Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 28/05/2017, 22:12(GMT+7)
 
Nhà nước

Phát huy vai trò của Ủy ban Đối ngoại trong việc giám sát các thỏa thuận hợp tác Việt Nam - Lào

Việt Nam – Lào là hai nước láng giềng có mối quan hệ đặc biệt thủy chung, trong sáng như Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh là tài sản chung vô giá của hai dân tộc, là nhân tố bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Quan hệ Việt Nam - Lào là mối quan hệ hiếm có trên thế giới và cần được hai bên gìn giữ, phát huy như gìn giữ con ngươi của mắt mình. Chính vì vậy, góp phần thực hiện có kết quả các thỏa thuận hợp tác giữa hai nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ủy ban đối ngoại Quốc hội Việt Nam thời gian qua cũng như trong nhiệm kỳ mới.

1. Tình hình, đặc điểm hợp tác hiện nay giữa Việt Nam -  Lào

 Sự hợp tác Việt – Lào thời gian qua là biểu hiện cụ thể, sinh động của mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước. Điều này được thể hiện ở sự hợp tác đa dạng, trong mọi lĩnh vực, ở cả trung ương và địa phương, thậm chí giữa các tỉnh, thành phố nằm sâu trong đất liền không chung đường biên giới với các tỉnh bạn. Trên thực tế, sự hợp tác về kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục… được thực hiện trong điều kiện hai nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước đã góp phần quan trọng vào việc vun đắp quan hệ tin cậy, gắn bó, sự hợp tác toàn diện và tình đoàn kết đặc biệt Việt- Lào; giúp nước bạn thực hiện có kết quả công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân.

Cho đến nay, sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào được triển khai theo tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao hai nước, qua các Hiệp định được Chính phủ hai nước ký kết hàng năm. Theo số liệu thống kê, các chương trình, dự án đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng từ năm 2008 đến 2011 là 08 dự án với tổng mức đầu tư là 371.638 triệu VNĐ; số lượng các dự án thực hiện trong năm 2011 là 23 dự án (bao gồm 05 dự án chuyển tiếp, 16 dự án khởi công mới và 02 dự án chuẩn bị mới) với tổng mức kinh phí (tính riêng trong năm 2011 đối với các dự án chuyển tiếp) là 124.914 triệu VNĐ. Trong lĩnh vực giáo dục, tính đến cuối năm 2009, cả nước có trên 80 cơ sở giáo dục có tham gia đào tạo lưu học sinh Lào; hơn 20 tỉnh, thành phố có quan hệ hợp tác, hỗ trợ đào tạo cán bộ cho các địa phương của Lào và 12 cơ sở đào tạo đã ký kết chương trình kết nghĩa, hợp tác đào tạo trực tiếp với các cơ sở giáo dục - đào tạo của Lào.

 

2. Tình hình thực hiện các Hiệp định hợp tác thời gian qua

 Theo kết quả giám sát của Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam khóa XI, XII và đánh giá của Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào (Ủy ban liên Chính phủ) tại kỳ họp lần thứ 33 (tháng 4/2011), việc thực hiện Chiến lược hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước giai đoạn 2001 - 2010 cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra. Hai bên đã có nhiều cố gắng thực hiện các thỏa thuận, cùng nhau giải quyết các vấn đề nảy sinh, tạo điều kiện hỗ trợ thiết thực trong quan hệ hợp tác giữa hai nước.

 Hợp tác phát triển nguồn nhân lực được mở rộng bằng nhiều hình thức, đáp ứng kịp thời nhu cầu đào tạo của mỗi bên. Hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ và du lịch giữa hai nước được hình thành. Quản lý và sử dụng vốn viện trợ được quan tâm, phối hợp thường xuyên, từng bước đi vào nề nếp và tập trung hơn. Nhiều dự án hợp tác được tiếp tục đầu tư đồng bộ và duy trì hoạt động đã đánh dấu sự chuyển biến mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước. Kim ngạch thương mại cơ bản tăng đều và ổn định qua từng năm. Hoạt động đầu tư sôi nổi, đạt được những kết quả khả quan với nhiều nhóm dự án lớn nhằm tận dụng thế mạnh của mỗi nước và có tác động trực tiếp tới sự phát triển hợp tác kinh tế giữa hai nước. Các cơ chế, chính sách được xem xét, điều chỉnh kịp thời.

Các địa phương, nhất là địa phương có chung đường biên giới đã có nhiều hoạt động hợp tác phong phú, sẵn sàng giúp đỡ cụ thể trong nhiều lĩnh vực bằng khả năng của mình, góp phần tích cực vào việc củng cố và phát huy truyền thống tốt đẹp sẵn có.

Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Việt Nam cũng như Ủy ban liên Chính phủ, kết quả hợp tác cụ thể còn những hạn chế nhất định, chưa phát huy được tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của hai nước. Chất lượng đào tạo chưa thực sự chuyển biến theo yêu cầu đề ra. Hợp tác thương mại chưa vững chắc, thị phần và sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường mỗi bên còn thấp. Tiến độ triển khai và chất lượng một số dự án sử dụng nguồn vốn viện trợ chưa đáp ứng yêu cầu của hai bên. Phần lớn các dự án đầu tư đang ở giai đoạn xây dựng, chưa đi vào sản xuất kinh doanh nên chưa có ảnh hưởng mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, một số dự án đầu tư triển khai còn chậm. Hợp tác trong lĩnh vực giao thông chưa đáp ứng được nhu cầu về giao lưu kinh tế và phục vụ cho hợp tác đầu tư thương mại giữa hai nước. Việc tổ chức, thực hiện một số cơ chế, chính sách còn chậm, có lúc, có nơi còn chưa thống nhất; chưa có sự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên làm ảnh hưởng đến hiệu quả hợp tác. Hợp tác giữa các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức của hai bên có vai trò rất quan trọng nhưng có lúc, có nơi còn mang tính chủ quan chưa tuân theo các quy định, quy chế hợp tác giữa hai Chính phủ. Hợp tác giữa các địa phương được mở rộng nhưng còn thiếu sự phối hợp hướng dẫn giữa trung ương và địa phương và sự phối hợp giữa các địa phương với nhau đã ảnh hưởng tới hiệu quả hợp tác.

Nguyên nhân cơ bản của các tồn tại trên là do nhận thức về tầm quan trọng của chiến lược hợp tác giữa hai nước của một số bộ, ngành, địa phương mỗi bên chưa đầy đủ và toàn diện nên việc chỉ đạo và tổ chức triển khai các thỏa thuận hợp tác chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Một số nội dung cam kết còn theo ý chủ quan, vượt quá nguồn cam kết giữa hai Chính phủ và khả năng của các bộ, ngành, địa phương mỗi bên nên không thực hiện được. Hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực còn thiếu kế hoạch phối hợp giữa hai bên. Việc thực hiện các Quy chế và Nghị định thư hợp tác đào tạo đã ký kết chưa chặt chẽ, chất lượng đầu vào chưa đảm bảo đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng hợp tác trong thời gian qua. Việc thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ và khuyến khích hoạt động đầu tư, thương mại chưa nhất quán; chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của mỗi bên; chưa cùng nhau tập trung giải quyết được các khó khăn, tồn tại trong hợp tác giữa hai nước.

 

3. Công tác giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện các thỏa thuận hợp tác

Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI đến nay, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Việt Nam đã tiến hành hai chương trình giám sát tổng thể: Giám sát việc thực hiện các điều ước song phương Việt Nam - Lào giai đoạn 1991 - 2003; và Giám sát chuyên đề việc thực hiện các điều ước và thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa giáo dục và khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam và Lào giai đoạn 2003 – 2008.

Để hoàn thành hai chương trình giám sát này, Ủy ban Đối ngoại khóa XI và khóa XII đã tiến hành nhiều hoạt động như: thu thập các điều ước song phương đã ký kết; làm việc với các bộ, ngành, địa phương có liên quan như Phân ban hợp tác Việt – Lào, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Giáo dục và Đào tạo… về tình hình hợp tác trong lĩnh vực có liên quan; tổ chức các đoàn công tác tới các địa phương có chung đường biên giới với Lào như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum, Sơn La, Điện Biên để khảo sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu…; tổ chức Đoàn giám sát một số dự án hợp tác tại Lào kết hợp làm việc với Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Lào và một số các cơ quan hữu quan khác của Lào.

Bên cạnh hoạt động giám sát của Ủy ban Đối ngoại, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng khóa XII của Quốc hội Việt Nam cũng đã phối hợp với Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội Lào tổ chức giám sát về việc đào tạo lưu học sinh Lào tại Việt Nam. Hai bên đã thực hiện giám sát riêng trên lãnh thổ mỗi nước theo kế hoạch, đề cương giám sát chung; sau đó, hai Đoàn tổ chức giám sát chung tại Việt Nam và xây dựng dự thảo Báo cáo kết quả giám sát chung. Trong tuần giám sát chung từ ngày 06 - 12/12/2010, hai Đoàn giám sát khảo sát thực tế tại một số cơ sở đào tạo lưu học sinh Lào ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; nghe và thảo luận báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ, ngành hữu quan của Việt Nam; thảo luận đề cương chi tiết và dự thảo bước đầu Báo cáo kết quả giám sát chung.

Nhìn chung, các chương trình giám sát đều được chuẩn bị chu đáo từ khâu lập kế hoạch, thu thập tài liệu, triển khai các Đoàn công tác đến khâu tổng kết báo cáo. Từ các chương trình giám sát này, các cơ quan của Quốc hội Việt Nam đã đưa ra được nhiều kiến nghị thiết thực, xác đáng với Chính phủ và các cơ quan hữu quan quan tâm giải quyết những vấn đề phát sinh, thiết thực góp phần vào việc thực thi các Hiệp định song phương giữa hai nước thời gian qua.

 Đặc biệt, sau chuyến khảo sát thực tế các công trình, dự án đầu tư tại Lào (từ ngày 03 – 12/5/2009) của Đoàn công tác Ủy ban Đối ngoại khóa XII đã phát hiện ra nhiều vấn đề liên quan đến Trung tâm Huấn luyện thể thao Quốc gia Lào,  là công trình quà tặng của Chính phủ Việt Nam chuẩn bị cho Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 25 (SEAGAMES 25). Ngay sau đợt giám sát thực tế công trình này, Ủy ban Đối ngoại đã tổ chức phiên “điều trần” ngày 15/6/2009 để làm rõ trách nhiệm trong việc đầu tư, xây dựng công trình và bàn biện pháp khắc phục. Đối với dự án này, Ủy ban Đối ngoại đã có một số kiến nghị cụ thể để các cơ quan, đơn vị có liên quan khẩn trương khắc phục để kịp phục vụ SEAGAME 25 tại Lào và đến ngày 05/9/2009, hai bên đã ký Biên bản bàn giao và nghiệm thu công trình. Lãnh đạo Quốc hội và các ủy ban hữu quan của Quốc hội Lào đã đánh giá cao tác động tích cực từ việc triển khai giám sát chuyên đề của Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam và mong muốn cần tiếp tục triển khai giám sát trong thời gian tới.

Đồng thời, qua việc triển khai giám sát các Hiệp định, hiệp ước song phương giữa hai nước, chúng tôi nhận thấy cần tiếp tục cải tiến cơ chế giám sát về vấn đề này. Trên thực tế, hoạt động giám sát của các cơ quan Quốc hội chưa tương xứng với quy mô triển khai các hoạt động mà Ủy ban liên Chính phủ hai nước đã và đang thực hiện. Trong khi các Hiệp định song phương giữa hai nước được tổ chức ký kết và thực hiện hàng năm thì hoạt động giám sát của Quốc hội mới chỉ dừng lại ở mức độ theo từng nhiệm kỳ (từ 4 - 5 năm/1 lần). Điều này sẽ gây ra những hạn chế nhất định như không phát hiện kịp thời những tồn tại và khiếm khuyết trong việc thực thi các Hiệp định, từ đó không đưa ra được những khuyến nghị và chỉ đạo kịp thời tới Chính phủ và các cơ quan hữu quan chịu trách nhiệm triển khai các nhiệm vụ cụ thể trong khuôn khổ các Hiệp định.

 Lĩnh vực hợp tác theo khuôn khổ các Hiệp định rất rộng nhưng việc giám sát việc thực thi do Ủy ban Đối ngoại tiến hành và gần đây có sự tham gia của Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh niên - Thiếu niên và Nhi đồng mới chỉ dừng lại ở một nội dung cụ thể là đào tạo lưu học sinh. Điều này cũng làm ảnh hưởng việc giám sát các lĩnh vực hoạt động khác đòi hỏi cần có chuyên môn sâu của các cơ quan của Quốc hội. Tiếp nữa, đó là các cơ quan của Quốc hội hầu như chưa thực hiện đầy đủ vấn đề “hậu kiểm” các kiến nghị từ kết quả giám sát của mình đối với Chính phủ và các cơ quan hữu quan chịu trách nhiệm triển khai nội dung các Hiệp định đã được ký kết. Điều này hạn chế hiệu quả giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện các Hiệp định song phương giữa hai nước. 

 

4. Một số giải pháp tăng cường công tác giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện các thỏa thuận hợp tác trong thời gian tới

Trước hết, cần khẳng định rằng, giám sát việc thực hiện các Hiệp định hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Lào có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần tăng cường, củng cố mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước. Hợp tác giữa hai nước ngày càng toàn diện và phát triển thì càng phải đẩy mạnh hoạt động giám sát để đảm bảo hiệu quả của sự hợp tác. Từ đó, cần triển khai thực hiện một số giải pháp cụ thể như sau:

Một là, căn cứ vào các nội dung hợp tác trong khuôn khổ các Hiệp định, các cơ quan của Quốc hội cần xây dựng cơ chế giám sát thường xuyên, trong đó đề ra mục đích, yêu cầu, kế hoạch thực hiện, chế độ báo cáo…và được sự phê duyệt của lãnh đạo Quốc hội để triển khai thực hiện cho cả nhiệm kỳ 5 năm của Quốc hội.

Hai là, xác định hoạt động giám sát việc thực hiện Hiệp định song phương giữa hai nước là công việc trọng tâm của Ủy ban Đối ngoại mỗi nước. Từ đó, với vai trò là đầu mối, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội mỗi nước cần xây dựng nội dung giám sát về từng lĩnh vực cụ thể và kế hoạch triển khai hàng năm cũng như cơ chế phối hợp với các Ủy ban chuyên môn của Quốc hội mỗi nước.

Ba là, cần xây dựng cơ chế thông tin kịp thời, trao đổi ý kiến giữa hai Ủy ban Đối ngoại theo hướng nhanh chóng, thuận tiện và linh hoạt. Với những cách thức như vậy, khi cần thiết có thể tổ chức các Đoàn công tác thực tế tại mỗi nước để gặp gỡ trao đổi.

Bốn là, Thường trực Ủy ban Đối ngoại cần có đại diện được mời dự các cuộc họp do Phân ban hợp tác Việt – Lào tổ chức để theo dõi, nắm tình hình hợp tác giữa hai nước; định kỳ nghe báo cáo của các bộ, ngành, địa phương; làm việc với các bộ, ngành để phối hợp trong việc triển khai hoạt động giám sát, nhất là đánh giá việc thực hiện các kiến nghị từ kết quả giám sát.

Năm là, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội có kế hoạch phối hợp tốt với Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Lào trong việc tổ chức giám sát các dự án trong khuôn khổ Hiệp định đang được triển khai tại Lào và nhất là giám sát việc thực hiện các kiến nghị, đề xuất từ kết quả giám sát hỗn hợp hai bên để từ đó phối hợp cùng các cơ quan hữu quan của hai nước giải quyết, khắc phục kịp thời những vướng mắc phát sinh.

TS . Ngô Đức Mạnh - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Nước và Nhà nước trong Hiến pháp Việt Nam (23/12/2013)
Cần thành lập Uỷ ban dân nguyện của Quốc hội (08/03/2013)
Vấn đề kiểm soát quyền lực trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (05/02/2013)
Về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội (31/01/2013)
Nhận thức và thực hiện dân chủ trong nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay (08/01/2013)
Sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11: Một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội hiện nay (08/01/2013)
Mặt trận Tổ quốc trong vai trò phản biện và giám sát hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước (20/12/2012)
Sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11: Một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội hiện nay (08/01/2013)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân