Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ bảy, 04/02/2012, 12:51(GMT+7)
 
Nhà nước

Những luận cứ khoa học nhằm tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội
Những luận cứ khoa học nhằm tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội
Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội giám sát công tác phòng, chống ma túy tại quận 5, TP. Hồ Chí Minh

Theo Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Chỉ có Quốc hội mới có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những nhiệm vụ quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; các nguyên tắc chủ yếu về tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước; quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, phê chuẩn các chức danh cao nhất trong bộ máy nhà nước và nhất là quyết định các chính sách đối nội, đối ngoại của đất nước. Xuất phát từ vai trò, vị trí, đặc biệt quan trọng của Quốc hội vừa nêu trên, Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Quốc hội đã giao cho Quốc hội thẩm quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Vì vậy, có thể nói hoạt động giám sát là chức năng chủ yếu của Quốc hội.

1. Hoạt động giám sát của Quốc hội

Như chúng ta đã biết, Quốc hội là chủ thể đại diện cho toàn thể nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Điều đó được khẳng định trong Điều 83 của Hiến pháp năm 1992: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”. Đồng thời Hiến pháp cũng khẳng định rằng: “Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, ở nước ta tất cả quyền lực tập trung vào Quốc hội. Do Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, nên có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Song Nhà nước của ta được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp và tư pháp, nên Quốc hội chỉ giữ lại cho mình quyền giám sát đối với hoạt động của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), đồng thời thông qua hoạt động ban hành pháp luật, Quốc hội đã ủy quyền cho các cơ quan này thực hiện giám sát của mình.

Nghiên cứu hệ thống pháp luật ở nước ta cho thấy, hoạt động giám sát của Quốc hội được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của các cơ quan thuộc Quốc hội, của các đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội v.v.. Nhìn chung, pháp luật hiện hành quy định quyền giám sát của Quốc hội thể hiện ở các điểm sau:

- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội. Tại các kỳ họp, Quốc hội xem xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC. Quốc hội được quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, của UBTVQH, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC nếu như các văn bản này trái với Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội. Đồng thời Quốc hội có quyền bãi nhiễm các chức danh nhà nước mà thuộc thẩm quyền bầu hoặc phê chuẩn bổ nhiệm của Quốc hội, khi những người này có vi phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ, như Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC... (theo Điều 2 của Luật Tổ chức Quốc hội).

- UBTVQH giám sát việc thi hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH, giám sát các hoạt động của Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định hủy bỏ các văn bản đó; hủy bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC trái với pháp lệnh và Nghị quyết của UBTVQH, giám sát, hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; giải tán Hội đồng nhân dân trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng tới lợi ích của nhân dân (theo Điều 6 của Luật Tổ chức Quốc hội).

- Hội đồng Dân tộc (HĐDT), các Ủy ban của Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Chẳng hạn HĐDT có quyền giám sát việc thực hiện Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết Quốc hội và UBTVQH thuộc lĩnh vực dân tộc, chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số và thực hiện ngân sách nhà nước trong lĩnh vực này... Ủy ban Pháp luật có quyền giám sát Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết Quốc hội, UBTVQH, thuộc các lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước, về hình sự dân sự, hành chính, giám sát việc ban hành Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ... Ủy ban Quốc phòng có quyền giám sát việc thực hiện Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh... Có nghĩa là các Ủy ban của Quốc hội có quyền giám sát các hoạt động thuộc lĩnh vực của mình.

- Đại biểu Quốc hội thực hiện quyền giám sát của mình được pháp luật quy định, như có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC.

2. Các hình thức giám sát

Thứ nhất, hoạt động giám sát thông qua việc xem xét báo cáo

Quốc hội, UBTVQH và các cơ quan khác của Quốc hội thực hiện chức năng giám sát bằng cách xem xét, thẩm tra báo cáo công tác hàng năm, nửa năm và báo cáo chuyên đề của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thể yêu cầu các thành viên của Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, trực tiếp đến báo cáo hoặc báo cáo bằng văn bản hay cung cấp các tài liệu mà Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội quan tâm.

Thông qua báo cáo của các cơ quan nhà nước, Quốc hội nắm bắt được các thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, về hoạt động của các cơ quan nhà nước. Cùng với việc tổng hợp các ý kiến của cử tri và qua hoạt động giám sát của các đại biểu Quốc hội là cơ sở để đánh giá việc thi hành pháp luật. Trên cơ sở đó Quốc hội có thể đưa ra các chủ trương biện pháp phát triển kinh tế - xã hội thích hợp trong điều kiện đổi mới hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.

Thứ hai, hoạt động giám sát thông qua kiểm tra theo dõi việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Việc pháp luật quy định cho Quốc hội và UBTVQH có quyền hủy bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản trái với quy định của Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, của UBTVQH, có thể nói rằng Quốc hội, UBTVQH có chức năng rất quan trọng trong việc giám sát ban hành các văn bản pháp luật. Với việc thực hiện chức năng này, Quốc hội và UBTVQH đã đảm bảo cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất trong cả nước.

Thứ ba, hoạt động giám sát thông qua việc trả lời chất vấn

Chất vấn của đại biểu Quốc hội là yêu cầu của đại biểu đối với người bị chất vấn phải trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm về lĩnh vực hoạt động mà người bị chất vấn phụ trách. Thông qua việc trả lời của người bị chất vấn, Quốc hội có thể giám sát được hoạt động của các cơ quan này. Chất vấn là quyền của từng đại biểu Quốc hội, nhưng khi đại biểu thực hiện quyền này thì có tính chất là một hoạt động giám sát của Quốc hội. Hình thức chất vấn thể hiện trực tiếp quyền giám sát của Quốc hội, nó có tính công khai, dân chủ trong hoạt động của Quốc hội, nên nó có ý nghĩa rất quan trọng.

Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội, như quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, VKSNDTC, TANDTC. Có hai hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội: chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội và giữa hai kỳ họp Quốc hội.

Trong những năm gần đây, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc thể hiện tinh thần và trách nhiệm cao của các đại biểu Quốc hội, của Chính phủ và các cơ quan liên quan trước nhân dân. Thông qua hoạt động này nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đã được làm sáng tỏ góp phần thực hiện tốt hơn chức năng giám sát của Quốc hội.

Thứ tư, hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua các đoàn đi giám sát ở các địa phương

Hàng năm Quốc hội, HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các Đoàn giám sát để đi giám sát hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ, hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương. Việc thành lập các đoàn dựa trên cơ sở chương trình giám sát của các chủ thể có quyền giám sát. Tùy theo tính chất của sự việc và cấp độ mà thành phần mỗi đoàn giám sát có thể bao gồm: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên UBTVQH, đại diện của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu của Quốc hội. Ngoài ra tùy theo tính chất của từng việc giám sát mà có thể có đại diện của TANDTC, VKSNDTC.

Để hoạt động giám sát có chất lượng, các đoàn giám sát phải chuẩn bị kế hoạch giám sát, chương trình giám sát, nội dung yêu cầu của việc giám sát... gửi xuống các địa phương để phối hợp hoạt động. Khi tiến hành giám sát, đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức bị giám sát cung cấp các tài liệu liên quan với hoạt động giám sát, hoặc yêu cầu các tổ chức đơn vị, cá nhân trả lời những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm.

Như vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội được pháp luật nước ta quy định rõ ràng, cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Căn cứ vào các quy định của pháp luật, Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát với nhiều hình thức và nội dung khác nhau. Các hoạt động giám sát của Quốc hội được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau đã tác động vào các chủ thể bị giám sát, làm cho các chủ thể đó hoạt động phù hợp với Hiến pháp, Luật, các văn bản dưới luật thì gọi là hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội.

3. Các biện pháp tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội

Thực tế, hoạt động giám sát của Quốc hội hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải xem xét giải quyết. Các hình thức hoạt động giám sát của Quốc hội và của các cơ quan thuộc Quốc hội tuy đã được quy định trong một số văn bản pháp luật nhưng vẫn chưa được quy định một cách đầy đủ, có một số vấn đề chưa thật cụ thể, chưa đủ các căn cứ pháp lý để đảm bảo cho hoạt động giám sát thực hiện một cách có hiệu quả.

Trong những năm qua, mặc dầu đã có nhiều cố gắng, nhưng hoạt động giám sát của Quốc hội chưa triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực mà chỉ mới tập trung được một số vấn đề cần thiết. Chất lượng hiệu quả, hiệu lực giám sát có được nâng lên một bước, nhưng vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi mà thực tế cuộc sống đặt ra.

Từ những vấn đề nêu trên, để tăng cường hiệu lực giám sát của Quốc hội, cần triển khai một số biện pháp sau:

Một là, cần tiếp tục xây dựng, ban hành và cụ thể hóa các quy định pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội để xác định rõ ràng, cụ thể, phạm vi, thẩm quyền, đối tượng giám sát của các chủ thể thực hiện quyền này. Tránh tình trạng chồng chéo, lẫn lộn trong hoạt động của các cơ quan khi thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật.

Hai là, phạm vi, đối tượng thẩm quyền giám sát của các cơ quan nhà nước được quy định cụ thể, thì từng cơ quan phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật, khắc phục sự “lấn sân” hoặc chồng lấn giữa các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động giám sát nhà nước.

Ba là, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Vì vậy, Quốc hội chỉ nên tập trung vào việc giám sát xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật của các cơ quan, cá nhân có vị trí pháp lý cao nhất trong bộ máy nhà nước. Cần khắc phục tư tưởng chủ quan muốn Quốc hội làm thay các cơ quan nhà nước trong hoạt động giám sát nhà nước. Theo chúng tôi, nên tổ chức các Đoàn kiểm tra liên ngành ở các cấp độ, như trung ương, địa phương theo định kỳ hoặc đột xuất và căn cứ vào chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của từng cấp mà hoạt động. Còn Quốc hội và các cơ quan tổ chức của mình chỉ nên tổ chức các Đoàn giám sát thực tế, khi nảy sinh vấn đề dư luận xã hội quan tâm hoặc là sự xuất hiện các điểm “nóng” ở các vùng, các địa phương.

Bốn là, hoạt động giám sát của Quốc hội hiện nay chủ yếu là thông qua các kỳ họp của Quốc hội với thời gian không dài. Vì vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội cần được thực hiện với quỹ thời gian dài hơn. Hoạt động giám sát thông qua các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do tổ chức, cũng như số lượng cán bộ của mỗi cơ quan không nhiều, nên không thể đáp ứng được một cách đầy đủ, nhanh chóng các yêu cầu  giám sát. Do đó, để tăng cường hiệu lực hoạt động giám sát, theo chúng tôi, cần thông qua các cơ quan của Quốc hội là chủ yếu. Để cho các cơ quan của Quốc hội đảm nhiệm được chức năng hoạt động giám sát thì phải tăng cường các cơ quan này về mọi mặt, như nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất cho cán bộ công chức của Văn phòng Quốc hội, tăng cường cơ sở vật chất để các cơ quan Quốc hội hoạt động. Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu phải có “tâm”, có “tầm”, phải đảm bảo cho mỗi đại biểu đủ điều kiện để hoàn thành được nhiệm vụ của mình, trước hết là trong việc thực hiện hoạt động giám sát. Mặt khác, phải phát huy sức mạnh và khả năng của các Đoàn đại biểu Quốc hội. Vì trên từng địa phương, giữa hai kỳ họp của Quốc hội, thì Đoàn đại biểu Quốc hội có khả năng giám sát nhanh nhạy và kịp thời nhất.

Năm là, để tăng cường hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội, cần phải đổi mới hình thức, phương thức và phát triển giám sát của Quốc hội phù hợp với vị trí pháp lý và điều kiện hoạt động của Quốc hội. Phải đổi mới việc xem xét báo cáo của các cơ quan nhà nước, việc tổ chức các đoàn đi kiểm tra cơ sở cho đến hoạt động chất vấn của các đại biểu. Đổi mới hoạt động của các cơ quan Quốc hội, theo chúng tôi, phải làm sao để đạt ở “tầm” Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Có thể nói, nghiên cứu những luận cứ khoa học nêu trên, đặc biệt là nghiên cứu và tổ chức thực hiện tốt các giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội sẽ góp phần rất lớn vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đáp ứng với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam hiện nay.

TS. Nguyễn Cảnh Quý - Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước qua các hiến pháp Việt Nam (31/01/2012)
Một số vấn đề cải tiến, xây dựng quy trình thủ tục phiên họp toàn thể của Quốc hội (22/11/2011)
Phát huy vai trò của Ủy ban Đối ngoại trong việc giám sát các thỏa thuận hợp tác Việt Nam - Lào (12/10/2011)
Bài học về quyền lực Nhà nước từ mô hình công ty cổ phần (26/09/2011)
Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới hoạt động của Quốc hội (12/09/2011)
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (31/08/2011)
Xem xét cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước bên trong bộ máy Nhà nước ta (23/08/2011)
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (31/08/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân