, trung tâm thông tin, khoa học để sẵn sàng phục vụ tại Văn phòng Quốc hội, thì việc cung cấp thông tin liên quan đến công việc của ĐBQH kiêm nhiệm lại thường rất hạn chế. Việc Văn phòng Quốc hội đã thiết lập mạng internet, intranet kết nối thông tin giữa Văn phòng Quốc hội với các Đoàn ĐBQH, các cơ quan nhà nước hữu quan; mở trang web Quốc hội Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử là việc làm rất cần thiết, góp phần khắc phục tình trạng thiếu thông tin của các ĐBQH kiêm nhiệm.

Để tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của ĐBQH kiêm nhiệm thì việc bố trí họ là thành viên của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội là cần thiết. Song trên thực tế, việc bố trí thời gian tham gia hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội của các đại biểu kiêm nhiệm thường gặp khó khăn và như vậy, việc thực hiện nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số là khó khả thi. Để khắc phục tình trạng này, trong thời gian tới phấn đấu để Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội cần bố trí được ít nhất là một phần hai tổng số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

Về chế độ làm việc của các ĐBQH chuyên trách, bên cạnh điểm chung là làm việc thường xuyên, liên tục tại Quốc hội, lấy công việc của Quốc hội làm nhiệm vụ hàng đầu của mình thì còn phụ thuộc việc bố trí, cơ cấu đại biểu vào các cơ quan của Quốc hội (UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội). Họ vừa thực hiện nhiệm vụ ĐBQH vừa thực hiện nhiệm vụ của thành viên các cơ quan này. Đối với Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu chuyên trách được bố trí trong bộ phận Thường trực. Tuy nhiên, với thực tế hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội thì cần quy định rõ ngay trong luật về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế làm việc, mối quan hệ công tác cũng như phạm vi giải quyết công việc của bộ phận Thường trực và thành viên của bộ phận này, trên cơ sở lý luận về sự bình đẳng địa vị pháp lý giữa các ĐBQH để các thành viên trong thường trực, kể cả các đồng chí là Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm hay uỷ viên thường trực của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có thể phát huy được tính độc lập, chủ động sáng tạo trong hoạt động, tránh việc hình thành mối quan hệ hành chính trong bộ phận này.

Hoàn thiện về các biện pháp bảo đảm hoạt động của ĐBQH

Việc cung cấp thông tin và xử lý thông tin là hai mặt của một vấn đề, thông tin thừa hoặc thiếu đều có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả công việc. Ngày nay trước sự bùng nổ khoa học công nghệ, thông tin, mỗi người, nhất là đội ngũ công chức luôn đứng trước những thách thức giữa một “biển thông tin” và nếu không xử lý tốt thì sẽ bị ngập trong biển thông tin đó. Các ĐBQH Việt Nam cũng không ngoài tình trạng như vậy. Vì, như một số ĐBQH tâm sự: khi đến kỳ họp mỗi đại biểu phải tiếp nhận hàng nghìn trang tài liệu và thường không có khả năng và điều kiện để đọc hết được, nhưng đồng thời vẫn thiếu thông tin.

Qua thực tiễn hoạt động có thể thấy ĐBQH tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn rất phong phú như qua hoạt động nghiên cứu, hoạt động thực tiễn của đại biểu, nhất là qua hoạt động tiếp xúc với cử tri, thông tin từ các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan khác của nhà nước, thông tin từ bộ phận tham mưu giúp việc, từ đồng nghiệp, thông tin từ tư vấn, sử dụng chuyên gia, thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng… và thông tin từ kỳ họp Quốc hội.

Trong các nguồn thông tin đó thì thông tin từ bộ phận giúp việc có ý nghĩa quan trọng, vì nó được xử lý một cách khoa học dưới góc độ chuyên môn, song đây là điều mà các ĐBQH lâu nay còn thiếu. Một Đoàn ĐBQH hiện nay chỉ có 1 - 2 thư ký mà thường thực hiện các công việc hành chính. Các ĐBQH Việt Nam kể cả thành viên của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội không có thư ký riêng. Bộ máy giúp việc của Văn phòng Quốc hội chủ yếu là giúp việc cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đối với cá nhân ĐBQH ở mức độ nào đó là tại kỳ họp, còn giữa hai kỳ họp thì hết sức hạn chế. Do vậy, việc vẫn duy trì một bộ máy giúp việc chung cho Quốc hội, ĐBQH như trước đây không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Vẫn biết rằng, điều kiện hoạt động của ĐBQH ở mỗi nước còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia đó. Song vấn đề đặt ra là để bảo đảm cho các quyết định của Quốc hội được đúng đắn, kịp thời và khả thi thì việc đầu tư trong phạm vi cho phép đối với đội ngũ tham mưu giúp việc là điều không thể không làm. Cơ chế sử dụng đội ngũ này cần linh hoạt, có thể là chuyên viên giúp việc, có thể thuê chuyên gia, cộng tác viên… Tuy nhiên, trước mắt bộ máy giúp việc ở trung ương là Văn phòng Quốc hội, ở địa phương là Văn phòng Đoàn ĐBQH cần phải tăng cường đủ số lượng, chất lượng các chuyên gia trên các lĩnh vực về pháp luật, kinh tế, xã hội, đối ngoại… Do đó, “việc xây dựng bộ máy giúp việc đủ mạnh và bảo đảm các điều kiện để đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội cần được quan tâm”[6].

Bên cạnh việc sử dụng bộ máy tham mưu, giúp việc, chuyên gia … và nâng cao hơn nữa năng lực xử lý thông tin của ĐBQH, cần xây dựng Thư viện Quốc hội thành một trung tâm thông tin lớn với những hệ thống thông tin đã được xử lý qua các mạng Intranet hoặc Internet để các ĐBQH có thể sử dụng được ngay. Song, muốn vậy mỗi ĐBQH lại cần có kỹ năng về vấn đề này.

Thực tế cho thấy, trước khi trở thành ĐBQH, các đại biểu hầu hết là những công chức làm việc trong các cơ quan hành pháp, tư pháp … Những kỹ năng trong các lĩnh vực công tác đó thì họ có thừa, song trong hoạt động với tư cách là một ĐBQH thì chưa hẳn, vì theo PGS, TS Đặng Văn Thanh - Nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kinh tế và Ngân sách của Quốc hội khóa XI thì “môi trường của công tác lập pháp không hoàn toàn giống như công tác của cơ quan hành pháp”[7]. Nếu như đặc điểm ở cơ quan hành pháp là chỉ đạo, điều hành thì ở Quốc hội chủ yếu tham gia hoạt động lập pháp, thẩm tra, cho ý kiến, chỉnh lý, thảo luận, thông qua dự án luật, tiến hành giám sát, chất vấn. Các công việc đó đòi hỏi kỹ năng cũng rất khác. Hơn nữa, nói đến Quốc hội là làm luật, nhưng không phải ĐBQH nào cũng có kiến thức sâu sắc về pháp luật … Do đó việc mở các khóa tập huấn, trao đổi kinh nghiệm góp phần nâng cao kỹ năng hoạt động ĐBQH trên các mặt lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước v.v.. là cần thiết. Đây là một nhu cầu cần thiết và chính đáng của ĐBQH cần được quan tâm thực hiện trong thời gian tới.

Kinh phí hoạt động của ĐBQH là điều kiện quan trọng để ĐBQH thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Kinh phí này dành cho ĐBQH hiện nay là quá thấp. Cần bảo đảm kinh phí tối thiểu để mỗi ĐBQH có thể chủ động cho các hoạt động tiếp xúc cử tri, sử dụng chuyên gia, tìm kiếm thông tin tài liệu…

Hiện nay đã có tới gần 1/4 số ĐBQH hoạt động chuyên trách, do đó, không thể duy trì mãi chế độ phụ cấp ĐBQH như hiện nay. Theo chúng tôi, chế độ lương của ĐBQH, nhất là ĐBQH chuyên trách phải có quy định riêng, đặc thù chứ không phải phiên theo hệ lương của cán bộ công chức như hiện nay; kinh phí hoạt động, điều kiện về văn phòng làm việc, phương tiện đi lại, bộ máy giúp việc, cơ sở dữ liệu cung cấp thông tin cho ĐBQH… cần phải được khẩn trương hoàn thiện đáp ứng yêu cầu hoạt động của ĐBQH trong tình hình mới.

2. Hoàn thiện về hình thức pháp luật về ĐBQH

Một là, đổi mới cơ bản quy trình lập pháp, theo đó phải trên cơ sở dân chủ hóa, để khẳng định: “Các quyết định của Đảng và Nhà nước phản ánh được ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn Đảng và của nhân dân”[8]. Thực hiện điều đó đòi hỏi phải “xác định cơ chế phản biện xã hội và tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân đối với các dự án, dự thảo văn bản, quy phạm pháp luật”[9], “có cơ chế tham khảo các hiệp hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Nhu cầu hoạch định chính sách pháp luật, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra các dự thảo, văn bản quy phạm pháp luật”[10]. Liên quan đến hoàn thiện pháp luật về ĐBQH, theo phương pháp này cần chú ý: ĐBQH là đối tượng áp dụng của pháp luật về ĐBQH. Song không như đối tượng áp dụng của các bộ phận pháp luật khác, ĐBQH có quyền sáng kiến lập pháp, có thể tự mình trình các dự án luật, dự án pháp lệnh, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội. Vì lẽ đó, việc đổi mới quy trình lập pháp trong việc hoàn thiện pháp luật về ĐBQH phải lấy ĐBQH là trung tâm, có một quy trình phù hợp, sao cho đại biểu có đủ điều kiện, khả năng đề xuất và thực hiện được sáng kiến lập pháp của mình. Bảo đảm sự tham gia góp ý thiết thực, hiệu quả của nhân dân, trước hết là của cử tri nơi ĐBQH ứng cử từ đó gắn kết mối quan hệ cộng đồng trách nhiệm cử tri và ĐBQH trong lập pháp.

Hai là, kiện toàn cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học hoạt động lập pháp của Quốc hội. Thời gian qua, quy trình lập pháp của Quốc hội được cải tiến một bước quan trọng. Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XI, đã chỉ rõ: Việc ban hành các luật, nghị quyết đã tuân thủ quy trình luật định và được cải tiến hợp lý, chặt chẽ hơn; chất lượng thực hiện các khâu trong quy trình được nâng lên. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới quy định đó còn phải tiếp tục được hoàn thiện hơn, nhằm tạo ra sự liên thông giữa quy trình soạn thảo dự án luật, pháp lệnh với quy trình thẩm tra của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, quy trình cho ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy trình thực hiện, thông qua dự án tại kỳ họp Quốc hội; bảo đảm tính khách quan, theo đó hình thành cơ chế phản biện ngay trong quy trình thẩm tra, thảo luận, thông qua, xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của dự án. Hình thành “tính mở” của quy trình, theo đó việc thẩm tra, thảo luận, thông qua dự án luật, pháp lệnh không bị khép kín trong nội bộ Quốc hội mà có khả năng thu hút các trường đại học, viện nghiên cứu, các nhà khoa học, quản lý góp ý, phản biện dự án, chia sẻ trách nhiệm; coi trọng việc lấy ý kiến nhân dân. Điều quan trọng trong kiện toàn cơ sở pháp lý của hoạt động lập pháp của Quốc hội là phải tăng cường tính hiệu quả, trách nhiệm của ĐBQH trong của hoạt động này.

Ba là, tăng cường và thường xuyên làm tốt công tác rà soát, hệ thống hóa pháp luật nói chung, pháp luật về ĐBQH nói riêng để khắc phục nhanh, kịp thời tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, sự lỗi thời của các quy định làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ĐBQH, bảo đảm sự tương thích của pháp luật về ĐBQH với pháp luật tương tự ở các nước khu vực và thế giới.

Bốn là, phải khắc phục được tính tản mạn trùng lặp, không thống nhất của các quy phạm pháp luật về ĐBQH.

Như trên đã phân  tích, các quy phạm pháp luật đó, ngoài các quy phạm hiến pháp, đều nằm rải rác ở rất nhiều văn bản, gồm Luật Bầu cử ĐBQH, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, các nghị quyết của Quốc hội về Nội quy kỳ họp Quốc hội, Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH... Những nghị quyết trên có tính chất nội bộ, mặc dù được ban hành dưới hình thức văn bản lập pháp, song hiệu lực và phạm vi áp dụng hạn chế, không tạo ra được cơ hội tiếp cận cho người dân, cử tri, lại hay bị thay đổi.

Trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, nâng cao vị trí, vai trò và tính thực quyền của Quốc hội, trong đó có vị trí, vai trò của ĐBQH, bảo đảm sao cho “các đạo luật giữ vị trí trọng tâm, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội”[11], bảo đảm và tăng cường hoạt động đối ngoại của Quốc hội trong điều kiện thực hiện chủ động hội nhập quốc tế đã xuất hiện nhu cầu khách quan phải đẩy mạnh công tác pháp điển hóa, bảo đảm số lượng các đạo luật giữ vị trí ưu tiên trong hệ thống pháp luật. Việc pháp điển hóa cần hướng tới hình thành Bộ luật Tổ chức Quốc hội, trong đó các quy phạm pháp luật về ĐBQH phải có vị trí trọng tâm, đúng với vị trí, vai trò của ĐBQH trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, nói cách khác, phải là một số chế định trong Bộ luật. Nhóm chế định về ĐBQH trong Bộ luật Tổ chức Quốc hội cần có nội dung như: Bầu cử ĐBQH; Địa vị pháp lý của ĐBQH trong thực hiện các chức năng cơ bản của Quốc hội; Chế độ và phương thức làm việc của đại biểu Quốc hội; Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan, tổ chức khác, với cử tri và nhân dân; Các điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH; Quyền miễn trừ và vấn đề bãi miễn, bãi nhiệm ĐBQH...

Để hình thành nhóm chế định về ĐBQH trong khuôn khổ của Bộ luật Tổ chức Quốc hội cần chú ý thực hiện các vấn đề sau:

- Tiến hành tổng kết kinh nghiệm hoạt động của ĐBQH và tổng kết thực tiễn thực hiện pháp luật về ĐBQH, gắn với lịch sử ra đời, phát triển của Quốc hội cũng như của pháp luật về ĐBQH. Trong tổng kết cần đặc biệt chú ý góp ý của các ngành, các cấp, nhất là của cử tri;

- Xây dựng các dự án nghiên cứu, nhằm phát triển cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện Bộ luật Tổ chức Quốc hội, gắn việc xây dựng và hoàn thiện này với yêu cầu của nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội dân chủ và thực hiện chủ động hội nhập quốc tế, cũng như mối quan hệ của cải cách lập pháp, cải cách hành pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam;

- Nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng trong lãnh đạo tổ chức Quốc hội trong toàn bộ quá trình ra đời và phát triển Quốc hội, đặc biệt là các quan điểm, chủ  trương đổi mới Quốc hội trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam;

- Tập hợp và phân loại các văn bản quy phạm pháp luật quy định về ĐBQH, bao gồm các văn bản pháp luật trước đây, văn bản hiện hành, và cả các văn bản quy định về ĐBQH ở một số nước, nhất là ở các nước tham gia các liên minh Quốc hội, các nước khu vực, từ đó phân loại các văn bản, các quy phạm theo các nội dung của pháp luật về ĐBQH;

- Tổ chức việc đánh giá các quy phạm, từ đó khẳng định những quy phạm cần hủy bỏ, những quy phạm cần sửa đổi, bổ sung, những quy phạm được sử dụng hoặc những quy phạm mới cần ban hành, từ đó liên kết các quy phạm theo từng nhóm vấn đề, nội dung của chế định.

Trong quá trình đánh giá và xử lý trên cần chú ý bảo đảm các thuộc tính của pháp luật về ĐBQH, đó là tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính ổn định (tương đối), tính hiệu quả, tính công khai minh bạch và chất lượng kỹ thuật văn bản; chú ý các quy phạm phải cụ thể, dễ tiếp cận, chặt chẽ.

Chúng tôi cho rằng, trước mắt cần sớm nghiên cứu, pháp điển hóa, xây dựng một đạo luật riêng về ĐBQH nhằm thu hút và hoàn thiện một bước cơ bản các quy định về ĐBQH.

Việc xây dựng một đạo luật riêng về ĐBQH là một giải pháp góp phần cơ bản dể giải quyết những bất cập hiện nay của pháp luật hiện hành về ĐBQH, như đã nêu. Đồng thời, tạo điều kiện bổ sung các quy định mà qua rà soát các quy định hiện hành thấy còn chưa đầy đủ hoặc quy định chưa cụ thể, thiếu khả thi. Ngoài ra, việc xây dựng một đạo luật về ĐBQH cũng sẽ là một bước để tiến tới pháp điển hóa cao hơn nữa là xây dựng một Bộ luật về Tổ chức Quốc hội nhằm điều chỉnh tất cả các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH, trong đó có phần quy định về ĐBQH.

 

 

[1] Văn phòng Quốc hội: Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, tr.34.

[2] Văn phòng Quốc hội (2002): Đại biểu Quốc hội khoá XI (2002-2007).

[3] Khánh Vân -Bùi Hà (2003): Đại biểu chuyên trách, Nghiên cứu Lập pháp số 3/2003

[4] Khánh Vân -Bùi Hà (2003): Đại biểu chuyên trách, Nghiên cứu Lập pháp số 3/2003

[5] Điều 52 Luật tổ chức Quốc hội.

[6] Quốc hội (1997): Báo cáo công tác của Quốc hội nhiệm kỳ khoá IX  (1992-1997)

[7] Khánh Vân -Bùi Hà (2003): Điều kiện để thực hiện quyền của đại biểu Quốc hội, Nghiên cứu lập pháp số 5, tr.6.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội, tr.91.

[9] Dự án VI.E /02/015 và UNDP, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng năm 2020, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr.38.

[10] Sđd, tr.37-38.

[11] Dự án VIE 04/015 và UNDP: Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng năm 2020, NXB Tư pháp, H, 2007.

TS. Nguyễn Đình Quyền
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Lựa chọn mô hình điều chỉnh của Luật về công nhận, thi hành bản án dân sự thương mại của tòa án nước ngoài (22/12/2008)
Yêu cầu phân cấp, phân quyền trong thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương (18/12/2008)
Hệ thống điều tra thân thiện với người chưa thành niên (15/12/2008)
Tư pháp phục hồi trong việc xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật (11/12/2008)
Hoàn thiện pháp luật về xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật (05/12/2008)
Pháp luật Việt Nam về tư pháp người chưa thành niên (28/11/2008)
Hành vi định giá hủy diệt và việc ứng dụng trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam (24/11/2008)
Pháp luật Việt Nam về tư pháp người chưa thành niên (28/11/2008)
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 08/01/2009