|
Tiếp tục đổi mới Quốc hội theo tinh thần Đại hội X của Đảng
|
||
|
Năm 2010 là năm kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng (1930 – 2010), là năm tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ XI. Năm 2010 cũng là năm xúc tiến tổng kết nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khóa XII (2007 - 2011), chuẩn bị những công việc cần thiết cho bầu cử ĐBQH nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII cùng tổ chức trong năm 2011. Những nhiệm vụ này có quan hệ khăng khít với nhau, bởi đánh giá hoạt động Quốc hội Khóa XII cũng là đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Để góp phần vào việc thực hiện những nhiệm vụ quan trọng này, bài viết nêu lên một số vấn đề về việc quán triệt và vận dụng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X vào đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội. Trên cơ sở đánh giá hoạt động Quốc hội những năm trước, Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 của Đảng đã nêu lên phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Đó là: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng ÐBQH; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội. Tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội. Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao”1. 1. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội Đây là yêu cầu đầu tiên mà Văn kiện Đại hội đề ra nhằm “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”. Vấn đề nâng cao chất lượng ÐBQH đã được đề cập từ lâu và khá thường xuyên trong các văn kiện trước đó của Đảng. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng (Khoá VIII) năm 1997 cũng đã nhấn mạnh: “đại biểu Quốc hội phải có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân”. Theo đó, chất lượng ÐBQH phải dựa trên tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, lấy tiêu chuẩn ÐBQH làm tiền đề. Thực hiện chủ trương này, trong các nhiệm kỳ Quốc hội vừa qua, vấn đề tiêu chuẩn ÐBQH luôn được quan tâm đổi mới. Đây là một trong các lý do để Luật Bầu cử ÐBQH là một trong những đạo luật được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhất ở nước ta2. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù chất lượng ÐBQH được nâng cao rõ rệt qua từng khóa Quốc hội nhưng vẫn chưa thật sự đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân. Đây vẫn là vấn đề cần tiếp tục đặc biệt quan tâm và coi là khâu then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Để giải quyết vấn đề chất lượng ÐBQH, phải có giải pháp phù hợp. Báo cáo chính trị tại Đại hội X nhấn mạnh giải pháp then chốt là “Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng ÐBQH”3. Cũng không phải đến thời điểm này Đảng mới nêu ra giải pháp này, ngay tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng (Khoá VIII) cũng đã đề ra giải pháp “Tiếp tục cải tiến chế độ bầu cử các cơ quan dân cử, bảo đảm cho cử tri tiếp xúc, đối thoại với ứng cử viên, có đủ thông tin để trao đổi, nhận xét, lựa chọn và bầu cử đại biểu của mình thực sự dân chủ trên cơ sở có sự lãnh đạo, hướng dẫn về tiêu chuẩn, cơ cấu”. Chúng tôi cho rằng, việc Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định lại giải pháp trên là rất đúng và luôn cần được quán triệt, thực hiện nghiêm túc. Mặc dù đã được đổi mới nhiều trong thời gian qua, nhưng cơ chế bầu cử ÐBQH vẫn cần tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ để bảo đảm dân chủ thực sự hơn nữa, để mọi cá nhân có năng lực, phẩm chất của người đại biểu Quốc hội đều có cơ hội và điều kiện thuận lợi ra ứng cử; để cử tri có nhiều thông tin và cơ hội lựa chọn đại biểu của mình hơn. Quy trình hiệp thương cần được xem xét, sửa đổi theo hướng tạo điều kiện tốt hơn cho các ứng cử viên từ quần chúng nhân dân. Để nâng cao chất lượng ÐBQH, chúng tôi cho rằng, trong quá trình hoàn thiện cơ chế bầu cử, cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau: Thứ nhất, đổi mới tư duy về ÐBQH và thành phần ÐBQH. Theo chúng tôi, vấn đề “cơ cấu” ÐBQH không thể bỏ qua nhưng không nên quá máy móc, nặng về hình thức. Không nên quan niệm việc “cơ cấu” một cách chi tiết thành phần đại biểu thuộc mọi dân tộc, mọi địa bàn, mọi thành phần, mọi lĩnh vực hoạt động xã hội là đã có một Quốc hội đại diện được cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân cả nước. “Đại diện” ở đây cần là đại diện cho cái “tâm”, cái “trí”, cái “dũng” hơn là đại diện bởi con người cụ thể. ÐBQH phải có cái “tâm” vì dân, có cái “trí” để hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân, có cái “dũng” để dám nói lên tiếng nói vì dân. Thứ hai, nên giảm dần tỷ lệ ÐBQH là công chức nhà nước, cán bộ trong các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội nhằm bảo đảm tốt hơn quyền của cử tri trong việc lựa chọn bầu những người thuộc nhiều thành phần xã hội đại diện cho mình, cho các nhóm những người có cùng lợi ích tham gia Quốc hội. Thành phần đại biểu nhiều khóa Quốc hội vừa qua nhìn chung vẫn chủ yếu là công chức nhà nước, là cán bộ trong các cấp lãnh đạo Đảng. Với thành phần ÐBQH nghiêng về phía công quyền như vậy, trên thực tế, Quốc hội sẽ khó khăn trong vai trò là cơ quan “đại biểu cao nhất của nhân dân”, thể hiện ý chí và nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Chưa kể, người ÐBQH là cán bộ, công chức sẽ không muốn bỏ vị trí, công việc “ổn định” của mình trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị để hoạt động chuyên trách tại Quốc hội. Khi hoạt động kiêm nhiệm, lẽ thường tình là họ phải ưu tiên thời gian, sức lực cho công việc chính đang đảm nhiệm, không thể dành toàn tâm, toàn lực cho thực hiện nhiệm vụ “đại diện cho nhân dân”. Thứ ba, để ÐBQH phát huy được năng lực của mình, cần tạo điều kiện để họ có thực quyền hơn và có đủ điều kiện cần thiết để làm tròn mọi nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân. Hiện nay, theo quy định của pháp luật, ÐBQH nước ta có không ít quyền, thậm chí là có rất nhiều quyền. Tuy nhiên, pháp luật lại chưa quy định đủ cụ thể các quyền này cùng với các phương thức, cơ chế bảo đảm thực hiện cũng như trên thực tế vẫn chưa có đủ điều kiện vật chất cần thiết (như: bộ máy, nhân sự giúp việc và phương tiện làm việc…) để ÐBQH thực hiện quyền hạn này. Vì vậy, trên thực tế, ít có ÐBQH có thể sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả những quyền hạn này để làm tròn nhiệm vụ của mình. 2. Tăng hợp lý số lượng ÐBQH hoạt động chuyên trách Số lượng và chất lượng ÐBQH hoạt động chuyên trách là những yếu tố có vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đoàn ÐBQH. Ngay từ năm 1997, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng (Khoá VIII) cũng đã nêu vấn đề “Cần tăng thêm hợp lý số đại biểu chuyên trách cho các Uỷ ban của Quốc hội”. Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Đảng (Khoá VIII) năm 1999 lại tiếp tục nhấn mạnh vấn đề “từng bước tăng tỉ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách”. Số lượng đại biểu chuyên trách của Quốc hội khóa XII hiện nay mặc dù đã tăng đáng kể so với các khoá trước4 nhưng so với tổng số ÐBQH và so với những yêu cầu, nhiệm vụ đang đặt ra là còn quá ít. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội khó thực hiện tốt được các yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng lớn mà thực tiễn đặt ra. Chưa kể, các Ủy ban của Quốc hội là những cơ quan làm việc thường xuyên, làm việc theo cơ chế hội nghị và quyết định theo đa số mà số thành viên kiêm nhiệm lại chiếm đa số nên sẽ rất khó bảo đảm đúng cơ chế làm việc. Mới đây, trong báo cáo gửi Quốc hội, Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội cũng cho rằng, “do số đại biểu chuyên trách trong Ủy ban ít, đa số thành viên làm việc kiêm nhiệm nên việc tham gia hoạt động của các thành viên Ủy ban chưa đồng đều”5; sau các chữ “chưa đồng đều” ở đây có lẽ sẽ có nhiều câu chuyện phải bàn liên quan đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của ÐBQH, của các Ủy ban của Quốc hội. Do vậy, việc Đại hội X của Đảng tiếp tục nêu vấn đề “tăng hợp lý số lượng ÐBQH hoạt động chuyên trách” là phù hợp với xu thế thực tiễn. Nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII nên thành lập các Uỷ ban với các uỷ viên chuyên trách là chủ yếu, hạn chế số uỷ viên kiêm nhiệm. Theo chúng tôi, có đủ các điều kiện cần thiết (như về con người, về cơ sở vật chất và tài chính…) để thực hiện. Tăng cường đại biểu chuyên trách là cần thiết nhưng để phát huy được hiệu quả của việc tăng cường này lại là việc khác. Cần đặc biệt quan tâm đến đổi mới cơ chế hoạt động và điều kiện làm việc của đại biểu Quốc hội chuyên trách, tạo môi trường hoạt động thực sự chủ động, dân chủ và cởi mở để người đại biểu phát huy được vai trò đại diện cho cử tri, gắn bó với cử tri, luôn nắm bắt và thể hiện được đầy đủ ý chí, nguyện vọng của cử tri. Cơ chế làm việc đừng vô tình biến các vị ÐBQH đáng kính của nhân dân thành các “chuyên viên cấp Ủy ban”, nhất cử nhất động phải theo sự điều hành mang tính hành chính của các vị lãnh đạo Ủy ban. Trong một vài nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, hoạt động của các cơ quan của Quốc hội cũng đang có những dấu hiệu “hành chính hóa”, Thường trực các cơ quan này đang bị mất nhiều thời gian cho những hoạt động chỉ đạo, điều hành, thậm chí là những hoạt động thuần túy mang tính chất hành chính (như vấn đề tổ chức bộ máy, nhân sự của cơ quan, đơn vị giúp việc, vấn đề tài chính, thậm chí là phải quan tâm cả đến những vấn đề về thi đua, khen thưởng của bộ máy giúp việc...). Như vậy, các vị đại biểu chuyên trách thuộc các cơ quan của Quốc hội sẽ khó có thể dành đủ thời gian, trí tuệ làm tốt vai trò quyết định chính sách, vai trò chính khách lẽ ra phải có của mình. 3. Tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội Tại Đại hội Đảng lần thứ X, lần đầu tiên Đảng nêu ra yêu cầu “tổ chức lại một số Uỷ ban” của Quốc hội. Theo chúng tôi hiểu, nội dung của vấn đề “tổ chức lại” ở đây là khá rộng, không chỉ bao gồm việc chia tách hay thành lập mới một số uỷ ban mà liên quan đến mọi khía cạnh về tổ chức bộ máy, về nhân sự, về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn... của các uỷ ban. Đó vốn là những vấn đề đang vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Bởi vì, tổ chức các uỷ ban của Quốc hội hiện nay về cơ bản là đã được định hình từ Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992 nên đến nay đã không còn phù hợp với những yêu cầu mới mà cuộc sống đang từng ngày, từng giờ đặt ra cho Quốc hội. Nhận thức được vấn đề này, ngay từ năm 1997, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng (Khoá VIII) đã từng nêu ra một giải pháp cho vấn đề là “Nghiên cứu thành lập thêm một số Uỷ ban của Quốc hội” thế nhưng phải sau 10 năm, giải pháp này mới được thực hiện một bước, với việc tách Ủy ban pháp luật thành 02 Ủy ban (Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Tư pháp), tách Ủy ban Kinh tế, ngân sách thành 02 ủy ban (Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính, ngân sách). Hiện nay, vẫn còn có những Ủy ban phải “gánh” quá nhiều lĩnh vực, như ủy ban về các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường; Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng...Thiết nghĩ, nên nghiên cứu, tổ chức lại các ủy ban này tương ứng với một hoặc hai lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ thuộc Chính phủ, theo hướng bảo đảm tập trung và chuyên sâu hơn trong hoạt động6 Lại có những lĩnh vực rất quan trọng, cần phải có ủy ban của Quốc hội đảm trách mới đúng tầm và mới có thể hoạt động hiệu quả, hiện nay mới chỉ tổ chức được thành cấp ban của Ủy ban thường vụ Quốc hội, như Ban dân nguyện, nên trên thực tiễn cũng có nhiều bất cập. Khi tổng kết, đánh giá hoạt động nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, rất nên có tổng kết, đánh giá lại hiệu quả mô hình Ban thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội; nếu thấy cần thiết, nên nâng các ban này lên thành các ủy ban của Quốc hội. Cùng với việc đổi mới tổ chức các ủy ban của Quốc hội, mô hình cơ quan giúp việc cho Quốc hội và các ủy ban của Quốc hội cũng cần đổi mới để bảo đảm tính đồng bộ và hợp lý. Điều đáng lưu ý là: Văn kiện Đại hội X đã gắn vấn đề tổ chức lại một số ủy ban của Quốc hội với vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội7. Để thực hiện được quan điểm chỉ đạo này, cần chú trọng nâng cao vai trò, phân định rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các uỷ ban trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa các ủy ban này với Quốc hội, với Uỷ ban thường vụ Quốc hội và với đại biểu Quốc hội. Đồng thời, tôn trọng nguyên tắc làm việc tập thể gắn với việc phát huy tối đa vai trò chủ động của từng cá nhân thành viên ủy ban. Mặc dù pháp luật hiện hành quy định các uỷ ban của Quốc hội có nhiều quyền hạn trên cả ba lĩnh vực hoạt động của Quốc hội (xây dựng pháp luật, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước...) nhưng các quy định này mới chỉ dừng ở mặt nguyên tắc, dường như chưa đủ cụ thể để thực hiện và cũng chưa có những cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả. Đồng thời, cũng do quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các uỷ ban còn chung chung nên trong quá trình nhận thức và thực hiện vẫn còn có sự chồng chéo, trùng lặp giữa các uỷ ban. Việc xác định và quy định cụ thể hơn chức năng, nhiệm vụ của các ủy ban của Quốc hội không chỉ có ý nghĩa là sự phân công cụ thể hơn thẩm quyền và nhiệm vụ giữa các cơ quan này mà còn góp phần làm sáng tỏ hơn nữa mối quan hệ giữa Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội với các cơ quan, tổ chức khác và với công dân. Đây là vấn đề lớn, không chỉ liên quan tới cơ cấu tổ chức của Quốc hội mà còn liên quan tới toàn bộ hệ thống chính trị. Việc đổi mới tổ chức, hoạt động của các uỷ ban của Quốc hội chỉ có hiệu quả khi đặt nó trong tổng thể sự đổi mới một cách đồng bộ, triệt để các mối quan hệ này. Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, mặc dù Quốc hội vẫn giữ quyền quyết định cuối cùng nhưng các uỷ ban vẫn có những quyết định nhất định trước khi vấn đề được trình ra Quốc hội; thậm chí, có quyền quyết định việc đưa hay không đưa vấn đề nào đó ra Quốc hội. Ở một số nước, Quốc hội giao cho uỷ ban của Quốc hội những thẩm quyền độc lập thuộc một số lĩnh vực, một số khâu trong hoạt động Quốc hội8. Trong khi đó, đến nay, các uỷ ban của Quốc hội Việt Nam nhìn chung vẫn chỉ giữ vai trò tham mưu cho Quốc hội. Vậy nên trên thực tế, vẫn còn có tình trạng những dự án, dự thảo chưa “chín” vẫn “lọt” để trình ra Quốc hội, làm mất nhiều thời gian làm việc vốn luôn eo hẹp của Quốc hội bởi thiếu vắng vai trò “người gác cổng” cho Quốc hội – vai trò mà Quốc hội nhiều nước trên thế giới đã nhận thức và trao cho các ủy ban của họ từ xa xưa9. Điều đó cho thấy, các uỷ ban của Quốc hội cần được tham gia một cách đầy đủ và sâu rộng hơn nữa trên từng lĩnh vực hoạt động của Quốc hội. Nên có lộ trình tiến tới các dự án, vấn đề thuộc nội dung làm việc của Quốc hội sẽ được xem xét, thẩm tra, xử lý và hoàn thiện chủ yếu tại các ủy ban của Quốc hội trước khi trình ra Quốc hội; phiên họp toàn thể Quốc hội sẽ chủ yếu là nơi Quốc hội “quyết”, “đồng ý” hay “không đồng ý”. 4. Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh Ở đây có hai vấn đề: đổi mới quy trình xây dựng luật và giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. Thứ nhất, về đổi mới quy trình xây dựng luật. Đây là chủ trương đã được Đảng nêu ra trong nhiều văn kiện. Trên thực tế, việc thực hiện chủ trương này cũng đã đem lại nhiều kết quả đáng khích lệ, nhất là về tiến độ ban hành luật, pháp lệnh trong hoạt động lập pháp của Quốc hội các khóa vừa qua. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý ở đây là, Văn kiện Đại hội X đặt vấn đề phải đổi mới hơn nữa. Như vậy, những đổi mới trong thời gian qua là đúng nhưng chưa đủ, cần tiếp tục phải đẩy mạnh. Trong những năm qua, nhất là từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa X trở lại đây, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội đã liên tục nghiên cứu, đổi mới và đưa ra những giải pháp mới cho lập pháp, như: xác lập quy trình thông qua dự án luật tại hai kỳ họp Quốc hội; tổ chức các hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách góp ý cho các dự án luật; thành lập Ban công tác lập pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bố trí để các đại biểu Quốc hội đồng thời thảo luận, cho ý kiến về các dự án luật trình ra Quốc hội tại các hội trường khác nhau... và mới đây là việc thành lập Viện Nghiên cứu Lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội... Có giải pháp đem lại hiệu quả rõ rệt, nhưng có những giải pháp đã phải chấm dứt và cũng có giải pháp phải chờ thêm thời gian kiểm nghiệm tính hiệu quả. Nhưng dù thế nào, các giải pháp này cũng thể hiện được mong muốn và quyết tâm chung trong việc đổi mới quy trình xây dựng pháp luật theo tinh thần nghị quyết của Đảng. Thứ hai, về vấn đề giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. Đây không chỉ là yêu cầu đổi mới hoạt động xây dựng pháp luật mà vấn đề sâu xa, có ý nghĩa lớn hơn mà Đảng hướng đến là điều chỉnh phân công thực hiện quyền lực tại Quốc hội nhằm bảo đảm nguyên lý về chủ quyền nhân dân, bảo đảm quyền lực mà nhân dân ủy quyền cho Quốc hội phải được thực hiện bởi Quốc hội10. Hiến pháp quy định Quốc hội là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân” thì “quyền lực nhà nước cao nhất” phải tập trung thống nhất về Quốc hội, hạn chế chia sẻ quyền lực cho các cơ quan khác. Trong điều kiện năng lực lập pháp còn hạn chế như ở những nhiệm kỳ trước kia, việc Quốc hội giao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện một số quyền của Quốc hội, trong đó có quyền ban hành pháp lệnh là cần thiết11 nhưng điều kiện hiện nay đã cho phép Quốc hội có đủ khả năng để tự mình thực hiện. Bên cạnh việc tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng luật, chúng ta cũng cần xúc tiến sớm việc xây dựng, hoàn thiện quy trình lập hiến nhằm đáp ứng nhu cầu lập hiến đặt ra trong thời gian tới, đồng thời cũng là để thực hiện quy định tại Điều 11 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 là “Việc soạn thảo, thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định”. 5. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao Đồng thời với yêu cầu đổi mới quy trình xây dựng luật để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xây dựng pháp luật, Văn kiện Đại hội X tiếp tục đề ra chủ trương: Quốc hội cần thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao. Nhìn chung những năm qua, Quốc hội Khoá XII đã có những tiến bộ trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Quốc hội thực sự thể hiện được vai trò cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, với ý thức tôn trọng và tuân thủ ngày càng nghiêm chỉnh quy trình, thủ tục trình, thẩm tra, thẩm định dự án của mọi cơ quan, tổ chức hữu quan, mà trước hết là của Chính phủ. Trong lĩnh vực giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, Quốc hội khóa XII nhìn chung đã khắc phục được hạn chế đã được nêu ra trong Văn kiện Đại hội X là: “còn lúng túng trong việc thực hiện chức năng giám sát”12. Hoạt động giám sát tại các kỳ họp Quốc hội vừa qua đối với một số lĩnh vực như: việc ban hành văn bản của các cơ quan nhà nước; việc quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh thực phẩm; việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước... là những lĩnh vực nổi cộm, gây nhiều bức xúc đối với công tác quản lý nhà nước đã đáp ứng được đòi hỏi của tình hình, được nhân dân đồng tình, cho thấy Quốc hội đã và đang đi đúng hướng trong thực thi quyền giám sát. Dưới ánh sáng Nghị quyết của Đảng, công cuộc đổi mới Quốc hội sẽ tiếp tục tiến hành mạnh mẽ, hiệu quả. Việc sửa đổi Luật tổ chức Quốc hội, Luật bầu cử ÐBQH13 và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII tới đây sẽ tiếp tục thể hiện được tinh thần đổi mới này, để Quốc hội ngày càng xứng đáng hơn với vai trò “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”14. (1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2006, Tr.60. (2) Chỉ tính từ 1992 đến nay đã có tới 03 lần sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (1992, 1997, 2001) và Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội đã tiếp tục được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 của Quốc hội. (3 )Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.126. (4) Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII hiện nay có 29,41% đại biểu hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương (Theo số liệu công bố trong sách “Đại biểu Quốc hội Khóa XII” của Ban Công tác đại biểu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, 2007). (5) Ủy ban về các vấn đề xã hội, Báo cáo hoạt động của Ủy ban về các vấn đề xã hội năm 2009 và dự kiến hoạt động năm 2010, số 1705/UBXH, ngày 23 tháng 10 năm 2009. (6) Ở nhiều nước, số lượng các Ủy ban của Quốc hội được thành lập tương ứng với số lượng các bộ thuộc Chính phủ, ví dụ như ở Đan Mạch, Thụy điển... Còn ở nước ta hiện nay, chưa tính Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôi cao, chỉ tính về phía Chính phủ đã có 22 bộ, cơ quan ngang bộ với số lĩnh vực quản lý nhà nước tương ứng, trong khi chỉ có 10 hội đồng và ủy ban của Quốc hội. (7) Đây là điểm được sửa đổi, bổ sung so với Dự thảo Văn kiện trình ra Đại hội. Dự thảo Văn kiện trình Đại hội X chỉ xác định: “tổ chức lại một số Uỷ ban để giúp Quốc hội quyết định phân bổ ngân sách trung ương, giám sát thực hiện ngân sách, giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp”. (8) Việc các Uỷ ban tài chính của Thượng viện và của Hạ viện của Nghị viện Mỹ xem xét, biểu quyết thông qua dự luật PNTR cho Việt Nam mà nhiều người đã biết là một ví dụ về vai trò quyết định rất quan trọng của các ủy ban của Quốc hội Mỹ. (9) Xem: Nguyễn Đăng Dung: Mô hình Quốc hội - quy luật phát triển của dân chủ, Kỷ yếu Hội thảo Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới, Hà Nội, 2001, Tr.275. (10) Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng (Khoá VIII) năm 1997 cũng đã đề ra chủ trương “Giảm dần pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội”. (11) Từ nhiệm kỳ khoá X trở về trước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội còn thực hiện cả thẩm quyền về quyết định và phân bổ ngân sách, quyết định về nhân sự cấp cao của Nhà nước (là những thẩm quyền của Quốc hội) trong thời gian Quốc hội không họp. (12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, Tr.64. (13) Hai dự án luật này đã được bố trí trong Chương trình chuẩn bị thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 của Quốc hội. (14) Điều 83 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi); Điều 1 của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001.
|









