Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 23/05/2012, 14:09(GMT+7)
 
Nhà nước

Những dấu ấn trong hoạt động giám sát của Quốc hội khóa XII
Những dấu ấn trong hoạt động giám sát của Quốc hội khóa XII
Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Định Nguyễn Đăng Vang chất vấn thành viên Chính phủ tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XII

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1. Những điểm đổi mới nổi bật

Một trong những điểm đổi mới quan trọng trong hoạt động giám sát của nhiệm kỳ khóa XII là Quốc hội đã xem xét báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri cả nước, tạo được sự kết nối ngày càng tốt hơn giữa Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) với cử tri. Hoạt động này đã có những tác động tích cực đến tâm tư, tình cảm của nhân dân, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, đồng thời động viên, khuyến khích nhân dân tiếp tục tham gia tích cực hơn nữa vào các hoạt động quản lý nhà nước. Trước đây, không ít ý kiến băn khoăn rằng, cử tri đóng góp ý kiến, gửi ý kiến, kiến nghị đối với Quốc hội thì ai theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, với việc UBTVQH báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri trong từng kỳ họp đã giải tỏa được những băn khoăn trên, cử tri nhận thấy hoạt động của Quốc hội mang lại những hiệu quả thiết thực1. Đây cũng chính là căn cứ để ĐBQH tiếp tục chất vấn, làm rõ trách nhiệm của các Bộ trưởng, trưởng ngành, nhất là những vấn đề đã hứa trước Quốc hội và cử tri.

Đối với hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, kế thừa kết quả đạt được từ những nhiệm kỳ trước đây, trong nhiệm kỳ khóa XII, hoạt động chất vấn luôn được đổi mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả. Có rất nhiều đổi mới đã được áp dụng từ cách thức tiến hành, điều hành phiên chất vấn, nội dung chất vấn đến việc xem xét kết quả chất vấn. Trong đó, phải kể đến những đổi mới hết sức rõ nét, nổi bật của nhiệm kỳ như: việc tiến hành chất vấn theo nhóm vấn đề; việc ban hành nghị quyết về hoạt động chất vấn; theo dõi việc thực hiện lời hứa của người trả lời chất vấn và báo cáo Quốc hội; việc tổ chức hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp UBTVQH; hoạt động giải trình tại một số cơ quan của Quốc hội…

Việc tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn theo nhóm vấn đề là sự kế thừa những đổi mới trong hoạt động này ở một số kỳ họp Quốc hội nhiệm kỳ XI, đã giúp các ĐBQH tập trung hơn vào những vấn đề quan trọng, vĩ mô của một ngành, lĩnh vực mà người trả lời chất vấn phụ trách, tránh sa đà vào những sự vụ nhỏ lẻ, cụ thể; giúp người hỏi và người trả lời có thời gian để trao đổi, đi đến cùng vấn đề, cùng thảo luận để tìm ra giải pháp thích hợp cho những vấn đề nổi cộm, phát sinh từ thực tiễn cuộc sống. Trong nhiệm kỳ này, Thủ tướng Chính phủ cũng đăng đàn trong nhiều giờ để trả lời chất vấn, đối thoại thẳng thắn, nghiêm túc và làm rõ các vấn đề mà ĐBQH quan tâm nêu ra, tạo phong cách làm việc mới, làm cho hoạt động chất vấn trên nghị trường ngày càng hiệu quả hơn. Từ cách làm của Quốc hội, Hội đồng nhân dân nhiều tỉnh, thành phố đã học tập để tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn tại diễn đàn địa phương và đã đánh giá cao về kết quả đạt được2. Như vậy, có thể nói, những đổi mới trong hoạt động của Quốc hội không chỉ có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội mà còn có tác dụng định hướng, làm mẫu cho hoạt động của hệ thống cơ quan dân cử ở địa phương.

Việc ban hành nghị quyết về hoạt động chất vấn; theo dõi việc thực hiện lời hứa của người trả lời chất vấn và báo cáo Quốc hội là những động thái tích cực cho thấy Quốc hội đã dần đi vào hoạt động thực chất hơn, chú trọng đến hiệu quả công việc hơn là tính hình thức, sự trình diễn phổ biến trong những năm trước đây. Đánh giá kết quả kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XII, UBTVQH đã khẳng định: “lần đầu tiên Quốc hội ban hành Nghị quyết chung về hoạt động chất vấn tại kỳ họp là bước tiến tích cực, tạo tiền đề cho việc tiếp tục nghiên cứu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này”3. Có thể nói, việc Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn tại mỗi kỳ họp cũng như UBTVQH ra nghị quyết sau mỗi phiên họp chất vấn là hết sức cần thiết. Đây không những là một thủ tục để Quốc hội đánh giá việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn mà còn là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của người trả lời chất vấn đối với những vấn đề đã được ĐBQH thay mặt cử tri nêu lên. Chính vì vậy, sau chất vấn, các cá nhân và cơ quan có liên quan đã nghiêm túc xem xét có trách nhiệm những vấn đề mà đại biểu nêu lên, như việc rà soát quy hoạch, quản lý cấp phép các sân golf; điều hành thu mua xuất khẩu gạo; đẩy nhanh tiến độ xây dựng một số công trình cơ bản; quản lý quy hoạch và cấp phép xây dựng một số công trình thủy điện vừa và nhỏ; quản lý thị trường ngoại hối, thị trường vàng; các chính sách liên quan đến chăm sóc sức khỏe người dân, chính sách đối với người có công... Bên cạnh đó, trong điều kiện hiện nay, việc Quốc hội ra nghị quyết về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn sau mỗi kỳ họp Quốc hội còn là cơ sở pháp lý chủ yếu cho việc tổ chức các hoạt động chất vấn tại phiên họp của UBTVQH4.

Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội lần đầu tiên trong lịch sử Quốc hội được tổ chức đã làm cho hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của UBTVQH gắn chặt với những vấn đề thời sự mới phát sinh trong thực tế cuộc sống, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, hỗ trợ tích cực hoạt động xây dựng pháp luật của Quốc hội. Tuy mới chỉ tiến hành tại năm phiên họp của UBTVQH5, nhưng hoạt động chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, được các thành viên Chính phủ, các vị ĐBQH, cử tri đồng tình ủng hộ, được dư luận hoan nghênh và đánh giá cao.  

Giải trình (điều trần) tại Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội lần đầu tiên được triển khai, là hoạt động bổ trợ các hoạt động giám sát chuyên đề nhằm phân tích sâu các chính sách, hiệu quả thực thi pháp luật, cung cấp thông tin đa chiều, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị để cơ quan quản lý nhà nước xem xét và hoàn thiện quá trình thực thi chính sách. Trong nhiệm kỳ, hoạt động này đã được Hội đồng Dân tộc, Ủy ban về Các vấn đề xã hội, Ủy ban Đối ngoại và Ủy ban Tư pháp tiến hành, bước đầu đem lại những kết quả tích cực6.

Đặc biệt tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã tiến hành tái giám sát đối với nội dung về đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước ở các Bộ, ngành, địa phương để có cơ sở đánh giá đúng thực tiễn, góp phần tăng cường hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Đây cũng là một trong những điểm đổi mới trong hoạt động giám sát của Quốc hội khóa XII, lần đầu tiên Quốc hội thực hiện việc tái giám sát đối với một vấn đề Quốc hội đã ban hành nghị quyết qua hoạt động giám sát (tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI). Qua việc so sánh với kết quả giám sát của hai năm trước, Quốc hội có thể thấy rõ hiệu quả thực sự của hoạt động giám sát và những chuyển biến trong thực tiễn nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, việc khắc phục những hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực này.

Cũng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, đối với hầu hết các chuyên đề Quốc hội tiến hành giám sát tại kỳ họp, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết giám sát - làm căn cứ giúp các cơ quan hữu quan có thể kiểm nghiệm, đánh giá việc thực thi pháp luật của ngành, lĩnh vực mình phụ trách; khắc phục, điều chỉnh những vấn đề còn hạn chế, bất cập, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

2. Hậu giám sát, vấn đề còn để ngỏ

Tổng kết nhiệm kỳ hoạt động khóa XII, nhiều vị ĐBQH cho rằng, hoạt động giám sát của Quốc hội tuy có nhiều tiến bộ so với trước nhưng vấn đề xem xét tác động thực sự của hoạt động giám sát đến đâu còn chưa làm được. Trong nhiệm kỳ, Quốc hội đã tiến hành giám sát 7 chuyên đề; UBTVQH tiến hành giám sát 9 chuyên đề; Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tiến hành trên 100 cuộc khảo sát, giám sát, đó là chưa kể đến giám sát của các Đoàn ĐBQH ở địa phương, các phiên thảo luận báo cáo, chất vấn và trả lời chất vấn. Như vậy, số lượng những kiến nghị, đề xuất sau giám sát là rất lớn; ngoài ra, sau khi tiến hành giám sát đối với nhiều chuyên đề, Quốc hội đã ban hành nghị quyết về vấn đề đó, tuy nhiên, ĐBQH không nắm được các cơ quan có trách nhiệm đã giải quyết các kiến nghị đề xuất đó đến đâu, đó là do cơ chế hậu giám sát còn chưa rõ ràng7.

Như trên đã nêu, kết quả của hoạt động tái giám sát của Quốc hội đối với nội dung về đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước ở các Bộ, ngành, địa phương có ý nghĩa hết sức to lớn, ngoài những vấn đề liên quan đến nội dung giám sát trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước, còn chỉ ra được hiệu quả còn hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Báo cáo kết quả giám sát đã nêu rõ: “qua giám sát cho thấy, mặc dù đã có những chuyển biến tiến bộ rõ từ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, lập quy hoạch, kế hoạch đến quản lý và tổ chức thực hiện xử lý nợ đọng vốn xây dựng cơ bản... nhưng nhìn chung ở mức độ khác nhau, một số hạn chế, yếu kém của công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước đã được nêu trong Báo cáo kết quả giám sát của UBTVQH, Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội Khóa XI và trong Nghị quyết số 36/2004/QH11 của Quốc hội khóa XI8 chậm được khắc phục”.  Đồng thời, Báo cáo cũng chỉ rõ: “UBTVQH thấy rằng những yêu cầu nêu trong Nghị quyết số 36/2004/QH11 cũng như các Luật và Nghị quyết của Quốc hội có liên quan đến xây dựng cơ bản cần phải được tiếp tục nghiêm chỉnh thực hiện”9.

Thực tiễn trên cho thấy tầm quan trọng của hoạt động hậu giám sát, làm thế nào để thúc đẩy được việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát, đem đến hiệu quả thực tế, khắc phục được những hạn chế, bất cập hay hành động để thực hiện được những lời hứa trong khi trả lời chất vấn… “Hiệu quả thiết thực và mục đích tự thân của chất vấn không gì khác - là thúc đẩy sự chuyển động của các cấp, các ngành, của toàn xã hội. Nếu sau chất vấn không hề hành động và chuyển động thì chất vấn không còn ý nghĩa tích cực của nó”10. Chỉ khi các cơ quan hữu quan xem xét giải quyết nghiêm túc và giải quyết đến nơi, đến chốn, thấu lý đạt tình các kiến nghị thì chất lượng giám sát mới được nâng cao đáng kể và tháo gỡ được nhiều bức xúc mà cử tri đặt ra.

Trong khi đó, đối với việc giám sát các chuyên đề của Quốc hội và UBTVQH, hầu như câu chuyện sẽ kết thúc sau khi được Quốc hội hoặc UBTVQH giám sát tại một phiên họp. Không có kế hoạch, kinh phí và nhân sự để thực hiện những công đoạn tiếp theo, đồng thời, cơ chế pháp lý ràng buộc việc thực hiện các kiến nghị không rõ ràng, chủ yếu phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm, khả năng thực hiện của đối tượng giám sát, cho nên hiệu quả, hiệu lực của hoạt động giám sát chuyên đề của Quốc hội và UBTVQH chưa đáp ứng được yêu cầu là điều khó tránh khỏi.

Việc tập hợp, theo dõi, đôn đốc giải quyết các kiến nghị sau giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban đối với các cơ quan chức năng cũng chưa thực sự được chú trọng. Báo cáo giám sát và những kiến nghị của Ủy ban chưa phải là một văn bản có hiệu lực pháp lý có thể yêu cầu các cơ quan hữu quan thực hiện mà chủ yếu mang tính chất khuyến nghị. Bên cạnh đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 cũng còn thiếu các biện pháp có tính chất chế tài đơn giản, dễ sử dụng, có khả năng thay đổi, tác động lên hành vi của đối tượng bị giám sát, chẳng hạn như phê bình, công bố công khai cho báo chí. Luật cũng chưa quy định rõ khi nào thì các biện pháp mạnh (như đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm, đề nghị Quốc hội bãi nhiệm) nên được sử dụng nếu các đối tượng giám sát không chấp hành nghiêm chỉnh các kiến nghị giám sát của các cơ quan của Quốc hội.

*

 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đối với hoạt động giám sát, Văn kiện cũng đặt ra yêu cầu: thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định và giám sát các vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là các công trình trọng điểm của quốc gia, việc phân bổ và thực hiện ngân sách; giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp, công tác phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí...11.

Trước các yêu cầu đó, việc tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội trong thời gian tới là nhiệm vụ chính trị; tuy nhiên, chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát chỉ có thể được nâng cao kèm theo những điều kiện cơ bản như: nhận thức về vai trò giám sát tối cao của Quốc hội phải được nâng cao; đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội phải được tiến hành đồng bộ với quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội về lập pháp và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; năng lực giám sát của các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH phải được nâng cao; tư duy về sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động giám sát của Quốc hội phải được đổi mới… Trên hết, hiệu quả thực sự của hoạt động giám sát chỉ có được khi vấn đề hậu giám sát được giải quyết một cách thấu đáo, làm cho các kiến nghị qua hoạt động giám sát được từng bước triển khai thực hiện, các vấn đề được phát hiện qua hoạt động giám sát được xử lý, giải quyết.

 Trong điều kiện hiện nay và trong phạm vi cơ chế pháp luật hiện hành, sự phối kết hợp giữa các hình thức giám sát là một trong những giải pháp khả thi để có thể giải quyết những hạn chế trong khâu “hậu giám sát”. Đại biểu Quốc hội có thể thực hiện quyền chất vấn để chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội, phiên họp UBTVQH về việc thực hiện những kết luận, kiến nghị sau giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH, của tập thể UBTVQH và Quốc hội. Đối với những vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn của Hội đồng, Ủy ban thì Hội đồng, Ủy ban có thể tổ chức hoạt động chất vấn, giải trình để yêu cầu các cơ quan hữu quan báo cáo, giải trình về những vấn đề Hội đồng, Ủy ban quan tâm, trong đó có việc triển khai các kiến nghị sau giám sát của Hội đồng, Ủy ban. Quốc hội, UBTVQH trong khi thảo luận về báo cáo công tác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hàng năm có thể kết hợp xem xét việc thực hiện những kiến nghị giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội năm trước đó hoặc tiến hành tái giám sát đối với một vấn đề hoặc một nhóm vấn đề có liên quan sau 3 đến 5 năm cũng là một giải pháp hữu hiệu và khả thi.

Ngoài ra, nếu có thể sửa đổi các quy định có liên quan của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội… theo hướng tổ chức một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm giữa nhiệm kỳ đối với tất cả các cá nhân do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn sẽ là một cú hích thực sự đối với chất lượng hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH.

(1) ĐBQH Danh Út, Đoàn ĐBQH tỉnh Kiên Giang, ý kiến phát biểu tại phiên họp ngày 28/3/2011. Theo Bản tổng hợp thảo luận tại Hội trường (ghi theo băng ghi âm), buổi sáng ngày 28/3/2011 nội dung thảo luận về Báo cáo tổng kết hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011).

(2) Ví dụ: Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội - Phát biểu của ĐBQH Ngô Thị Doãn Thanh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên họp Quốc hội buổi sáng ngày 24/3/2011.

(3) Báo cáo số 190/BC-UBTVQH12 ngày 28-11-2008 của UBTVQH đánh giá, rút kinh nghiệm Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII.

(4) Điều 19, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 đã nêu rõ những chất vấn của ĐBQH đã được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp UBTVQH là một trong những căn cứ để tiến hành hoạt động chất vấn tại UBTVQH.

(5) Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đã được tổ chức tại các phiên họp: phiên họp thứ 7 (3/2008); phiên họp thứ 8 (4/2008); phiên họp thứ 18 (3/2009); phiên họp thứ 22 (8/2009); phiên họp thứ 29 (3/2010) của UBTVQH khóa XII.

(6) - Ủy ban Đối ngoại tổ chức phiên điều trần về các dự án hợp tác bằng vốn viện trợ của Việt Nam cho Lào, trong đó có công trình Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Lào (năm 2009) nhằm rút kinh nghiệm và khắc phục ngay những khiếm khuyết của các công trình này, kịp thời đưa các công trình vào sử dụng, nhất là công trình Trung tâm Huấn luyện phục vụ Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 25 (SEAGAMES 25) tổ chức tại Lào vào tháng 12/2009.

     - Hội đồng Dân tộc đã tổ chức phiên giải trình về Chính sách hỗ trợ di dân định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số, nghe đại diện lãnh đạo Ủy ban Dân tộc, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Lao động - thương binh và xã hội tiến hành giải trình (điều trần) các vấn đề mà qua giám sát HĐDT rất quan tâm.

      - Ủy ban về Các vấn đề xã hội tổ chức hai phiên họp để Bộ trưởng Bộ Lao động - thương binh và xã hội giải trình về chính sách giảm nghèo và Bộ trưởng Bộ Y tế giải trình về việc thực hiện quản lý nhà nước về giá thuốc.

     - Ủy ban Tư pháp đã tổ chức cuộc điều trần về công tác đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp.

(7) Xem Bản tổng hợp thảo luận tại Hội trường (ghi theo băng ghi âm), buổi sáng ngày 28/3/2011 nội dung thảo luận về Báo cáo tổng kết hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011).

(8) Nghị quyết được ban hành sau hoạt động giám sát chuyên đề về vấn đề này năm 2004.

(9) UBTVQH, Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn Nhà nước ở các bộ, ngành, địa phương từ năm 2005 đến năm 2007, Số 165/BC-UBTVQH12 ngày 23/10/2008, tr. 20.

(10) Lê Như Tiến, Hậu chất vấn là hành động, chuyển động,  http://daibieunhandan.vn/default.aspx? tabid=127&ItemId=124789&GroupId=1140

(11) Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam http://123.30.49.74:8080 /tiengviet /tulieuvankien/ vankiendang/?topic=191&subtopic=8&leader_topic=989

 

Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII đã đi gần hết chặng đường bốn năm hoạt động của mình, một nhiệm kỳ với những “dư âm và ấn tượng tốt đẹp chắc sẽ còn đọng mãi” như lời Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 9. Bốn năm qua, kế thừa những thành tựu đạt được trong đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội những nhiệm kỳ trước, Quốc hội khóa XII đã ngày càng khẳng định vị trí của mình là “cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân”, hoạt động ngày càng có hiệu lực và hiệu quả. Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, có thể nói, trong nhiệm kỳ này, những dấu ấn đổi mới sâu đậm nhất, rõ nét nhất được thể hiện trong lĩnh vực hoạt động giám sát.

Nguyễn Mai Thoa - Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Văn phòng Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Chế định chính quyền địa phương (30/03/2012)
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chức năng tham mưu của Văn phòng Chính phủ (23/03/2012)
Lựa chọn mô hình tài phán hiến pháp – những vấn đề phổ biến và đặc thù quốc gia (09/02/2012)
Quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước qua các hiến pháp Việt Nam (31/01/2012)
Một số vấn đề cải tiến, xây dựng quy trình thủ tục phiên họp toàn thể của Quốc hội (22/11/2011)
Phát huy vai trò của Ủy ban Đối ngoại trong việc giám sát các thỏa thuận hợp tác Việt Nam - Lào (12/10/2011)
Bài học về quyền lực Nhà nước từ mô hình công ty cổ phần (26/09/2011)
Phát huy vai trò của Ủy ban Đối ngoại trong việc giám sát các thỏa thuận hợp tác Việt Nam - Lào (12/10/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân