Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 12/02/2012, 15:40(GMT+7)
 
Nhà nước

Vai trò của các nguồn lực hỗ trợ đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp

Ai cũng biết rằng, một trong những chức năng của Quốc hội và ĐBQH là lập pháp. Và ai cũng biết rằng, một mình ĐBQH không thể thực hiện nổi chức năng nặng nề này. Đi cùng với đại biểu trong suốt chặng đường gian nan từ ý tưởng về một đạo luật đến lúc ra đời đạo luật là cả một nguồn lực hỗ trợ. Ai giúp đại biểu tìm hiểu những ngóc ngách của của một dự luật phức tạp? Để tìm hiểu dự luật đó, đại biểu tìm thông tin ở đâu? Đại biểu tìm đến đâu nếu muốn trình một dự luật khác? V.v…Chỉ một vài câu hỏi như vậy cũng thấy vai trò của các nguồn lực hỗ trợ đối với ĐBQH trong hoạt động lập pháp.

Bài viết này tìm hiểu vai trò đó, gồm bốn phần: phần Một nói về vai trò của nguồn lực hỗ trợ trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin, nghiên cứu của ĐBQH; phần Hai đề cập đến vai trò của cơ chế đó trong việc cung cấp chuyên gia, cán bộ phục vụ ĐBQH; phần Ba phân tích vai trò của nguồn lực hỗ trợ trong việc nâng cao năng lực của ĐBQH, trong đó có năng lực lập pháp thông qua các hoạt động bồi dưỡng; cuối cùng, phần Bốn nhấn mạnh đến vai trò của nguồn lực hỗ trợ đối với ĐBQH trong từng giai đoạn của quy trình lập pháp. Trong mỗi phần, chúng tôi sẽ phân tích vai trò của nguồn lực hỗ trợ ĐBQH trong hoạt động lập pháp trên hai phương diện: vai trò mà chúng ta mong muốn và vai trò trên thực tế hiện nay. Kết luận tổng quan nhất là: giữa vai trò như mong muốn và vai trò trên thực tế vẫn đang có một khoảng cách khá lớn, và để rút ngắn khoảng cách đó còn nhiều việc phải làm.

I- VAI TRÒ ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN, NGHIÊN CỨU

Nguồn lực hỗ trợ về thông tin, dịch vụ nghiên cứu là một trong những điều kiện để ĐBQH hoạt động, trong đó tham gia vào hoạt động lập pháp. Lập pháp là hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất trong các mảng hoạt động của Quốc hội. Chẳng hạn, năm 2006, tại hai kỳ họp, hoạt động lập pháp chiếm gần 64% tổng thời gian của kỳ họp[1]. Tính trung bình cả nhiệm kỳ XI, thời gian dành cho hoạt động lập pháp tại các phiên họp toàn thể là gần 59%, thậm chí kỳ họp thứ 7 của Khóa XI, Quốc hội dành 85% thời gian cho hoạt động lập pháp[2]. Hiện tại mỗi năm, trong lĩnh vực lập pháp, mỗi đại biểu phải tìm hiểu khoảng 20-25 dự luật để cho ý kiến và thông qua[3]. Nghĩa là ít nhất đại biểu phải đọc hàng ngàn trang dự thảo, tờ trình, báo cáo thẩm tra, với những vấn đề khó, chuyên sâu, phạm vi rộng…Chưa kể nếu đại biểu có ý muốn mở rộng thêm kiến thức thì đòi hỏi lượng thông tin càng lớn. Chẳng hạn, nhiều đại biểu kiêm nhiệm ở các ngành, địa phương còn chuẩn bị về các vấn đề trong dự luật liên quan đến ngành, địa phương mình.

Mặt khác, các đại biểu thường than phiền về một nghịch lý, mỗi đại biểu phải “ôm” hàng ngàn trang tài liệu, nhưng vẫn thiếu thông tin chắt lọc, đã qua xử lý. Thiếu thông tin dạng này là một nguyên nhân chủ chốt khiến ĐBQH nhiều lúc biểu quyết theo cảm tính hoặc biểu quyết theo người khác. Thực tế cho thấy trước những vấn đề lớn, nhiều ĐBQH rất lúng túng vì thiếu cơ sở thông tin, không nắm được vấn đề. “Mặc dù như người mù sờ chân voi, nhưng các ĐB vẫn phải đưa tay biểu quyết đồng ý”[4]. Các ĐBQH gọi đây là tình trạng “không biết mà phải biểu quyết”, hoặc như có đại biểu cho biết, “bấm nút mà trong lòng vẫn không yên”.

Hơn nữa, do thời gian có hạn, đại biểu không thể nghiên cứu hết các vấn đề chuyên sâu của các dự luật, mà cần đến những thông tin đáng tin cậy nhất, đồng thời thông tin đó cũng đòi hỏi ít công sức nhất để nắm vững nội dung của nó. Khi các đại biểu than phiền về những vấn đề thông tin, điều đó không chỉ có nghĩa là thiếu thông tin. Điều mà đại biểu muốn nói đến là sự khan hiếm thông tin đã được xử lý chứ không phải chỉ các dữ liệu, dung lượng thông tin. Vậy thì thông tin đã qua xử lý từ đâu mà có? Dĩ nhiên, trước hết đại biểu tự xử lý qua kinh nghiệm, kiến thức, dự cảm của bản thân, đứng từ góc độ, tầm nhìn chính sách. Thứ hai, vai trò của những chuyên gia. Ở nước ta, đại biểu chưa có bộ máy giúp việc riêng nên gánh nặng đó chủ yếu dồn lên các bộ phận chuyên môn trong Văn phòng Quốc hội.

Như vậy, do những vấn đề cần xử lý vừa ở tầm chính sách, vừa có tính chất sự việc, vai trò của các nguồn lực hỗ trợ về thông tin đã qua nghiên cứu là bảo đảm cung cấp cho ĐBQH thông tin tối ưu gồm những yếu tố sau: những khía cạnh cụ thể của chính sách (cần làm những gì?), những hệ quả của nó (ai sẽ được lợi, ai sẽ chịu thiệt) và viễn cảnh thực hiện chính sách (những cơ hội nào?)”. Đặc biệt, phần lớn đại biểu ta kiêm nhiệm, đối với những lĩnh vực không chuyên, theo kinh nghiệm hoạt động nghị trường nước ngoài, các đại biểu cần đến loại thông tin kết hợp được cả sự đánh giá tầm quan trọng của vấn đề, cả nội dung của nó, phạm vi phổ biến và mối quan hệ với những vấn đề khác[5]. Hơn nữa, do đại biểu thiếu thời gian, “kiến thức tiết kiệm thời gian, công sức cho đại biểu là loại kiến thức trả lời trực tiếp vào câu hỏi “có” hay “không” khi biểu quyết”[6].

Những thông tin được cung cấp một phần theo yêu cầu của đại biểu Quốc hội, một phần do các chuyên viên của VPQH thu thập, nghiên cứu và biên soạn. Thông thường, các kết quả nghiên cứu chính là cơ sở để xây dựng chính sách lập pháp và hình thành các giải pháp lập pháp. Đặc biệt, ĐBQH cần biết rằng, ĐBQH có quyền yêu cầu các đơn vị trong VPQH cung cấp thông tin cần thiết cho hoạt động nghị trường.[7] Mỗi đơn vị có một ưu thế riêng trong thông tin, và ĐBQH có thể tận dụng từng ưu thế đó. Ví dụ, Vụ Pháp luật có thể cung cấp cho ĐB những thông tin chuyên sâu liên quan đến các dự luật; Vụ Kinh tế – về các vấn đề kinh tế; Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp- các bài viết, tài liệu của giới nghiên cứu, các chuyên gia ở bộ ngành về tất cả các lĩnh vực; Trung tâm TT-TV-NCKH – các báo cáo, nghiên cứu chuyên đề, điều tra xã hội học…

Quy trình yêu cầu và nhận thông tin của VPQH được thiết kế đơn giản để tạo sự tiện lợi tối đa cho các đại biểu Quốc hội, qua đó tăng cường hiệu quả của việc cung cấp thông tin và vai trò của cơ chế hỗ trợ thông tin. Nếu muốn được cung cấp những thông tin đã được biên soạn sẵn, đại biểu chỉ cần theo dõi danh mục các chuyên đề và ghi vào phiếu yêu cầu. Nếu muốn được cung cấp thông tin theo nội dung mình cần, đại biểu ghi nội dung yêu cầu vào phiếu và gửi lại cho bộ phận cung cấp thông tin.

Cơ chế hỗ trợ thông tin cho ĐBQH cần giúp đại biểu xác định trọng tâm của thông tin. Xuất phát từ bản chất của QH là cơ quan đại diện, bảo vệ các lợi ích khác nhau trong xã hội, cho nên năng lực tham vấn và phản biện chính sách của QH và của từng ĐB cần được tăng cường. Như vậy, trong hoạt động lập pháp, cần đặc biệt chú trọng cung cấp thông tin cho giai đoạn thẩm tra dự án luật và hỗ trợ đại biểu tham vấn chuyên gia, các cơ sở nghiên cứu. Vai trò của cơ chế hỗ trợ thông tin cho ĐBQH thực chất gồm hai nội dung lớn: cung cấp thông tin cần thiết với nhu cầu của đại biểu, ví dụ nhu cầu quyết định về một dự luật; và, thông tin đó đáng tin cậy để giúp đại biểu quyết định đồng ý hay bác bỏ dự luật.

ĐBQH có thể thu nhận thông tin từ nhiều nguồn: từ cử tri, từ các cơ quan tham mưu giúp việc của QH là các vụ trong VPQH và VP Đoàn ĐBQH; từ phía CP cung cấp theo yêu cầu; từ nguồn chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các trường ĐH; các hiệp hội; doanh nghiệp; báo chí…Mỗi nguồn thông tin có điểm mạnh và điểm yếu của mình. ĐBQH có lợi thế là người tập hợp và tận dụng được thế mạnh của từng nguồn đó. Ví dụ, thông tin của các chuyên gia pháp lý, kinh tế giúp ĐHQH nhận biết được những ngóc ngách trong các dự án của CP, giúp ĐBQH không bị «múa các con số»; trong khi đó, thông tin tham vấn được từ cử tri, từ hiệp hội… giúp ĐBQH phản biện được các dự án luật từ góc nhìn đại diện. Một cơ chế hỗ trợ thông tin hiệu quả là cơ chế bao gồm toàn bộ những nguồn nói trên, kể cả ý kiến của chuyên gia độc lập (xem Hộp dưới đây).

Thêm một kênh thông tin cho Đại biểu

Trong thời gian diễn ra kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khoá XI, GS-TS luật học Nguyễn Vân Nam đã trình bày quan điểm phản biện dự thảo Luật cạnh tranh trong tập tài liệu dày 46 trang gửi đến Quốc hội. Theo ông, Việt Nam chưa nên dồn trọng tâm vào chống độc quyền, mà nên lấy chiến lược chống cạnh tranh không lành lạnh làm ưu tiên hàng đầu; không nên gộp chống độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh vào một dự luật.

GS-TS Nguyễn Vân Nam rất muốn các ĐBQH nghiên cứu những nhận xét phản biện của mình, nhưng trong các phiên thảo luận về dự luật cạnh tranh, không đại biểu nào nhắc đến quan điểm của ông. Có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng dù khả năng nào xảy ra thì cũng cho thấy, trong trường hợp này, một kênh thông tin quan trọng đã không được tận dụng- ý kiến của các chuyên gia độc lập. So với các nghị sỹ các nước, đại biểu ta vốn thiếu nhiều kênh thông tin, trong khi ở đây thông tin lại tự tìm đến với đại biểu, thì quả là sự phí phạm thông tin. Nhất là ý kiến phản biện của GS-TS Nguyễn Vân Nam đã được ông phân tích, so sánh, lập luận, tức là đã qua xử lý. Hơn nữa, vốn làm việc trong cơ quan đại diện cho nhiều lợi ích khác nhau, đại biểu Quốc hội rất cần đến những thông tin đa chiều như thế.

Như đã nói, “thông tin tiết kiệm thời gian, công sức cho đại biểu là loại thông tin trả lời trực tiếp vào câu hỏi “có” hay “không” khi biểu quyết”. Mà GS-TS Nguyễn Vân Nam thì đã trả lời rõ ràng là “không”, không nên thông qua dự luật. Ông đã tạo ra thêm một kênh thông tin cho đại biểu Quốc hội. Nhưng kênh thông tin đó lại không được chú ý đúng mực trong bối cảnh đại biểu thiếu thông tin.

Nói về vai trò của nguồn lực thông tin nghiên cứu đối với hoạt động lập pháp của ĐBQH, thông thường, các kết quả nghiên cứu chính là cơ sở để xây dựng chính sách lập pháp và hình thành các giải pháp lập pháp. Bởi lẽ, như một tác giả ví von, “làm luật thiếu việc nghiên cứu thì cũng giống như kê toa thiếu việc khám bệnh, trong mười lần kê toa chắc chắn sẽ có đến chín lần kê trật. Chuyện tiền mất tật mang vì vậy là điều rất dễ xảy ra”[8]. Chẳng hạn, công trình khảo sát về tham nhũng của Ban Nội chính T.Ư có thể cung cấp nhiều thông tin và tri thức bổ ích cho việc hình thành các chính sách và giải pháp lập pháp của dự luật Phòng chống tham nhũng. Tiếc rằng kết quả lại chỉ được công bố sau khi dự luật nói trên đã được Quốc hội thông qua.

Kết quả nghiên cứu của khảo sát này cũng cho thấy, địa chính – nhà đất phải là lĩnh vực được dành sự quan tâm nhiều hơn cả. Những đoàn người kiện tụng không ngớt trước nhiều cơ quan công quyền ở cả trung ương lẫn địa phương về vấn đề nhà đất một lần nữa xác nhận tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu sâu hơn nữa, nguyên nhân sâu xa của việc tham nhũng bùng phát trong lĩnh vực nhà đất có thể liên quan đến qui chế pháp lý phức tạp của đất đai ở nước ta. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng việc toàn dân sẽ thực thi các quyền tài sản (quyền hưởng giá trị thặng dư, quyền chuyển nhượng và quyền quản lý) của mình đối với đất đai như thế nào thì hệ thống pháp luật của chúng ta còn chưa thiết kế được. Như vậy, từ thông tin nghiên cứu này, phải chăng ĐBQH có thể xác định ưu tiên lập pháp để nêu vấn đề này ở Quốc hội; xác định vấn đề nằm ở đâu để tranh luận trúng trọng tâm…

II- VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CHUYÊN GIA

Lâu nay nhiều đại biểu qua các nhiệm kỳ vẫn than phiền về tình trạng có những vấn đề chuyên sâu, đại biểu nắm không vững làm sao mà quyết và nhấn mạnh đến vai trò của các chuyên gia trong tất cả các hoạt động[9], đơn độc trong hoạt động lập pháp vì thiếu các điều kiện hỗ trợ[10]. “Thời gian là vàng bạc”. Trong điều kiện đa số đại biểu ta kiêm nhiệm như hiện nay, các chuyên gia không chỉ san sẻ gánh nặng chuyên môn, mà còn bù đắp rất nhiều cho sự khủng hoảng thiếu thời gian của đại biểu và tiết kiệm rất nhiều thời gian cho đại biểu. Bởi vậy, ở đây đầu tư vào đội ngũ chuyên gia, giúp việc là một sự đầu tư ít tốn kém. Nếu trước mắt, mỗi đại biểu chưa thể có bộ phận giúp việc riêng, điều hoàn toàn có thể làm được là chú trọng nâng cao trình độ của đội ngũ chuyên viên trong Văn phòng Quốc hội, thư ký của các đoàn đại biểu Quốc hội; chú trọng ý kiến chuyên gia ở ngoài; tuyển chọn thêm những người vừa có năng lực, vừa có tâm huyết với nghề, với nghiệp.

Nhận ra vai trò then chốt của các nguồn lực như thông tin, chuyên gia để hỗ trợ ĐBQH nhận biết, phân tích vấn đề và thực hiện quyền của mình, ông Dương Trung Quốc cho rằng ĐBQH phải có bộ máy giúp việc. Bởi vì trong số những trường hợp mà ĐBQH xử lý, nhiều lúc thấy mình chưa đủ năng lực về pháp luật để có thể phân định được, phát biểu được ý kiến của mình[11]. Ông khẳng định: “người đáng được trợ giúp pháp lý nhất chính là ĐBQH, bởi vì đại biểu, trong đó có tôi, không phải là những người am hiểu hết tất cả các vấn đề của luật pháp”.

Hơn nữa, các đại biểu đến rồi đi, nhất là ở nước ta mỗi nhiệm kỳ mới là có khoảng 2/3 đại biểu mới, nhưng bộ máy giúp việc có tính ổn định lâu hơn, họ tích tụ hầu hết trải nghiệm của các cơ quan dân cử. Nói như các chuyên gia nước ngoài, họ là “bộ nhớ thể chế” của nghị viện[12]. Họ sẽ là những người truyền lại khối kiến thức, thông tin qua các khóa cho ĐBQH.

Đối với nguồn lực chuyên gia bên ngoài Quốc hội, các nhà khoa học có thể tham gia vào bất kỳ một giai đoạn nào của quá trình xây dựng pháp luật, từ việc tham gia phân tích chính sách, đến việc trực tiếp soạn thảo, tham gia đánh giá, thẩm định…[13] Sự tham gia của các nhà khoa học là sự hỗ trợ những luận cứ khoa học cho các ĐBQH trong khi xem xét, thông qua các đạo luật. Đặc biệt là khi xem xét những văn bản có liên quan đến các vấn đề chuyên môn sâu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau.

Như vậy, một Quốc hội hoạt động tốt không thể thiếu các nguồn lực hỗ trợ mạnh về chuyên gia. Trong khi đó, theo Báo cáo công tác nhiệm kỳ khoá XI của Quốc hội, bộ máy chưa ngang tầm với khối lượng và yêu cầu công việc Tuy đã được bổ sung, bồi dưỡng, đào tạo khá liên tục nhưng so với yêu cầu nhiệm vụ mới thì vẫn còn thiếu những chuyên gia đầu đàn, chuyên gia giỏi. Đội ngũ cán bộ từ lâu đã hình thành một cách “tự nhiên” nhiều hơn là do những tác động mang tính định hướng. Cơ cấu đội ngũ chưa thật cân đối giữa cán bộ nghiên cứu chuyên môn và phục vụ[14]. Trong những năm qua, do thực hiện chủ trương chung là tinh giản biên chế, nên bộ máy của VPQH không được bổ sung thường xuyên, trong khi khối lượng và phạm vi công việc của Quốc hội tăng một cách nhanh chóng, hiện nay đang bị quá tải. Nếu không được tăng cường kịp thời thì trong khóa tới, cơ quan giúp việc khó có thể đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra.

Trong khi nguồn chuyên gia, cán bộ trong Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Đoàn ĐBQH còn chưa đạt yêu cầu, cơ chế sử dụng chuyên gia bên ngoài chưa được thực hiện tốt. Việc thiếu các cơ quan chuyên môn độc lập thẩm định các vấn đề khoa học, kỹ thuật, tính chính xác của số liệu để tham mưu phục vụ Quốc hội xem xét, quyết định là một trong những nguyên nhân khá quan trọng dẫn đến thiếu căn cứ xác thực, làm hạn chế chất lượng các quyết định[15]. Đại đa số ý kiến của đại biểu Quốc hội cho rằng, quy trình lập pháp hiện nay của nước ta chưa tạo điều kiện để huy động và thu hút được các lực chuyên gia, các nhà khoa học bên ngoài tham gia tích cực vào hoạt động lập pháp. Như biểu đồ dưới đây cho thấy, chỉ có 4.2% đại biểu Quốc hội được hỏi là phản đối với nhận định trên, còn lại là các ĐBQH thẳng thắn thừa nhận thực trạng này[16]. Con số này phản ánh thực trạng và cũng là một trong số các câu trả lời cho thực trạng đã nói trong hộp, tại sao ý kiến của GS-TS Nguyễn Vân Nam không được tiếp nhận.

Nhìn ra nước ngoài, vai trò của các mô hình Văn phòng phục vụ nghị viện đều chung nhau ở một điểm, đó là cung cấp các dịch vụ hiệu quả nhất để đáp ứng hoạt động của nghị viện[17]. Trong đó, có nhóm dịch vụ sau liên quan đến hoạt động lập pháp: dịch vụ phục vụ các chức năng của Quốc hội; dịch vụ phục vụ hoạt động hàng ngày của các ủy ban, HDDT; nhóm dịch vụ nghiên cứu phục vụ chức năng của Quốc hội và các vấn đề nghiên cứu chuyên sâu khác theo đặt hàng của Quốc hội; nhóm các dịch vụ chung: thông tin, thư viện, quan hệ công chúng, báo chí, hạ tầng thông tin. Mô hình tổ chức này hỗ trợ nghị sỹ vừa chuyên sâu, vừa bao quát về mặt thông tin nghiên cứu và linh hoạt trong điều động, sử dụng chuyên gia, cán bộ.

Một yếu tố khác giúp nâng cao vai trò của cán bộ, chuyên gia ở các nước là tổng số cán bộ, chuyên gia của Văn phòng nghị viện lớn hơn nhiều lần VPQH Việt Nam. Chẳng hạn, Ban Thư ký Quốc hội Canada và Panama có 1737 người và 1229 người với số đại biểu tương ứng là 308 và 78. Ngoài ra mỗi đại biểu lại còn có hai văn phòng giúp việc với số nhân viên từ 4-6 người[18]. Số lượng lớn như vậy mới đáp ứng được nhu cầu rất lớn từ phía nghị viện và các nghị sỹ, mới đảm trách được vai trò cung cấp nguồn lực chuyên gia nghiên cứu và thông tin của cơ quan giúp việc.

Liên quan đến vai trò của nguồn lực chuyên gia, cán bộ, như đã nói, thông tin đã qua xử lý một cách khoa học dưới góc độ chuyên môn là điều mà các ĐBQH lâu nay còn thiếu[19]. Bởi lẽ, một Đoàn ĐBQH hiện nay chỉ có 1 – 2 thư ký mà thường thực hiện các công việc hành chính. Các ĐBQH Việt Nam kể cả thành viên của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội không có thư ký riêng. Bộ máy giúp việc của Văn phòng Quốc hội chủ yếu là giúp việc cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội,  còn đối với cá nhân ĐBQH ở mức độ nào đó là tại kỳ họp, còn giữa hai kỳ họp thì hết sức hạn chế. Do vậy, việc vẫn duy trì một bộ máy giúp việc chung cho Quốc hội, ĐBQH như trước đây không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Việc đầu tư trong phạm vi cho phép đối với đội ngũ tham mưu giúp việc là điều không thể không làm. Cơ chế sử dụng đội ngũ này cần linh hoạt, có thể là chuyên viên giúp việc, có thể thuê chuyên gia, cộng tác viên… Tuy nhiên, trước mắt bộ máy giúp việc ở trung ương là Văn phòng Quốc hội, ở địa phương là Văn phòng Đoàn ĐBQH cần phải tăng cường đủ số lượng, chất lượng các chuyên gia trên các lĩnh vực về pháp luật, kinh tế, xã hội, đối ngoại…

Nhân đây, cũng cần phải nói, vai trò của bộ máy giúp việc của Quốc hội các nước được phát huy hiệu quả nhờ họ không tổ chức thành các vụ chuyên môn phục vụ riêng từng Ủy ban, mà được tổ chức thành các vụ phục vụ chung; như vậy sẽ tạo điều kiện để các Ủy ban, các đại biểu được sử dụng bình đẳng tất cả các dịch vụ sẵn có của bộ máy giúp việc hoạt động rất chuyên nghiệp. Đây là một mô hình tổ chức hợp lý, có lợi cho ĐBQH và tăng cường vai trò của các cán bộ giúp việc.

Hiện nay, ĐBQH của ta chủ yếu vẫn hoạt động kiêm nhiệm, không có văn phòng riêng ở trung ương và địa phương như ở nhiều nước khác. Thực chất hầu hết các đại biểu kiêm nhiệm chỉ tập trung về trung ương tham dự hai kỳ họp, vì vậy việc sử dụng các dịch vụ của VPQH là rất hạn chế. Do đó, các hoạt động trợ giúp và dịch vụ tư vấn lập pháp chủ yếu dựa vào VPQH và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội. Để phát huy được hiệu quả, Văn phòng phải thực hiện được hai nhiệm vụ quan trọng: một là, Văn phòng Đoàn ĐBQH phải là cánh tay nối dài của VPQH, giúp các đại biểu ở địa phương tiếp cận được với tất cả dịch vụ mà VPQH hiện có. Hai là, giúp các đại biểu Quốc hội ở địa phương tiếp cận được với các vấn đề ở địa phương thông qua vai trò tham mưu, xây dựng chương trình làm việc, tổ chức các hoạt động, trong đó có hoạt động lập pháp như lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật. Mặt khác, vì là đại biểu kiêm nhiệm, họ có ít thời gian nên các cán bộ Văn phòng Đoàn đại biểu phải là những người tinh thông nghiệp vụ; những chuyên gia tư vấn về những vấn đề, những nội dung người đại biểu cần nắm bắt được.

Ngoài ra, cần nghiên cứu khả năng tạo điều kiện mỗi đại biểu có thể thuê một người trợ lý giúp việc cho mình trong thời gian nhiệm kỳ của đại biểu[20]. QH nước ta với gần ¾ đại biểu kiêm nhiệm như hiện nay, việc có trợ lý giúp việc riêng cho đại biểu có thể khắc phục được tính hình thức trong hoạt động của không ít đại biểu.

[1] Trung tâm TT, TV, NCKH, Hoạt động của Quốc hội trong năm 2006 qua các số liệu thống kê, Hà Nội, 2007.

[2] Trung tâm TT, TV, NCKH, Hoạt động lập pháp của Quốc hội khóa XI: Các số liệu và một số phân tích, Hà Nội, 2008.

[3] Quốc hội khóa XI đã thông qua 84 luật, bộ luật, 15 nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật.

[4] Biên bản phiên họp của QH khoá XI ngày 21/3/2007.

[5] Edward V. Schneir, Bertram Gross. Congess Today. St. Martin’s Press. N.Y. 1993, p.294.

[6] Như trên, p.295.

[7] Một số ĐBQH khóa XI cho biết khoảng 1-2 năm đầu làm ĐB họ không biết đến quyền này, do đó bị “thiệt thòi” về thông tin.

[8] Nguyễn Sĩ Dũng, Khám bệnh và kê đơn, Tuổi Trẻ, ngày …2007.

[9] Xem: NCLP, “5 năm, cái nhìn của những người trong cuộc”, Nghiên cứu Lập pháp, số 4/2002.

[10] Lê Nhung-Xuân Linh, “Luật Đất đai sửa nhiều lần vẫn lửng lơ”, Vietnamnet, 23/10/2008.

[11] Tùng Anh, Blog của ông nghị “Quốc Xưa Nay”: Trình làng!!!, http://www.lanhdao.net, 17/7/2007.

[12] Ken Coghill, Peter Holland,  Kevin Rozzoli, Genevieve Grant, “Tìm hiểu nhu cầu của tân nghị sĩ: Nghiên cứu chương trình tập huấn dành cho các thượng nghị sĩ mới được bầu ở Úc”, Hội thảo về Phương pháp tập huấn cho nghị sỹ, Hà Nội, 2/2007.

[13] Nguyễn Minh Đoan, “Phát huy vai trò của nhà khoa học trong xây dựng pháp luật”, Nghiên cứu Lập pháp, số 61, tháng 10/2005.

[14] Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ XI của Quốc hội, 3/2007.

[15] Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ XI của Quốc hội, 3/2007.

[16] Trung tâm TT,TV, NCKH, “Báo cáo kết quả điều tra dư luận xã hội về quy trình xây dựng luật, pháp lệnh”, Hà Nội, 2008.

[17] Văn phòng Quốc hội, “Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một số nước trên thế giới”, Hà Nội, 2002.

[18] Văn phòng Quốc hội, “Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một số nước trên thế giới”, Hà Nội, 2002.

[19] Xem thêm: TS Nguyễn Đình Quyền, “Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam”, Nghiên cứu Lập pháp, số…2008.

[20] TS Nguyễn Đình Quyền, “Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam”, Nghiên cứu Lập pháp, số …2008.

Nguồn: Chuyên đề nghiên cứu của Văn phòng Quốc hội, 2008

(còn tiếp)

ThS Nguyễn Đức Lam - Văn phòng Quốc hội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Lựa chọn mô hình tài phán hiến pháp – những vấn đề phổ biến và đặc thù quốc gia (09/02/2012)
Quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước qua các hiến pháp Việt Nam (31/01/2012)
Một số vấn đề cải tiến, xây dựng quy trình thủ tục phiên họp toàn thể của Quốc hội (22/11/2011)
Phát huy vai trò của Ủy ban Đối ngoại trong việc giám sát các thỏa thuận hợp tác Việt Nam - Lào (12/10/2011)
Bài học về quyền lực Nhà nước từ mô hình công ty cổ phần (26/09/2011)
Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới hoạt động của Quốc hội (12/09/2011)
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (31/08/2011)
Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới hoạt động của Quốc hội (12/09/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân