Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 26/07/2017, 05:55(GMT+7)
 
Nhà nước

Sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11: Một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội hiện nay

Thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[1], ngày 21/6/2012 tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa 13 đã ban hành Nghị quyết về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội[2]. Góp phần thực hiện chủ trương trên, một trong số những công việc cần thiết đã và đang được các cơ quan có trách nhiệm tiến hành, đó là  việc tổng kết, nghiên cứu nhằm sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 01/10/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc (UBTVQH) quy định về Văn phòng Quốc hội (VPQH), với vị trí, vai trò là bộ máy, cơ quan giúp việc của Quốc hội. Để phục vụ quá trình này, chúng tôi xin được tham gia ý kiến về một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của VPQH, hiện đang được quy định trong Nghị quyết này.

1. Vị trí, vai trò của  Văn phòng Quốc Hội không được quy định trực tiếp trong Luật tổ chức Quốc hội

Liên quan đến việc tổ chức bộ máy giúp việc của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội hiện hành quy định, UBTVQH tổ chức bộ máy giúp việc của Quốc hội, UBTVQH, của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội[3]. Cụ thể hóa quy định này, UBTVQH xác định, VPQH là cơ quan giúp việc của Quốc hội, có chức năng nghiên cứu, tham mưu tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động của Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội; các hoạt động của  Hội đồng Dân tộc (HĐDT), các Ủy ban của Quốc hội, các Ban của UBTVQH[4].

Qua nghiên cứu các quy định trên, cho thấy, chủ thể “Quốc hội” trong khái niệm "giúp việc của Quốc hội" cần được xem xét ở hai góc độ:

- Góc độ thứ nhất, giúp việc của Quốc hội với nghĩa, Quốc hội là một chủ thể thống nhất và duy nhất, bao gồm tất cả các đại biểu hợp thành, họp thường lệ mỗi năm hai kỳ để xem xét, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Như vậy, ở đây, sự giúp việc của Quốc hội có thể được hiểu là việc trực tiếp tham mưu, giúp cho Quốc hội với tư cách Quốc hội là một chủ thể quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền Hiến định và Luật định[5]. Nhìn từ góc độ này, cho thấy, hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác… của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội chính là hoạt động tham mưu, giúp trực tiếp cho Quốc hội.

- Góc độ thứ hai, giúp việc của Quốc hội với nghĩa, Quốc hội là một tập hợp các chủ thể cấu thành, bao gồm từng đại biểu, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội; UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội mà từng chủ thể này cũng có thẩm quyền riêng theo quy định của Hiến pháp và Luật. Như vậy, ở đây, sự giúp việc của Quốc hội lại có thể được hiểu là việc trực tiếp tham mưu, giúp cho từng chủ thể kể trên trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nói cách khác, đây là hoạt động tham mưu, giúp việc gián tiếp cho Quốc hội thông qua hoạt động tham mưu, giúp việc cho từng chủ thể cấu thành Quốc hội. Nhìn từ góc độ này, cho thấy, hoạt động tham mưu, giúp việc cho Quốc hội theo các quy định hiện hành và cả trong thực tế lại đang do rất nhiều cơ quan thực hiện[6].

So sánh việc UBTVQH quy định về vị trí, vai trò của VPQH như trên với việc Luật tổ chức Chính phủ hiện hành quy định trực tiếp về vị trí, vai trò của Văn phòng Chính phủ thông qua việc định danh cụ thể cơ quan này là bộ máy giúp việc của Chính phủ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ lãnh đạo[7], có ý kiến cho rằng, việc quy định về VPQH bằng Nghị quyết của UBTVQH là chưa tương xứng với một cơ quan như VPQH. Do đó, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của VPQH cần phải được quy định trong Luật tổ chức Quốc hội giống như Văn phòng Chính phủ được quy định trong Luật tổ chức Chính phủ.

Ý kiến trên là đúng, nếu xét về phương diện thứ bậc trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, rõ ràng việc quy định trong Luật của Quốc hội sẽ có giá trị pháp lý cao hơn so với việc quy định trong Nghị quyết của UBTVQH. Tuy nhiên, vấn đề này cần nghiên cứu thêm, vì việc luật hóa vị trí, vai trò của VPQH từ các lần sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Quốc hội trước đây đều đã đặt ra, nhưng tại các thời điểm đó cũng có ý kiến cho rằng, vấn đề này vẫn còn những điểm chưa rõ và không nhất thiết phải quy định trong Luật, mà giao cho UBTVQH căn cứ vào quy định của Luật và yêu cầu thực tiễn để quyết định. Quan điểm này khá phù hợp với thực tế, bởi lẽ, dường như cho đến nay, chúng ta cũng chưa xác định được mô hình bộ máy giúp việc của Quốc hội, đó là mô hình giúp việc tập trung hay là mô hình giúp việc phân tán. Điều này, đồng nghĩa với câu hỏi, bộ máy giúp việc của Quốc hội chỉ có duy nhất VPQH hay còn có cả các cơ quan khác nữa.

Thêm vào đó, qua so sánh với Văn phòng Chính phủ cũng cho thấy, tuy cùng là cơ quan làm công tác văn phòng, đều có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc, nhưng ở đây có một sự khác biệt đáng kể về phạm vi chủ thể được tham mưu, giúp việc và mức độ thực hiện nhiệm vụ này giữa Văn phòng Chính phủ và VPQH.

- Về tham mưu của Văn phòng Chính phủ, do tất cả các Bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ đều có thẩm quyền và bộ máy tham mưu, giúp việc riêng, nên Văn phòng Chính phủ chỉ tập trung tham mưu, giúp việc cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, tham mưu của Văn phòng chính phủ đối với những công việc thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đều là tham mưu trực tiếp và có tính độc lập cao. Ở khía cạnh này, có thể nói, tham mưu của Văn phòng Chính phủ là “tham mưu lại tham mưu”. Nghĩa là, việc tham mưu của Văn phòng Chính phủ là sự thẩm tra lại một lần nữa đối với những tham mưu, đề xuất của các Bộ, ngành, cơ quan trước khi trình lên Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định[8].

- Về tham mưu của VPQH, do hầu hết các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của UBTVQH đều không có bộ máy tham mưu giúp việc riêng nên VPQH phải đóng vai trò là bộ máy tham mưu, giúp việc chung cho tất cả các cơ quan này. Do vậy, ở mức độ nào đó khác với Văn phòng Chính phủ, tham mưu của VPQH có thể nói, chủ yếu lại là "tham mưu giúp tham mưu". Nghĩa là, sự tham mưu này được thực hiện thông qua từng vụ, đơn vị trong VPQH, được phân công giúp việc riêng, thường xuyên và trực tiếp cho một cơ quan tương ứng nhất định của Quốc hội, UBTVQH, rồi sau đó, cơ quan này mới lại tham mưu tiếp cho Quốc hội, UBTVQH dưới dạng các báo cáo thẩm tra, kiến nghị ... trình Quốc hội, UBTVQH xem xét, quyết định.

Tóm lại, như trên đề cập, khi xem xét đối với những công việc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, ở một số phương diện và góc độ, đã cho thấy, hiện nay không phải chỉ có duy nhất VPQH đóng vai trò là bộ máy giúp việc của Quốc hội, mà còn có nhiều cơ quan nữa tham gia vào quá trình này. Như vậy ở đây, vấn đề đặt ra là, nếu quy định VPQH vào Luật với tư cách là cơ quan giúp việc của Quốc hội, thì có quy định cả những cơ quan khác cũng đang làm nhiệm vụ này vào Luật không. Phải chăng, cũng chính vì đặc thù đó mà vị trí, vai trò của VPQH chưa được quy định trực tiếp trong Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành.

2. Thẩm quyền đối với công tác cán bộ của các vụ, đơn vị thuộc  Văn phòng Quốc hội giúp việc trực tiếp các cơ quan của Quốc hội, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Hiện nay có ý kiến cho rằng, VPQH là cơ quan hành chính hoạt động mang tính ổn định cao, còn HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội là cơ quan dân cử theo nhiệm kỳ, nên hoạt động không mang tính ổn định. Do vậy, về công tác cán bộ của các vụ, đơn vị giúp việc trực tiếp các cơ quan của Quốc hội, của UBTVQH nên giao VPQH đảm nhiệm. Theo đó, về việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, các cơ quan của Quốc hội chỉ nên đóng vai trò là người đưa ra "đơn đặt hàng" còn VPQH sẽ là người thực hiện việc "cung ứng"; việc quy định như hiện nay không bảo đảm nguyên tắc tổ chức và quản lý của bộ máy nhà nước; sẽ dẫn đến việc các cơ quan của Quốc hội mất thời gian cho công tác này, thay vì để thực hiện các nhiệm vụ "dân cử" của mình; hoặc dẫn đến tình trạng Hội đồng, Uỷ ban khóa sau không “ưng” với nhân sự do Hội đồng, Uỷ ban khóa trước đã tuyển chọn, đề bạt…

Sau đây, xin được đề cập ở góc độ những quy định của pháp luật và thực tiễn liên quan đến quan điểm VPQH là cơ quan hành chính hoạt động mang tính ổn định, và HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội là cơ quan dân cử hoạt động mang tính nhiệm kỳ, như trên vừa nêu.

2.1. Văn phòng Quốc hội

Theo Nghị quyết của UBTVQH quy định thì VPQH là cơ quan giúp việc của Quốc hội, có chức năng nghiên cứu, tham mưu tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động của Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội; các hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban của UBTVQH[9]. Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình VPQH được tổ chức thành các vụ, đơn vị tương đương cấp vụ; các phòng trực thuộc Chủ nhiệm VPQH và phòng trực thuộc vụ hoặc đơn vị tương đương cấp vụ. Tiếp theo, Nghị quyết cũng quy định, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm VPQH do UBTVQH quyết định. Bên cạnh đó, theo thẩm quyền Chủ nhiệm VPQH ban hành Quy chế làm việc của cơ quan, qua đó xác định VPQH là cơ quan làm việc theo chế độ thủ trưởng[10].

Với các quy định trên, có thể khẳng định, VPQH là một bộ máy hành chính giúp việc cho cơ quan lập pháp là Quốc hội.

Tuy nhiên, trên thực tế cũng cho thấy, khi bổ nhiệm chức danh Chủ nhiệm VPQH, UBTVQH luôn bổ nhiệm vào vị trí này một người là thành viên của mình - Ủy viên UBTVQH. Như chúng ta biết, UBTVQH là cơ quan hoạt động có nhiệm kỳ với các thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách[11]. Chưa kể, hiện nay ở Việt Nam, dù là chức danh thuộc cơ quan dân cử hay chức danh thuộc cơ quan hành chính thì theo quy định của pháp luật cũng đều được bầu hoặc bổ nhiệm có thời hạn là năm năm một lần. Điều này, đã làm cho tính chất hành chính, ổn định của VPQH không còn thuần nhất và chắc chắn như có ý kiến đã nêu.

Do vậy, ở đây quan điểm “VPQH là bộ máy hành chính, hoạt động ổn định, cần đảm nhiệm công tác cán bộ cho phù hợp với nguyên tắc tổ chức và quản lý của bộ máy nhà nước” nên được đề cập một cách đầy đủ và rõ ràng hơn về mặt lý luận, cũng như về mặt thực tiễn, cụ thể như sau:

Hiện nay, liên quan đến những nghiên cứu về cải cách tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương, đặc biệt là ở các cơ quan của Chính phủ, nhằm hướng đến một nền hành chính công vụ hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, giới nghiên cứu có nêu ra việc cần tách bạch bộ máy của các cơ quan này thành hai phần, gồm phần chính trị và phần hành chính. Phần chính trị do Bộ trưởng - Nhà chính trị hoạt động theo nhiệm kỳ và trên cơ sở của sự tín nhiệm, sẽ bảo đảm việc hoạch định chính sách, đường lối phát triển của ngành, lĩnh vực mà mình đứng đầu. Phần hành chính do một bộ máy công chức “chuyên nghiệp” có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, hoạt động thường xuyên, sẽ làm nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu giúp Bộ trưởng hoạch định chính sách, hoặc trực tiếp thực thi các chính sách đã được Bộ trưởng quyết định, đứng đầu bộ máy này, một công chức cấp cao được bổ nhiệm. Ở đây, bộ máy hành chính có nhiệm vụ phục vụ cho Bộ trưởng làm việc nhưng vẫn được bảo đảm một sự độc lập khá cao trong mối quan hệ với Bộ trưởng về mặt hành chính. Theo mô hình này, bộ máy hành chính được thiết kế như một "cỗ máy" đã và luôn được đáp ứng đủ các điều kiện tốt để vận hành trơn tru, thông suốt và Bộ trưởng chỉ là người điều khiển cỗ máy đó, nhằm hướng tới các mục tiêu do tự mình đặt ra, còn việc có đạt được mục tiêu hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực và trách nhiệm của chính Bộ trưởng.

Bên cạnh đó, mô hình trên còn có một đặc điểm đáng lưu ý là, vì tổ chức và hoạt động theo phương thức này nên công chức trong một bộ máy hành chính như vậy thường không tham gia vào các đảng phái, nhằm bảo đảm tính trung lập để phục vụ cho bất kỳ nhà chính trị thuộc đảng phái nào "đắc cử". Chính vì thế, ở những nước theo quan điểm tổ chức bộ máy này, người ta quen với việc theo thời gian “chính trị” có thể ra đi nhưng “hành chính” thì vẫn ở lại.

Trở về với việc tổ chức và hoạt động của bộ máy cơ quan nhà nước ở Việt Nam, chúng ta có phân tách giữa chính trị và hành chính không. Thực tế cho thấy, ở nước ta các Bộ trưởng - Nhà Chính trị vẫn giữ những quyền hành chính quan trọng mang tính quyết định đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính, đó là quyền đối với những vấn đề thuộc về công tác tài chính và cán bộ của cơ quan do mình đứng đầu[12]. Nói cách khác, ở Việt Nam hiện nay không theo mô hình tổ chức tách bạch giữa chính trị và hành chính.

Trước đây, cũng từng có một thực tiễn ở nước ta về việc thực hiện sự phân tách giữa hoạt động chuyên môn với hoạt động quản lý cán bộ và tài chính trong tổ chức bộ máy cơ quan, tương tự như quan điểm đã nêu, đó là trường hợp của ngành Tòa án. Trước khi có Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì công tác tổ chức, cán bộ cũng như việc bảo đảm các điều kiện vật chất cho các Tòa án địa phương được giao cho Bộ Tư pháp đảm nhiệm, Tòa án tối cao chỉ hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ để tạo cơ chế cho các Tòa án địa phương có sự độc lập trong mối quan hệ với Tòa án tối cao khi tiến hành hoạt động xét xử[13]. Đồng thời, qua đó cũng nhằm tạo điều kiện để ngành Tòa án tập trung vào hoạt động xét xử của mình. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian, việc áp dụng cách thức tổ chức này đã bộc lộ một số bất cập nên đến năm 2002 công tác tổ chức, cán bộ, cũng như việc bảo đảm các điều kiện vật chất cho các tòa án địa phương đã được chuyển giao lại cho ngành Tòa án tự đảm nhiệm cho đến nay[14].

2.2. Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

Theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội thì HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc hội, làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số, nhiệm kỳ của Hội đồng và các Ủy ban theo nhiệm kỳ của Quốc hội; Hội đồng gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên; Ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên; thành viên Hội đồng và các Ủy ban do Quốc hội bầu trong số các Đại biểu Quốc hội[15].

Trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng và các Ủy ban lại có bộ phận Thường trực, cụ thể: Thường trực HĐDT gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và một số Ủy viên thường trực tại Hội đồng do UBTVQH quyết định; Thường trực Ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và một số Ủy viên thường trực tại Ủy ban do UBTVQH quyết định; Thường trực Hội đồng, Thường trực Ủy ban làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số[16].

Theo quy chế hoạt động, được Quốc hội ban hành Thường trực HĐDT, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ quyền hạn trong việc phối hợp với Chủ nhiệm VPQH quy định chức năng, nhiệm vụ của đơn vị chuyên môn trực tiếp giúp việc Hội đồng, Ủy ban, quyết định việc tuyển dụng cán bộ, công chức, bổ nhiệm, cách chức Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và các chức vụ tương đương, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng và các chức vụ tương đương; quản lý và thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức thuộc đơn vị chuyên môn trực tiếp giúp việc Hội đồng, Ủy ban.

Để cụ thể hóa, những nhiệm vụ, quyền hạn trên của Thường trực Hội đồng, các Ủy ban của Quốc hội, UBTVQH nêu rõ: Thường trực HĐDT, Thường trực các Ủy ban phối hợp với Chủ nhiệm Văn phòng quyết định; Chủ nhiệm VPQH ra quyết định[17].

Thường trực HĐDT, Thường trực Ủy ban của Quốc hội là cơ quan dân cử theo nhiệm kỳ. Tuy nhiên, việc khẳng định vì tính chất này, mà hoạt động của Thường trực Hội đồng, các Ủy ban không ổn định, từ đó không nên tham gia vào công tác cán bộ của đơn vị trực tiếp giúp việc cho mình, cũng nên quan tâm thêm đến một số khía cạnh sau:

Một là, như đã đề cập hiện nay ở Việt Nam, dù là chức danh thuộc cơ quan dân cử hay chức danh thuộc cơ quan hành chính thì cũng đều được bầu hoặc bổ nhiệm theo nhiệm kỳ năm năm.

Hai là, khi xem xét về sự khác nhau, nhất là giữa “tính ổn định” của cơ quan hành chính và “tính không ổn định” của cơ quan dân cử trong trường hợp cụ thể này, không nên tách rời thực tế ở Việt Nam, đó là, việc chúng ta thừa nhận và luôn giữ nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, mà đặc biệt trong đó là, sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ của nhà nước. Do vậy, việc cán bộ đảm nhiệm vị trí nào, và làm nhiệm vụ gì trong bộ máy nhà nước, cũng đều là thực hiện trách nhiệm do Đảng phân công, bố trí. Cụ thể, trong công tác cán bộ, Đảng lãnh đạo bằng cách giới thiệu các Đảng viên ưu tú, có năng lực phù hợp vào các chức danh, vị trí lãnh đạo của các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan của Quốc hội, từ đó đã hình thành nên cơ chế "Đảng cử, dân tín nhiệm bầu". Như vậy, cùng với chủ trương hiện nay của Đảng về tăng cường cả số lượng và chất lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách[18], thực tế trong những nhiệm kỳ Quốc hội gần đây cho thấy, một số lượng không nhỏ đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương của khóa trước tái cử, sau đó trúng cử, và tiếp tục tham gia lại vào Thường trực Hội đồng, các Ủy ban của Quốc hội mà trước đó mình đã là thành viên, con số này thường đạt ở mức cao, thậm chí có cơ quan của Quốc hội tỷ lệ này đạt tới 100%[19]. Từ đó, đã tạo nên được một sự kế thừa tương đối ổn định về nhân sự ở các cơ quan của Quốc hội giữa các nhiệm kỳ.

Trong khi đó, thực tế ba khóa Quốc hội liên tiếp gần đây lại cho thấy, ở VPQH luôn có sự thay đổi người đứng đầu mỗi khi kết thúc một khóa Quốc hội.

Ba là, khi đề cập đến công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ không thể không tính đến một trong những vấn đề mang tính nguyên tắc là, người sử dụng cán bộ phải là người hiểu và được quyền quyết định về cán bộ. Như chúng ta đều biết, nói đến công tác cán bộ là nói đến con người, và những con người cụ thể sẽ được tuyển dụng, bổ nhiệm như thế nào, dựa vào những tiêu chí gì. Đương nhiên, tiêu chí cơ bản để tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ dù ở bất kỳ đâu hay thời kỳ nào, cũng không thể là gì khác, ngoài hai tiêu chí năng lực làm việc và phẩm chất đạo đức của con người đó. Ở đây, ngoại trừ trường hợp đặc biệt, chúng ta cần thống nhất là, trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ không phải là những vấn đề trừu tượng và rất khó để có thể nhận biết, đánh giá như quan niệm của một số ít người lâu nay.

Vậy, hai tiêu chí này sẽ thể hiện ở đâu, nếu không phải ở việc tổ chức kiểm tra, thi tuyển công khai, rộng rãi và nghiêm túc đối với trường hợp tuyển dụng, hoặc ở việc xem xét, đánh giá khách quan và cân nhắc kỹ lưỡng quá trình làm việc, rèn luyện đối với trường hợp bổ nhiệm. Cuối cùng, ai sẽ là người phù hợp để làm các công việc trên, nếu không phải là người sẽ trực tiếp sử dụng[20], hoặc đã có quá trình giao tiếp và trực tiếp làm việc thường xuyên với cán bộ đó. 

Do vậy, việc xem xét tính chất của cơ quan dân cử và cơ quan hành chính ở Việt Nam không nên chỉ dựa vào cơ sở "lý luận" tham khảo của nước ngoài, mà còn cần quan tâm cả đến yếu tố hình thành, tồn tại và hoạt động trên thực tế của các cơ quan đó, cũng như phải đặt chúng trong tổng thể tổ chức của cả hệ thống bộ máy và thể chế chính trị nhà nước. Nếu không rất dễ dẫn đến sự thiếu khách quan và thiếu toàn diện, khi nhận xét hoặc đề xuất những vấn đề liên quan, ví như ý tưởng về việc Hội đồng, các Ủy ban chỉ nên đóng vai trò là người đưa ra "đơn đặt hàng" còn VPQH sẽ là người thực hiện việc "cung ứng" trong công tác cán bộ. Làm thế, sẽ rất khó tránh khỏi tình huống "thiếu và cần một thứ này, nhưng lại được cấp cho một thứ khác" như trong các câu chuyện thường gặp ở thời kỳ bao cấp trước đây; hoặc tình trạng chưa biết việc Hội đồng, Ủy ban khóa sau có “ưng” với nhân sự giúp việc do khóa trước quyết định hay không, nhưng nếu để cho cơ quan khác toàn quyền quyết định, thì việc Hội đồng, Ủy ban khóa hiện tại, có “ưng” với nhân sự đó hay không, đã là điều có thể thấy tương đối rõ.

       Chúng tôi cũng đồng quan điểm với việc nên có cơ chế để VPQH có thể đảm nhiệm việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ một cách tích cực và chủ động hơn, giúp cho các cơ quan của Quốc hội có điều kiện tập trung vào các hoạt động “đại diện” của mình. Tuy nhiên, nội dung này nên được nghiên cứu kỹ và mang tính tổng thể để đưa ra các lý do phù hợp với thực tế thì sẽ thuyết phục hơn, thay vì chỉ dựa vào lập luận: cơ quan hành chính hoạt động ổn định, nên phải đảm nhiệm việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ; còn cơ quan dân cử, hoạt động có nhiệm kỳ, không nên tham gia vào những công việc đó; và rằng, nếu làm khác đi như vậy sẽ không bảo đảm nguyên tắc tổ chức và quản lý của bộ máy nhà nước…

Cuối cùng, về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, trong thời gian tới nếu chưa có sự đổi mới cơ bản mô hình tổ chức bộ máy giúp việc của Quốc hội, sự cải tiến hơn nữa phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cũng như Quốc hội nói chung, thì cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ của các đơn vị thuộc VPQH như quy định của Nghị quyết 417 là khá hợp lý, khi đặt trong mối quan hệ hiện nay giữa VPQH với các cơ quan của Quốc hội, của UBTVQH. Như vậy, ở đây điều quan trọng, vẫn là việc phải tăng cường phối hợp giữa các chủ thể có trách nhiệm và thẩm quyền trong công tác cán bộ, nhất là việc bảo đảm sự phối hợp, trao đổi thường xuyên giữa hai chủ thể là Thường trực Hội đồng, các Ủy ban của Quốc hội và Chủ nhiệm VPQH[21], trên cơ sở phát huy tính chủ động, tích cực trong thực hiện nhiệm vụ tham mưu, đề xuất của đơn vị trực tiếp giúp việc Hội đồng, Ủy ban và đơn vị làm công tác chuyên môn về tổ chức, cán bộ[22].

3. Tổ chức phòng trong vụ, đơn vị thuộc  Văn phòng Quốc hội

Theo Nghị quyết 417, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình VPQH được tổ chức thành các vụ, đơn vị tương đương cấp vụ; các phòng trực thuộc Chủ nhiệm VPQH và phòng trực thuộc vụ hoặc đơn vị tương đương cấp vụ. Trên thực tế, giai đoạn vừa qua cấp phòng chỉ chủ yếu được tổ chức ở những vụ, đơn vị phục vụ chung, còn đối với những vụ, đơn vị trực tiếp giúp việc HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban của UBTVQH thì không thành lập phòng. Việc thành lập phòng ở một số vụ, đơn vị phục vụ chung là khá hợp lý, bởi lẽ phần lớn hoạt động của các đơn vị này đều mang tính chất mệnh lệnh, thừa hành hoặc kỹ thuật, nên chủ yếu tập trung ở các mảng công việc như hành chính, quản trị, cung cấp thông tin, dịch vụ…nhằm phục vụ, bổ trợ cho việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu.

Nhưng hiện nay đang có xu hướng thành lập phòng ở cả trong các vụ, đơn vị trực tiếp giúp việc Hội đồng, các Ủy ban, các Ban. Theo chủ quan của chúng tôi, xu hướng này phần nào phản ánh hai nhu cầu chính sau đây ở các vụ, đơn vị này:

Một là, nhu cầu cần được tăng cường về công tác tổ chức và cán bộ của các đơn vị để đáp ứng yêu cầu về khối lượng công việc ngày càng nhiều và đòi hỏi về chất lượng công việc ngày càng cao của các Đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội mà vụ, đơn vị đang thường xuyên, trực tiếp phục vụ.

Hai là, nhu cầu tạo thêm những “khoảng không gian” cho một sự phát triển hài hòa, mang tính kế tiếp hợp lý, có lớp lang trong đội ngũ cán bộ của đơn vị, hoặc đồng thời cũng có thể qua đó, mà kết hợp với việc thực hiện chính sách cán bộ trong những trường hợp cần thiết.

Tuy nhiên, như trên đã đề cập, về cơ bản việc thành lập phòng trong các vụ, đơn vị phục vụ chung là khá hợp lý, thì việc thành lập phòng trong các vụ, đơn vị trực tiếp giúp việc Hội đồng, các Ủy ban, các Ban lại là không cần thiết và cũng không nên. Bởi lẽ, việc này sẽ làm cho hoạt động của vụ, đơn vị thêm nhiều tầng nấc, không phù hợp với tính chất công việc là nghiên cứu, tham mưu, từ đó sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng và tiến độ công việc.

Để giải quyết hai nhu cầu trên, có thể nghiên cứu áp dụng các giải pháp khác như: tăng cường thêm cán bộ có năng lực, trình độ cho các vụ, đơn vị này (chú trọng về chất lượng ở ngay khâu tuyển dụng để hạn chế tối đa việc tuyển dụng về rồi mới đào tạo, đào tạo lại và đào tạo tiếp); thay đổi phương thức làm việc, tập trung vào việc nghiên cứu để chuyển từ chế độ làm việc thủ trưởng thuần túy như quy định hiện nay sang chế độ làm việc thủ trưởng kết hợp với chế độ làm việc chuyên viên. Trong đó, làm rõ lĩnh vực công tác nào thì làm việc theo chế độ thủ trưởng, lĩnh vực công tác nào thì làm việc theo chế độ thủ trưởng kết hợp với chế độ chuyên viên; hình thành chế độ chuyên gia; thực hiện có hiệu quả chế độ phong hàm cấp phòng, cấp vụ hiện có… để tạo ra những vị trí “tương xứng” với những cán bộ xứng đáng.

Trong trường hợp xét thấy việc thành lập phòng vẫn là cần thiết, đề nghị quan tâm đến vấn đề sau: các vụ, đơn vị giúp việc trực tiếp các cơ quan của Quốc hội đều có chung một số nhiệm vụ chính là nghiên cứu, tham mưu và tổ chức phục vụ, giúp cho các cơ quan này thực hiện ba hoạt động chủ yếu của mình là thẩm tra, giám sát và kiến nghị. Do vậy, việc có thành lập phòng ở các vụ, đơn vị này hay không cần phải được nghiên cứu một cách đồng bộ để triển khai thực hiện thống nhất, tránh trường hợp cùng là các đơn vị có tính chất hoạt động như nhau nhưng lại có cơ cấu, tổ chức khác nhau, dẫn đến sự phức tạp không cần thiết trong tổ chức bộ máy của cơ quan. Liên quan đến việc thành lập mới các đơn vị nói chung và đơn vị là cấp phòng nói riêng, xin được nêu một thực tế, năm 1993 VPQH thành lập Ban thanh tra, theo Quyết định, đây là đơn vị cấp phòng trực thuộc Chủ nhiệm, có biên chế từ 5-7 cán bộ[23]... Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có nhiều người trong VPQH không biết đến đơn vị này, và cho rằng chức danh Trưởng ban Thanh tra là một chức danh “tự nhiên có”, chứ không dựa trên một cơ sở mang tính pháp lý nào khi bổ nhiệm, và hiện nay, chức danh này được biết đến như là một chức danh thuộc Vụ Tổ chức - Cán bộ.

Sau cùng, việc tổ chức phòng ở các đơn vị cấp vụ thuộc VPQH, cũng nên là một nội dung đáng quan tâm trong quá trình tổng kết, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 417 mà chúng ta đang tiến hành. Theo chúng tôi, cần xem xét để quy định vấn đề này ngay trong Nghị quyết, theo hướng khẳng định nguyên tắc: chỉ một số đơn vị cấp vụ làm công tác phục vụ chung, và phải được nêu rõ tên trong Nghị quyết này mới tổ chức cấp phòng, còn cụ thể gồm những phòng gì trong đơn vị đó sẽ do Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội xem xét, quyết định./.

 

 



[1] Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI - trang 248, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội-2011

[2] Nghị quyết số 27/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội

[3] Điều 92, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2007

[4] Điều 1, Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 01/10/2003 của UBTVQH về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội

[5] Điều 84, Hiến pháp 1992 (SĐ); Điều 2, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 SĐBS năm 2007

[6] “Bộ máy giúp việc của UBTVQH là VPQH, Ban công tác đại biểu, Ban dân nguyện”-Điều 60, Nghị quyết số 26/2004/QH11 ngày 15/6/2004; “VPQH, Văn phòng giúp việc Đoàn Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm… phục vụ QH, UBTVQH, HĐDT, UB của QH… thực hiện hoạt động giám sát”-Điều 47, Luật hoạt động giám sát của QH.

[7] Điều 30, Luật tổ chức Chính phủ năm 2001

[8] Điều 2, Nghị định số 33/2008/NĐ-CP ngày 19/3/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của VPCP

[9] Điều 1, Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 01/10/2003 của UBTVQH

[10] Điều 2, Quy chế làm việc của VPQH ban hành kèm theo Quyết định số 1758/QĐ-CNVP ngày 29/9/2005

[11] Điều 2, Quy chế hoạt động của UBTVQH ban hành kèm theo Nghị quyết số 26/2004/QH11 ngày 15/6/2004

[12] Điều 23, Luật tổ chức Chính phủ năm 2001: Bộ trưởng có nhiệm vụ, quyền hạn: bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng; tổ chức thực hiện công tác đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, chế độ tiền lương, khen thưởng, kỷ luật; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước; quản lý và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ…

 

[13] Điều 16, 18 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992.

[14] Điều 17 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002

[15] Điều 21, 24, 25 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2007

[16] Điều 7, Quy chế hoạt động của HĐDT, các UB của QH ban hành kèm theo Nghị quyết số 27/2004/QH11 của QH ngày 15/6/2004

[17] Điều 8, Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 01/10/2003 của UBTVQH

[18] “Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách…” trg 248, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội-2011

[19] Ủy ban Quốc phòng và An ninh khóa XII-khóa XIII; Ủy ban KHCN & môi trường  khóa XII-khóa XIII.. (không tính trường hợp quá tuổi tái cử theo quy định của Đảng và trường hợp bổ sung thêm đại biểu chuyên trách mới).

[20] Ở đây chỉ đề cập đến việc tuyển dụng trong trường hợp xem xét, tiếp nhận người đã là công chức từ cơ quan khác chuyển đến VPQH, không bao hàm việc tuyển dụng trong trường hợp thi tuyển công chức mới.

[21] Các chủ thể có trách nhiệm và thẩm quyền trong việc bổ nhiệm cán bộ quản lý cấp vụ, cấp phòng là: Thường trực Hội đồng, các Ủy ban; Chủ nhiệm VPQH; và Thường vụ Đảng ủy cơ quan VPQH-Điều 4, Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại … ban hành kèm theo  Quyết định 1157/QĐ-VPQH ngày 5/9/2005.

[22]Vụ TCCB là đơn vị thuộc VPQH có chức năng nghiên cứu tham mưu giúp Chủ nhiệm VPQH, HĐDT, các UB của QH, các Ban của UBTVQH” - Điều 1, Quyết định 856/QĐ-VPQH ngày 28/4/2005 về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của vụ TCCB.

[23] Quyết định số 1093 QĐ/CN ngày 05/10/1993 của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội về việc thành lập Ban Thanh tra  của Văn phòng Quốc hội.

 

ThS. Trần Hoài Nam - Văn phòng Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân