|
Quyền con người và an ninh con người
|
||
|
An ninh con người và quyền con người là hai phạm trù khái niệm không đồng nhất về nội dung, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Về mặt lý luận, khái niệm an ninh con người còn khá mAn ninh con người và quyền con người là hai phạm trù khái niệm không đồng nhất về nội dung, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Về mặt lý luận, khái niệm an ninh con người còn khá mới mẻ, chưa được nghiên cứu và ít được đề cập trên các diễn đàn khoa học ở nước ta. Để góp phần làm rõ khía cạnh nào đó về khái niệm an ninh con người, chúng tôi xin giới thiệu một số nét khái quát về thuyết an ninh con người và mối quan hệ với quyền con người.
1. Khái quát về thuyết an ninh con người 1.1 Nguồn gốc của khái niệm an ninh con người - Nhận thức về an ninh con người đã xuất hiện như là một kết quả tất yếu do có những thay đổi căn bản trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới vào những năm 90 của thế kỷ 20, đã dẫn tới xuất hiện khái niệm về “an ninh con người”. Thời điểm đó cũng là thời điểm kết thúc Chiến tranh lạnh, sự phụ thuộc giữa các nước với nhau gia tăng, thời điểm của toàn cầu hoá, của sự thay đổi mô hình, chuẩn mực về thể chế chính trị, thể chế kinh tế; sự nảy sinh xung đột dân tộc và các cuộc khủng hoảng, gia tăng thảm hoạ thiên nhiên, dịch bệnh; đang đe doạ trực tiếp đời sống của mỗi cá nhân, của quốc gia, khu vực thậm chí toàn cầu, ảnh hưởng tới mô hình phát triển kinh tế, xã hội nói chung. Vì thế nhiều học giả quốc tế còn ví “sự xuất hiện khái niệm an ninh con người” là kết quả của sự khám phá mới, thay đổi với về mối quan hệ giữa “an ninh” và “phát triển”. Kết thúc Chiến tranh lạnh, các cuộc đe doạ chiến tranh thế giới và các cuộc chiến tranh xuyên quốc gia có vẻ giảm bớt, nhưng các cuộc chiến tranh trong phạm vi quốc gia lại có chiều hướng gia tăng. Theo thống kê, chỉ tính từ năm 1989 – 2000, đã có 110 cuộc xung đột, trong đó chỉ có 7 trong số đó là chiến tranh giữa các nước, còn lại là các cuộc nội chiến1. Chính điều này, đã đặt ra thách thức đối với khái niệm an ninh truyền thống, mà trung tâm của nó là duy trì chủ quyền và an ninh quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ. Bên cạnh đó, cộng đồng quốc tế, dường như có sự hoài nghi về khái niệm an ninh truyền thống sau Chiến tranh lạnh khi ngày càng gia tăng các vấn đề như nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự không bình đẳng giữa giàu và nghèo, sự xuống cấp của môi trường, sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tỵ nạn quốc tế gia tăng, buôn bán người, đặc biệt buôn bán phụ nữ và trẻ em gái, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo…Vì vậy, cộng đồng quốc tế đã phát triển một khái niệm mới nhằm bù đắp vào sự thiếu hụt trong khái niệm an ninh truyền thống. Trên cơ sở các khái niệm an ninh mới như “an ninh không truyền thống/non-traditional security”, “an ninh không quân sự/non-millitary”, “an ninh toàn cầu/global security”, “an ninh vượt phạm vi quốc gia/transnational”, “an ninh toàn diện/comprehensive security”, “an ninh mới/new security”, “an ninh bền vững/sustainable”, trong Báo cáo Phát triển con người đã hướng tới một nhận thức mới là “an ninh con người” mà theo đó, nó nhấn mạnh đến an ninh của con người, mà không chỉ là an ninh của quốc gia. Chính trong Báo cáo Phát triển con người năm 1994 đã đánh dấu một chương mới cho sự cần thiết để thúc đẩy sự thay thế khái niệm an ninh truyền thống bằng khái niệm về “an ninh con người”. - Như vậy, khái niệm “an ninh con người” chính thức xuất hiện vào những năm 90 của thế kỷ 20, mặc dù nếu xét về mặt nội hàm khái niệm thì đã có sự tranh luận từ lâu. An ninh con người, phản ánh rõ sự chuyển hướng về khái niệm an ninh, như một loạt các câu hỏi được đặt ra “an ninh là gì”, “an ninh cho ai”, hay “nguồn gốc của các mối đe doạ là gì”. Các học giả quốc tế đã chính thức phân chia an ninh thành hai loại. Đó là an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. An ninh truyền thống nhấn mạnh an ninh chính trị và quân sự của quốc gia. Khái niệm này dùng trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, khi mà các quốc gia phải đương đầu với những thách thức như chiến tranh huỷ diệt. Nó giả sử rằng các quốc gia chỉ là mục tiêu của vấn đề an ninh, nguồn gốc duy nhất của đe doạ quân sự là từ các khối thù địch, giá trị cơ bản của an ninh này là bảo đảm sự sống còn của quốc gia và toàn vẹn về lãnh thổ, chủ quyền; và tiếp cận thu được của an ninh chính là liên minh chính trị và ngăn chặn hạt nhân. Ngược lại, khái niệm an ninh không truyền thống mở rộng phạm vi sang lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, sức khoẻ, quyền con người. Giá trị cơ bản của khái niệm an ninh quốc gia mở rộng từ giá trị bảo vệ lãnh thổ quốc gia và chủ quyền sang các giá trị sống còn của hệ thống chính trị, truyền thống xã hội, sự hài hoà và ổn định của các quan hệ dân tộc, duy trì và toàn vẹn văn hoá, sự thịnh vượng kinh tế và phát triển, công bằng và công lý. Những mối đe doạ những giá trị này, không chỉ từ đe doạ quân sự bên ngoài và sự lật đổ chính trị, mà còn từ sự không công bằng về kinh tế hay sự tan rã xã hội…2 An ninh con người là một kiểu an ninh phi truyền thống. Về bản chất, là xem xét lại và suy tính lại trên phạm vi quốc tế về khái niệm an ninh trong các thập kỷ gần đây được bao hàm trong một khái niệm an ninh hoàn toàn mới. Năm 1991, Sáng kiến Stockholm về An ninh toàn cầu và Quản trị thiết lập một kênh khái niệm an ninh truyền thống, theo đó lấy quốc gia làm trung tâm, kêu gọi mở rộng sang các lĩnh vực của vấn đề an ninh và khám phá vấn đề an ninh gây ra bởi sự đình trệ của sự phát triển, xuống cấp của môi trường, sự gia tăng dân số và vấn đề dân nhập cư…3 Người đóng vai trò quan trọng trong chuyển hướng nhận thức, khái niệm về an ninh, chính là Mabhub Ul-Haq - nhà kinh tế học nổi tiếng, người đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng Chỉ số Phát triển con người và Chỉ số Quản trị con người và Báo cáo Phát triển con người, đã kêu gọi và lưu ý về mối quan tâm tới con người - mục tiêu của an ninh, của suy nghĩ mới hoặc cần có sự thay đổi mô hình trước khi công bố Báo cáo Phát triển con người năm 1994. Ông cho rằng: “thế giới đã bước vào một thế kỷ an ninh con người mới, vì khái niệm an ninh hoàn toàn sẽ chuyển hướng và lớn mạnh. Theo khái niệm mới này, an ninh sẽ là an ninh của con người hơn chỉ là an ninh quốc gia; mạng sống của con người hơn là quyền lực quân sự của quốc gia sẽ phải là mối quan tâm; các giá trị sẽ cần phải được bảo vệ chính là an ninh và sự thịnh vượng của chính các cá nhân trong các ngôi nhà của họ, trong công việc của họ, trong các bạn bè, láng giềng, trong các cộng đồng và trong môi trường tự nhiên của họ4”. Và Báo cáo Phát triển con người năm 1993, đã ghi nhận rằng, “Khái niệm mới của an ninh con người nhất định nhấn mạnh an ninh con người, không chỉ là của quốc gia5”. Kết quả là, Báo cáo Phát triển năm 1994 tuyên bố một cách có tính hệ thống là cần thiết phải thay thế khái niệm an ninh truyền thống bằng khái niệm an ninh con người. Bên cạnh tiếp cận chuyển hướng khái niệm an ninh, cùng với nó là sự tiến triển của khái niệm chính trị, theo đó nội hàm của an ninh con người có thể được hiểu thông qua các giá trị của quyền con người6. Hay sự thay đổi dựa vào sự phát triển mà theo đó, phát triển nhất định đặt con người là trung tâm, chứ không phải là vào an ninh biên giới quốc gia và nhất định đặt phát triển về sức khoẻ, giáo dục và tự do chính trị bên cạnh sự thịnh vượng về kinh tế7. Sau này, Ủy ban An ninh con người của Liên hợp quốc định nghĩa an ninh con người là phải bảo vệ các giá trị cơ bản quan trọng nhất trong cuộc sống của tất cả mọi người theo hướng tăng cường khả năng tự do lựa chọn và hưởng thụ của con người, nghĩa là bảo vệ con người khỏi những mối đe dọa và tình huống nguy hiểm hiện hữu ở khắp mọi nơi8. Cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc, ông Kô-phi An-nan đã từng nhấn mạnh an ninh con người không tách rời hòa bình, an ninh và phát triển. Nó không chỉ đơn giản là tình trạng không có xung đột bạo lực, mà còn bao gồm nhân quyền, quản lý nhà nước tốt, cơ hội tiếp cận giáo dục và chăm sóc sức khỏe và bảo đảm mỗi cá nhân có cơ hội và sự lựa chọn để phát huy được năng lực của mình9. 1.2 Nội hàm khái niệm an ninh con người An ninh con người, theo Báo cáo Phát triển của Liên hợp quốc, có nội hàm khá rộng, trải trên nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… của mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu. Tuy vậy, kể từ thời điểm xuất hiện khái niệm an ninh con người, nhiều Chính phủ, các học giả, các tổ chức phi chính phủ cũng đã tiến gần tới một nhận thức mới và hướng tới những định nghĩa khác nhau, nhưng đều bao hàm các vấn đề có liên quan đến một loạt các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị của các nước như: việc làm, sức khoẻ, môi trường, thực phẩm, an toàn, cộng đồng, chính trị, nhân quyền, giáo dục, tôn giáo, dân tộc, sắc tộc… Định nghĩa về an ninh con người, vì thế, có sự khác nhau theo các nhận thức về giá trị chủ quan, sự hiểu biết và yếu tố chính trị. Nhưng bất chấp nhận thức còn có sự khác biệt, khái niệm an ninh con người trong Báo cáo Phát triển con người của UNDP năm 1994, quan tâm chính là lấy an ninh của cá nhân con người hơn là lấy nhà nước là trung tâm của an ninh. Tiến sĩ Mahbub ul Haq, Tư vấn đặc biệt của Quản trị UNDP đã phổ biến khái niệm trong bốn câu sau đây: “an ninh con người: không chỉ là an ninh của đất đai, đó là an ninh của con người; không chỉ là an ninh thông qua các cánh tay, mà đó là an ninh thông qua sự phát triển; đó không chỉ là an ninh của quốc gia, mà đó là an ninh của cá nhân trong ngôi nhà của họ và trong các công việc của họ; đó không chỉ là bảo vệ chống lại các cuộc xung đột giữa các quốc gia, mà đó là bảo vệ chống lại các cuộc xung đột giữa con người10”. Trong Báo cáo phát triển của UNDP năm 1994, đã có sự miêu tả chi tiết: “Nó có nghĩa là an toàn thoát khỏi các mối đe doạ về đói nghèo, bệnh tật, tội phạm, sự đàn áp. Nó cũng có nghĩa bảo vệ khỏi sự đổ vỡ có hại và bất ngờ trong mẫu hình của đời sống hàng ngày tại gia đình, công việc, trong cộng đồng hay trong môi trường của chúng ta11”. Điều cụ thể hơn, an ninh con người nghĩa là trẻ em không bị chết, các bệnh tật sẽ không lan truyền, các công việc sẽ không bị mất, các căng thẳng trong cộng đồng sẽ không chuyển thành xung đột bạo lực và những người không theo đạo không bị cưỡng bức phải im lặng12. Có bốn đặc điểm của an ninh con người. Thứ nhất, đó là tính phổ biến. Các dân tộc dù mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, tất cả đều chịu tác động của an ninh con người. Mặc dù có sự khác nhau về các mối de dọa đến an ninh con người tại khu vực này hay khu vực khác, nhưng nhìn chung, chúng là thực sự và đang gia tăng. Thứ hai, có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần của an ninh con người. Khi con người - là một góc nhỏ của thế giới - bị đe doạ, thì phần còn lại của thế giới cũng sẽ có sự dính líu, dù đó là đói nghèo, bệnh tật, buôn bán ma tuý, xung đột dân tộc và rối loạn xã hội…Tất cả các thành phần của an ninh con người luôn phụ thuộc vào nhau, không thể tách rời, cũng không giới hạn đó là công việc nội bộ của một nước. Thứ ba, ngăn ngừa sớm, tốt hơn là ngăn ngừa muộn. Chẳng hạn ngăn ngừa sớm là hiệu quả hơn đối với HIV/AIDS. Thứ tư, đó là con người là trung tâm của an ninh con người. An ninh con người là con người sống và thở trong một xã hội như thế nào và họ có thể được lựa chọn một cách tự do như thế nào, cơ hội của họ giành được thị trường và xã hội lớn như thế nào, và liệu họ sống trong xung đột hay hoà bình13. Báo cáo cũng phân loại an ninh con người thành bảy phạm trù an ninh. Đó là: an ninh kinh tế (bảo đảm việc làm và thu nhập); an ninh lương thực (không bị thiếu ăn); an ninh sức khoẻ (không bị dịch bệnh); an ninh môi trường (không bị ô nhiễm về không khí, nguồn nước…), an ninh cá nhân (không bị đe doạ bắt bớ giam cầm..), an ninh cộng đồng (duy trì bản sắc văn hoá, đặc trưng dân tộc) và an ninh chính trị (bảo đảm quyền tự do cơ bản của con người về dân sự, chính trị). Như vậy, khái niệm an ninh con người là một khái niệm hoàn toàn mới, nó có ý nghĩa thực tiễn và lý luận sâu sắc. Nhìn chung, sự đóng góp cơ bản của khái niệm này, chính là xem xét lại khái niệm an ninh truyền thống. Và sự lý giải ngày một rõ hơn như: “an ninh con người, không phải là lãnh thổ; vì an ninh con người không phải là của an ninh quốc gia, vì đạt được bởi sự phát triển, mà không phải bằng vũ lực; và vì an ninh của tất cả nhân loại…14”. 2. Mối quan hệ giữa an ninh con người và quyền con người Khái niệm quyền con người có một quan hệ không thể tách rời với khái niệm an ninh con người. Tất nhiên, an ninh con người và quyền con người không phải là một, mà nó cũng không hoàn toàn là khái niệm trùng lắp, giữa chúng có sự khác nhau, nhưng không tách rời nhau. Nếu như khái niệm quyền con người, là chỉ các quyền tự do cá nhân, mà mỗi con người đều có vì lý do đơn giản họ là một con người, chứ không phải vì họ là công dân của một nhà nước; và các quyền con người cho phép cá nhân tồn tại và phát triển trong nhân phẩm. Và nhân phẩm là nguồn gốc của quyền con người, vì theo ngôn ngữ được diễn đạt phổ biến trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, thì quyền con người bắt nguồn từ nhân phẩm và giá trị vốn có của con người. Như vậy, xét về mặt bản chất tự nhiên, quyền con người không phải là thứ ban phát của Nhà nước. Khái niệm nhân quyền đã phản ánh mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước và cá nhân, công dân, theo đó một bên chủ thể có quyền (cá nhân, công dân) và bên kia, chủ thể mang nghĩa vụ (Nhà nước). Mối quan hệ trách nhiệm giữa cá nhân và Nhà nước được quy định rất rõ trong luật nhân quyền quốc tế, đó là ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước là phải tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền và tự do của cá nhân. Để có được các chuẩn mực quốc tế đó, loài người đã phải trả giá cho chính các hành vi khinh thường hay sự chà đạp thô bạo lên các quyền tự nhiên, nhân phẩm và lương tri nhân loại. Và các chuẩn mực quốc tế đó đã được hình thành và phát triển qua hơn sáu mươi năm, kể từ sau thảm hoạ của Chiến tranh thế giới lần thứ II (1945). Chính vì thế, từ khi ra đời đến nay, Liên hợp quốc luôn lấy tôn trọng và bảo vệ nhân quyền và các tự do cơ bản của con người là tôn chỉ, mục đích cho các hoạt động của mình. Cùng với việc duy trì hoà bình, giải quyết các tranh chấp quốc tế, hợp tác giải quyết các vấn đề quốc tế có liên quan đến kinh tế, xã hội, văn hoá và phúc lợi xã hội, cũng đều nhằm khuyến khích, thúc đẩy tôn trọng nhân quyền và các tự do cơ bản của con người. Hiến chương Liên hiệp quốc và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 được xem là văn kiện quốc tế khởi đầu cho những ý tưởng về an ninh chung. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã liệt kê một loạt các quyền con người cơ bản, như quyền sống, không bị phân biệt đối xử, không bị tra tấn, nhục hình, quyền lao động, quyền giáo dục, các quyền tự do ngôn luận, tư tưởng, báo chí, hội họp hoà bình, đi lại, cư trú… Chính những quyền này là nội dung cơ bản cấu thành nội hàm của khái niệm “an ninh con người” như hiện nay. Trên khía cạnh này, một số học giả quốc tế còn tranh luận rằng, “an ninh con người” thu nạp và được xem là một phần của quyền con người. Chẳng hạn theo Trung tâm nghiên cứu và đào tạo Châu Âu về dân chủ và quyền con người ghi chú trong cuốn Tìm hiểu về nhân quyền tài liệu về giáo dục nhân quyền cho rằng, nhân quyền hàm ý an ninh con người, vì các quyền tự do và an ninh cá nhân được quy định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Điều 3); và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 9) có nghĩa rằng đã giải thích khá rõ hàm ý về tự do không bị sợ hãi và các quyền an ninh xã hội và mối liên hệ của nó với các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá được quy định trong Tuyên ngôn nhân quyền (Điều 22) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 9) có nghĩa là tự do thoát khỏi đói nghèo. Các quy định có liên quan còn được quy định trong Công ước Châu Âu về nhân quyền (Điều 5); Công ước Châu Mỹ về nhân quyền (Điều 7); Hiến chương Châu Phi về nhân quyền và quyền của các dân tộc (Điều 6) đều liên quan đến bảo đảm an ninh cá nhân và yêu cầu các quốc gia không được can thiệp một cách vô cớ đến sự toàn vẹn cá nhân. Như vậy, nghĩa rộng của an ninh con người có thể hiểu thông qua các giá trị của quyền con người. Mặt khác, các ý tưởng về bảo vệ quyền con người trong xã hội quốc tế ngày nay cũng phản ánh trực tiếp đến “an ninh con người” và nhấn mạnh các quyền dân sự, chính trị của cá nhân. Và vì thế nội hàm của khái niệm an ninh con người gồm cả an ninh chính trị và an ninh cá nhân. Trên một khía cạnh khác, mối quan hệ giữa quyền con người và an ninh con người, trong đó con người có quyền được bảo đảm có một trật tự xã hội và quốc tế, các quyền và tự do của con người phải được tôn trọng và bảo vệ, dẫn tới xuất hiện bảo đảm và cân bằng giữa các yếu tố an ninh: an ninh cá nhân, an ninh quốc gia và an ninh quốc tế. Thúc đẩy, bảo vệ quyền con người chính là cách nhằm đạt được các phạm trù an ninh đó. Betrand Ramcharan, nguyên Phó Cao uỷ về Nhân quyền của Liên hiệp quốc từ năm 1998, cho rằng, quyền con người xác định an ninh con người và an ninh cá nhân, quốc gia và quốc tế đòi hỏi phải bảo vệ nhân quyền. Ông minh chứng mối quan hệ giữa an ninh cá nhân, quốc gia và quốc tế. Theo đó, an ninh cá nhân nhất định phải dựa trên nền tảng của an ninh quốc gia, và an ninh quốc gia đặt nền tảng trong an ninh cá nhân nhất định dựa trên nền tảng của an ninh quốc tế. Phát triển quan điểm của mình về mối quan hệ giữa quyền con người và an ninh con người, theo đó sự phát triển cũng đòi hỏi phải tôn trọng quyền con người và tôn trọng nhân quyền là ngăn ngừa xung đột. Vì vậy, việc ban hành các chính sách hoà bình cũng nhất định phải xây dựng trên nền tảng của quyền con người; gìn giữ hoà bình và xây dựng hoà bình nhất định lấy quyền con người là trung tâm; các chiến lược nhân đạo nhất định phải bao hàm mối quan tâm về nhân quyền15. Như vậy, an ninh con người đặt con người làm trung tâm, coi tôn trọng và bảo vệ quyền tự do về chính trị, dân sự, sự thịnh vượng của cá nhân là nền tảng của an ninh. Mục tiêu chính của quan niệm an ninh con người chính là lấy tôn trọng quyền con người và tự do của cá nhân là xuất phát điểm. Và như vậy, xét về mặt bản chất, an ninh con người là tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Báo cáo của Uỷ ban An ninh con người16 năm 2003 với tiêu đề An ninh con người hiện nay đã nhìn an ninh con người và quyền con người như là sự bổ sung cho nhau: “Quyền con người và an ninh con người củng cố lẫn nhau. An ninh con người giúp xác định các quyền trong một tình huống cụ thể. Và các quyền con người giúp trả lời câu hỏi: An ninh con người nên được thúc đẩy như thế nào? Ý tưởng nghĩa vụ, trách nhiệm, bổ sung việc công nhận tầm quan trọng về chính trị và đạo đức của an ninh con người”17. Báo cáo của Uỷ ban An ninh con người xác định mục đích của an ninh con người là bảo vệ cuộc sống của tất cả các cá nhân theo cách đề cao các tự do và thực hiện nhân quyền. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, an ninh của con người trong tình trạng mạo hiểm bao gồm các mối đe doạ và các điều kiện mà nó luôn không được phân loại như an ninh quốc gia. An ninh con người cũng quan tâm tới sự tước đoạt: khỏi sự kiệt quệ cùng cực, ô nhiễm môi trường, bệnh tật, ốm đau, mù chữ và các bệnh khác. An ninh con người có nghĩa, bảo vệ các tự do cơ bản - tự do là thiết yếu của cuộc sống con người18. Như vậy, nghiên cứu, xem xét trong tổng thể các mối quan hệ giữa an ninh con người và quyền con người cho thấy, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khái niệm an ninh con người đã cho chúng ta một cách tiếp cận mới về an ninh nói chung, trong đó được xem là một thách thức với khái niệm an ninh truyền thống chỉ coi quốc gia, dân tộc và chính quyền nhà nước là chủ thể chính, đóng vai trò trung tâm trong chính sách bảo đảm an ninh quốc gia và ưu tiên của vấn đề an ninh. Tuy vậy, sự xuất hiện khái niệm an ninh con người, không phải không gây tranh cãi và còn có cách hiểu và tiếp cận, lĩnh hội khác nhau trên phạm vi thế giới, khu vực và quốc gia. Trong khu vực ASEAN, ban đầu hầu hết các nước tiếp cận khái niệm này với thái độ khá thận trọng và nghi ngờ vì đa phần các nước đều trải qua một thời gian dài bị các quốc gia thực dân, đế quốc chiếm đóng nên hầu hết xếp trật tự an ninh quốc gia là trung tâm, và nhấn mạnh đến chủ quyền và phản đối sự can thiệp vào công việc nội bộ. Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh chung đó. Dù còn có cách nhìn và cách hiểu cũng như sự tiếp nhận khác nhau giữa các nước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về khái niệm an ninh con người, nhưng nhìn chung, sự phát triển về khái niệm - dựa trên những thay đổi hiện thực của đời sống chính trị, xã hội, kinh tế, nhất là các hiểm hoạ toàn cầu không loại trừ bất kỳ một châu lục, một quốc gia, dân tộc nào - thì cần phải tiếp tục nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc. Và mục tiêu của nhân loại cần hướng tới nhất định vẫn phải lấy tiêu chí là an ninh con người, dựa trên nền tảng bảo vệ quyền, tự do và các giá trị của con người. Đó chính là nguyên lý phát triển hiện nay, tất cả vì con người, lấy con người làm trung tâm trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. 1 Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Báo cáo thế giới về bạo lực và sức khoẻ, Giơ- ne-vơ: Tổ chức Y tế thế giới, 2002, trang 218. 2 Chen Xinzhin, Chuyển hướng lý thuyết và Thách thức của an ninh quốc tế, Tạp chí Quỹ Thịnh vượng (Đài Loan), tập 4, số 3, 2003, trang 14. 3 Sáng kiến Stockholm về An ninh toàn cầu và Quản trị, trách nhiệm chung năm 1990, Stockholm: Văn phòng Thủ tướng 4 Mahbub Ul-Haq, Cấp bách mới của an ninh con người, RGÍC bài số 17, Viện Rajiv Gandhi về nghiên cứu đương đại, Niu Đê li: Quỹ Gandhi Rajiv, 1994. 5 Báo cáo Phát triển năm 1993, UNDP. 6 Khái niệm an ninh con người và nguồn gốc của nó, Liu Zhijun, Giảng viên, Tiến sĩ Khoa xã hội học, trường Đại học Zhejian. 7 Gary King, Christopher Murray, Nghĩ lại về An ninh con người. 8 Tạ Minh Tuấn, an ninh con người và những mối đe doạ toàn cầu http://www.tapchicongsan.org.vn /details.asp? Object=4&news_ID=13540442. 9 Tlđd. 10 Mahbub ul Haq, Một khuôn khổ mới cho hợp tác phát triển, Biên niên sử Liên hợp quốc, 1993, tập 10, số 4, trang 42. 11 UNDP, Báo cáo phát triển con người, 1994, trang 23 . 12 UNDP, Báo cáo phát triển con người, 1994, trang 22, 24. 13 UNDP, Báo cáo phát triển con người, 1994, trang 22, 24. 14 Mabhub Ul-Haq, Quản trị toàn cầu vì an ninh con người, tại M. Tehranin, Phần thế giới: An ninh con người và Quản trị toàn cầu, Luân đôn: I.B. Tauris, 1999, trang 79-94. 15 Quyền con người và an ninh con người, http://www.humansecurity-chs.org/activities/outreach/ramcharan.pdf. 16 Uỷ ban an ninh con người, được đồng chủ toạ do Sadako Ogata, nguyên là Cao uỷ LHQ về người tị nạn và Amartya Sen, người đoạt giải thưởng Nobel. www.humansecurity-chs. org/index.html. 17 An ninh con người, quyền con người và giải trừ quân bị , Kevin Boyle và Sigmund Simonsen. 18 Uỷ ban an ninh con người.
|









