Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 23/05/2012, 14:05(GMT+7)
 
Nhà nước

Minh triết Hồ Chí Minh về dân chủ
Minh triết Hồ Chí Minh về dân chủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 2 tại tiểu khu Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội, ngày 8/5/1960.

 

 1. Dân chủ: Nhân dân là chủ thể tối thượng của mọi quyền lực.

Nội dung cốt lõi của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân hay sự kiểm soát của nhân dân đối với toàn bộ quá trình ban hành và thực thi các quyết định chung của chính thể nhà nước ấy. Tiền đề của nó không phải cái gì khác hơn là việc coi nhân dân là cơ sở, nguồn gốc của mọi quyết định cũng như các thiết chế quản lý. Ðiều này là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc tạo ra cơ chế nhằm bảo đảm nhân dân là chủ thể tối thượng của mọi quyền lực. Nguyên tắc nền tảng của dân chủ đó chính là mọi công dân đều có quyền quyết định trong toàn bộ quá trình quản lý, điều hành của xã hội, có quyền quyết định đối với tất cả những vấn đề chung của xã hội, một cách gián tiếp hoặc trực tiếp: thông qua sự uỷ quyền cho những người đại diện của mình vào trong các cơ quan quyền lực của Nhà nước hay tham gia vào chính những cơ quan ấy; đồng thời công dân có quyền được hưởng những ích lợi từ những quyết định ấy, cũng như việc hưởng thụ những quyền ấy phải là cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi công dân.

Dân chủ với tính cách là chế độ xã hội mà ở đó mọi quyền lực đều ở nơi dân, là đối tượng của chủ thể quyền ấy - nhân dân, chỉ ra quyền dân chủ của người dân. Quyền dân chủ chính là những yêu sách, nhu cầu chính đáng của mỗi cá nhân, với tư cách là công dân của Nhà nước, về các nguyên tắc, các chuẩn mực pháp lý dân chủ trong một thiết chế xã hội dân chủ nhằm bảo đảm sự tham gia một cách tự do, bình đẳng và đầy đủ vào các công việc của Nhà nước và toàn bộ đời sống xã hội của con người. Quyền dân chủ thực chất chính là yêu sách về bình đẳng chính trị và xã hội của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với Nhà nước, bảo đảm cho cá nhân khả năng hành động theo ý mình, cho sự tự quyết định và làm chủ ý chí của mình mà không có hại cho người khác, và do đó, cho khả năng giải phóng toàn diện những năng lực bản chất người của mỗi cá nhân. Ph.Ăngghen khẳng định: “từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách là những con người, rút ra cái quyền có một giá trị ngang nhau về chính trị và xã hội cho tất cả mọi người, hay ít ra là cho công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên trong xã hội”1.

Quyền dân chủ còn là một giá trị xã hội của con người đã được thể chế hoá thành hệ thống pháp luật của một Nhà nước nhất định gắn với một hệ thống chính trị nhất định, dựa trên một trình độ phát triển nhất định về kinh tế và văn hoá. Vì vậy, quyền dân chủ một mặt là sự phản ánh bước tiến của con người về tự do, bình đẳng và sự giải phóng toàn diện năng lực bản chất người của mỗi cá nhân, mặt khác phản ánh sự phát triển của luật pháp, trình độ kinh tế, văn hoá và tiến bộ xã hội của quốc gia đó. Do đó, có thể nói, quyền dân chủ chính là quyền và tự do cơ bản của con người trong một chế độ xã hội dân chủ, hay chính là yêu sách, nhu cầu chính đáng của con người về sự bình đẳng chính trị và bình đẳng xã hội với tính cách là môi trường và điều kiện cho sự tồn tại, phát triển và hoàn thiện nhân cách - văn hoá và nhân tính - tự do của mỗi cá nhân.

Dân chủ, như đã chỉ ra, nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân thực hiện thông qua hai phương thức là ‘ủy quyền’ (trust) và ‘thực hành’ (perform), hay thực hành trực tiếp. Ở phương thức thứ nhất là ‘ủy quyền’, nhân dân không bao giờ ủy quyền toàn bộ quyền lực của mình cho Nhà nước, mà chỉ là ủy quyền cái gì tự nhân dân không làm được mà thôi. Trong khi đó, chủ thể quyền lực (nhân dân) ấy còn rất nhiều phạm vi mà Nhà nước không thể bao trùm hết được và nhân dân thì lại có thể tự thực hành được. Vì vậy, phương thức ‘thực hành trực tiếp’ sẽ góp phần giúp nhân dân thực thi được đầy đủ quyền lực của mình thông qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó đáng chú ý là hình thức tự quản, tự chủ, tự quyết định và giám sát (như phương thức thông qua các tổ chức xã hội dân sự).

Dân chủ chỉ ra ba thuộc tính cơ bản: thứ nhất, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước; thứ hai, nhân dân thực thi quyền lực ấy và; thứ ba, nhân dân giám sát quá trình thực thi quyền lực ấy. Đây là quá trình đi từ ‘là chủ’ đến ‘làm chủ’ của nhân dân: muốn làm chủ được, nhân dân phải là các chủ thể của các quyền con người cơ bản nói chung và quyền dân chủ nói riêng. Quyền dân chủ này không phải cái gì khác hơn là quyền lực chính trị hay hẹp hơn nữa là quyền lực nhà nước - là quyền được tham gia vào tổ chức, thực hiện và giám sát của bộ máy nhà nước. Làm chủ còn chỉ ra quyền giám sát của nhân dân đối với mọi hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước nhằm chống lại sự lạm quyền và tha hóa quyền lực của Nhà nước. Tuy nhiên, đây là một quá trình diễn tiến đồng thời chứ không phải ngắt đoạn: dân là chủ làm tiền đề cho dân làm chủ và khi dân đã làm chủ được rồi, dân sẽ trở thành người là chủ (chủ thể) đích thực của mọi quyền lực của mình đã phái sinh cho Nhà nước cũng như của mọi quyền và tự do cơ bản mà nhân dân là chủ thể tối thượng. Như vậy, nội hàm của dân là chủ và làm chủ ở đây không chỉ đơn thuần là thuộc tính chủ thể của quyền lực nhà nước hay quyền lực chính trị nói chung, mà nó bao trùm toàn bộ những thuộc tính bản thể luận tự nhiên - xã hội của con người: một quá trình sinh thành không ngừng ra nhân cách sáng tạo - văn hóa và tự do.

Sự ủy thác quyền lực của nhân dân cho Nhà nước không phải bất biến, một lần là xong. Trái lại, đó là quá trình không ngừng điều chỉnh và mang bản chất khả biến. Điều này đã được những tư tưởng gia lỗi lạc từ thời cổ đại cho đến Phục hưng, Khai sáng đặc biệt nhấn mạnh. J.J.Rousseau xem sự ủy thác đó chính là một khế ước giữa nhân dân và Nhà nước, theo đó, trong chừng mực những điều khoản cam kết ấy bị chà đạp, xâm phạm và bị chối bỏ, cần phải xóa bỏ khế ước ấy và thay vào đó là một khế ước mới bằng cách nhân dân sẽ tự tìm cho mình những người đại diện mới để ủy thác quyền lực của mình. Vì vậy, việc xóa bỏ khế ước và thiết lập các chính phủ sao cho luôn đại diện cho lợi ích của nhân dân là một khát vọng và nguyên tắc của thiết chế chính trị và nền dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ năm 1947, đã nhấn mạnh đến điều này. Rằng, “Chính phủ mà làm hại dân, dân có quyền đuổi chính phủ đó đi” và một trong những cơ chế hữu hiệu và quan trọng nhất là thông qua trưng cầu ý dân (để “đuổi” chính phủ đó đi).

2. Dân chủ trong tư tưởng minh triết của Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, mà còn là một nhà hiền triết, nhà tư tưởng lỗi lạc đã phát triển và vận dụng sáng tạo lý luận của Mác-Lênin về giải phóng con người, giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Người cũng là tấm gương chói lọi phản chiếu tư tưởng minh triết ngàn năm của tinh hoa văn hóa Đông - Tây và của dân tộc. Những quan điểm, tư tưởng của Người không chỉ là một hệ thống lý luận khoa học đúng đắn được tôi luyện và làm giàu từ sự trải nghiệm thực tiễn mà còn là hệ thống tư tưởng minh triết - một hình thái tư duy là hệ quả của sự kết hợp hoàn hảo giữa sự thông thái, uyên bác của lý trí và trực giác với sự khái quát hóa sâu sắc quy luật hiện thực khách quan dưới dạng những luận điểm súc tích, dễ hiểu, giác ngộ và soi sáng như là chân lý phổ quát cho tất cả mọi người. Trong di sản hệ tư tưởng đồ sộ mà Người đã để lại cho Đảng ta và nền lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học, đáng lưu ý đó là tư tưởng minh triết về dân chủ.

Dân chủ đối với Hồ Chí Minh là “dân làm chủ”, dân là chủ thể của mọi quyền lực Nhà nước. “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ2 Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người viết: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc”3. Xác định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, xuất phát từ nhân dân, do nhân dân và bởi nhân dân, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng của Người về xây dựng một nhà nước kiểu mới - Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Người đặt tên cho chính thể đó là “Nhà nước nhân dân”, “Chính phủ nhân dân” và xem đó là nguyên tắc nền tảng của việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và quản lý xã hội.

Dân chủ được Hồ Chí Minh khái quát hóa bằng những tư tưởng minh triết sáng ngời mà những giá trị vững bền của chúng càng được khẳng định trong xã hội hiện đại ngày nay: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Dân chủ, với tính cách là một chế độ chính trị, một thiết chế nhà nước dựa trên quyền lực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phải nhằm đem lại lợi ích thực sự cho nhân dân. Điều này được khái quát cô đọng trong luận điểm của Hồ Chủ tịch: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.” Dân chủ chỉ ra sự tham chính của nhân dân. Điều này phản ánh rõ nét trong tư tưởng của Người: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân”. 

Dân chủ còn phải được thể hiện đặc biệt ở thuộc tính chính thể do nhân dân thiết kế nên. Dân là người ủy thác và trao quyền của mình cho những người đại diện xứng đáng và tin cậy thông qua quá trình thực hành dân chủ trực tiếp và đại diện. Vì vậy, hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu thấu đáo điều này và xem đó như là một trong những chuẩn mực quan trọng bậc nhất của việc thiết kế nhà nước và thực hành dân chủ. Người khẳng định, “Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên”. Sự khái quát cô đọng của quyền lực nhà nước nói riêng và quyền lực chính trị nói chung của nhân dân trong mệnh đề dân chủ với tính cách là một chế độ xã hội đó chính là “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”… Về sự tham chính của nhân dân, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến tính đại diện phổ quát và thực sự của thiết chế quyền lực nhà nước, khi Người khẳng định rằng “Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia”.

Hồ Chí Minh coi việc bảo đảm dân chủ dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công và tiến lên chủ nghĩa xã hội: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội”4, rằng “chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu”5.

Dân chủ không thể trở thành hiện thực nếu không có nhà nước pháp quyền và sự đảm bảo về việc tự do, bình đẳng trong cơ hội hưởng thụ các giá trị, thành quả của quá trình phát triển. Tiền đề vững chãi của dân chủ chính là việc thể chế hóa thành pháp luật những nội hàm của dân chủ đồng thời thực thi triệt để chúng trong thực tiễn. Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có pháp luật của dân mới đem lại cho lợi ích của nhân dân: “Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân”6. Người khẳng định rằng, “Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, vì vậy chính phủ ấy “chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân”7; và “chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho”8.

Người đặc biệt đề cao vai trò của việc hiện thực hóa những giá trị cơ bản của quyền con người, đem lại sự thụ hưởng các giá trị dân chủ thực sự cho mọi người dân, đồng thời coi đó là mục tiêu cốt yếu của cách mạng: “nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”9, và “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”10. Những luận điểm của Người về việc thực hành dân chủ trong hoạt động tổ chức, quản lý và điều hành nhà nước nói chung và hoạt động lập pháp nói riêng có một ý nghĩa hết sức sâu sắc. Chẳng hạn tư tưởng của Người về tính công khai, minh bạch và thực hành dân chủ của các cơ quan công quyền và về quyền tự do dân chủ của người dân được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn Độc lập và đặc biệt là bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, “Nghị viện họp công khai cho dân chúng vào nghe” (Điều 30). 

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ để đề ra những nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ ban hành Hiến pháp để bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân. Người viết: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng các quyền tự do dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống11”. Dân chủ là quyền làm chủ của người dân, mà trước hết là quyền tự do ứng cử và bầu cử, tham gia vào đời sống chính trị, vào việc ban hành và thực thi những quyết định liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt nhấn mạnh và đề cao dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, trước hết là các quyền về dân chủ trong lĩnh vực chính trị. Người khẳng định: “Trong Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử, không chia trai gái, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là người Việt Nam thì đều có hai quyền đó”. Quyền chính trị của nhân dân, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, phải bao chứa gốc rễ của vấn đề, đó là quyền được từ bỏ “khế ước xã hội” hiện tồn để xác lập một “khế ước” khác bảo đảm tốt hơn quyền và lợi cho người dân. Mọi quyền lực của Nhà nước đều ở nơi dân, do nhân dân mà ra. Vì vậy, nhân dân không chỉ là người trao quyền cho những người đại diện của mình vào các cơ quan quyền lực nhà nước mà còn có quyền lấy đi các quyền ấy từ Nhà nước. Do đó, quyền dân chủ của nhân dân không chỉ đơn thuần là quyền được bầu cử, ứng cử, mà điều quan trọng hơn đó là quyền được giám sát, kiểm tra, quyền bãi nhiệm (kể cả quyền bãi nhiệm toàn bộ Chính phủ), quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm và quyền được thay đổi Chính phủ. Chính vì vậy, Người tuyên bố, “nếu Chính phủ mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải lật đổ Chính phủ đó đi12”.

Đối với Hồ Chí Minh, dân chủ phải gắn liền với nhà nước pháp quyền, theo đó mọi quyền và tự do cơ bản của công dân phải được pháp điển hóa và pháp quyền là nguyên tắc tối thượng. Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ 20, trong tác phẩm Việt Nam yêu cầu ca, Người đã khẳng định, “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”13.

Người khẳng định, “nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân... nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Những người đại diện do dân cử ra chỉ là thực thi sự uỷ quyền của dân, là “công bộc” của dân; phải làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân, “cậy thế” với dân, “quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân”. Nhà nước do dân nghĩa là Nhà nước phải do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình. Nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước chi tiêu, hoạt động, vận hành bộ máy để phục vụ nhân dân; Nhà nước đó do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ; Nhà nước do dân tạo ra và tham gia quản lý. Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Nhà nước vì dân là Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Trong Nhà nước đó, cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều là công bộc của dân. Mọi hoạt động của chính quyền phải nhằm mục tiêu mang lại quyền lợi cho nhân dân và lấy con người làm mục tiêu phấn đấu lâu dài. Trách nhiệm của Nhà nước là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, mà trước hết là: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.  “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh” Hồ Chí Minh chú ý mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân với cán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân uỷ quyền. Là người phục vụ, nhưng cán bộ nhà nước đồng thời là người lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân. Cán bộ phải vừa có đức vừa có tài, vừa hiền lại vừa minh. Hồ Chí Minh là người Chủ tịch suốt đời vì dân. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó”.

Như vậy, dân chủ là dân làm chủ và Chính phủ chỉ là ‘công bộc’ của dân mà thôi. Các quyền lực nhà nước và những người thực thi quyền lực ấy từ cấp trung ương cho đến cơ sở đều thuộc về người dân. Chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm thực thi các quyền lực của nhân dân trao cho chính là những công chức, viên chức và cán bộ nhà nước, và họ đều là những “công bộc”, hay “đầy tớ” của nhân dân. Đây là một tư tưởng chứa đựng yếu tố minh triết về dân chủ rất sâu sắc của Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, nó ẩn chứa giá trị nhân văn sâu sắc về thông điệp hãy đối xử với nhân dân như là những chủ thể của quyền tự do dân chủ và gốc của quyền lực, của chính trị. Người khẳng định: “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc... Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của nhân dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật14”.

Minh triết Hồ Chí Minh về dân chủ, trước hết đó chính là những phương châm khúc triết, chứa đựng sâu lắng các giá trị nhân văn cao cả, đó là “dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ” và “thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”. Từ cách tiếp cận xem dân là hạt nhân trung tâm, là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng của dân chủ, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao dân chủ, coi đó là nhiệm vụ then chốt của công tác dân vận và là thành tố quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc và tiền đề quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Tư tưởng minh triết của Người về dân chủ có thể đúc rút thành công thức ngắn gọn: “Dân = Dân chủ = Dân vận = Đại đoàn kết toàn dân tộc = Thắng lợi (của mọi cuộc cách mạng) = Hạnh phúc (nhân dân)”. Ở đây có sự thống nhất chặt chẽ giữa mục đích và phương tiện: công tác dân vận phải xuất phát từ dân và vì dân; mọi cuộc cách mạng cũng vậy, phải xuất phát từ dân và vì dân. Tư tưởng vĩ đại của Người về “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” là minh triết dẫn lối tới sự đồng thuận xã hội và thống nhất dân tộc. Sự đoàn kết, thống nhất và đồng thuận xã hội là những hạt nhân cốt lõi của dân chủ. Dân chủ không thể được xác lập trên nền tảng của một xã hội thiếu đồng thuận và thiếu đoàn kết. Đồng thuận có được nhờ sự tham gia có ý nghĩa và thực sự của người dân vào quá trình bàn bạc, tranh luận và phản biện đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước và ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của từng người dân. Chỉ có thông qua dân chủ mới có được sự đồng thuận. Chỉ có trên cơ sở đồng thuận mới đạt được đoàn kết xã hội. Và đó chính là sức mạnh vô song của mọi cuộc cách mạng.

Tư tưởng minh triết của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng: “Cần-Kiệm-Liêm-Chính”, “Chí-Công-Vô-Tư” còn chỉ dẫn một nội dung vô cùng phong phú về dân chủ và thực hành dân chủ. Tư tưởng này cho thấy, việc xây dựng đạo đức và nhân cách mới là điều kiện tiên quyết của việc xác lập một thể chế dân chủ. Chỉ trong xã hội được cấu thành bởi những con người mang đạo đức và nhân cách tiến bộ này mới đủ năng lực thực hành dân chủ. Những tư tưởng ấy chỉ ra quyền lợi của đa số (của nhân dân) là cái đích của người “công bộc” phải hướng tới và thực hành bảo đảm. Vì nhân dân chứ không phải vì lợi ích cá nhân và tư lợi, thiên kiến, là động cơ thực hành dân chủ hiệu quả của toàn bộ hệ thống công quyền. Hiển nhiên, tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh về dân chủ đã vượt xa thời đại mà chúng ta đang sống. Dân chủ chỉ được bảo đảm khi các chủ thể thực thi quyền lực nhà nước đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết và sống, làm việc như những con người bình dị và bình dân. Dân chủ chỉ ra sự bình đẳng và như nhau của mọi người trong xã hội, kể cả cán bộ, công chức và người dân. Vì vậy, “cần, kiệm, liêm, chính; chí, công, vô, tư” là một hệ giá trị về đạo đức và nhân cách tiên quyết cho việc thực hành dân chủ.

 

3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của minh triết Hồ Chí Minh về dân chủ

Nghiên cứu tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh về dân chủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống lý luận của Đảng ta và là đòi hỏi cấp bách của thực tiễn đất nước hiện nay. Trước hết cần phải khẳng định rằng, dân chủ và phát triển là mục tiêu hàng đầu của chủ nghĩa xã hội, là lựa chọn duy nhất đúng đắn cho sức trường tồn và con đường đi lên của dân tộc ta. Phát triển vì dân chủ và dân chủ là điều kiện đồng thời cũng là mục tiêu quan trọng nhất của mọi sự phát triển. Phát triển là sự phát triển bền vững, định hướng vào con người, lấy con người là trung tâm, là động lực và mục tiêu. Bởi vậy, con đường phát triển của Việt Nam, hiểu một cách cô đọng, là con đường thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát triển bền vững với tính cách là hai thuộc tính ưu việt nhất của mọi thời đại. Học thuyết về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày nay không phải từ trên trời rơi xuống, trái lại, nó là sự kế thừa và phát triển trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với bề dày giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa, văn minh của thời đại. Đó là bệ đỡ vững chắc nhất giúp cho dân tộc ta đi tới tương lai. 

Trong các trào lưu đương đại về dân chủ có rất nhiều hạt nhân hợp lý bổ sung vào kho tàng lý luận chung của nhân loại giúp luận giải con đường đi đến xã hội tương lai. Tuy nhiên, chưa có một lý thuyết nào vượt lên trên chủ nghĩa Mác-Lênin - một học thuyết vĩ đại về dân chủ. Lý luận mác-xít đã vạch ra một phương pháp luận khả dĩ cho con đường giải phóng cá nhân, giải phóng nhân loại nhằm đạt được tự do, dân chủ và quyền con người đích thực. Học thuyết của các ông về giải phóng cá nhân chính là chìa khoá cho mọi sự giải mã về dân chủ. Đối với các ông, dân chủ và quyền dân chủ vừa là phương tiện và vừa là mục đích để con người - cá nhân đạt được tự do đích thực. Tự do theo nghĩa ấy là mục đích cao cả nhất của mọi cuộc cách mạng xã hội, là chuẩn mực của các thiết chế chính trị, của các hình thức nhà nước và của cơ chế giám sát và thực thi quyền lực nhà nước do nhân dân trao cho. Tự do cũng chính là quyền được tự do lựa chọn phát triển theo năng lực vốn có của mỗi cá nhân. Mục đích của mọi chế độ xã hội là nhằm tạo ra cho các cá nhân có được sự phát triển và được tự do phát triển và xác lập nhân tính tự do của mình. Dân chủ, xét đến cùng, là vì mục tiêu đem lại tự do đích thực cho mỗi người. Đến lượt mình, tự do của mỗi người lại là tiền đề cho sự phát triển toàn diện năng lực bản chất người của tất cả mọi người, và do đó, làm cho xã hội ngày càng phát triển hơn và đạt được nền dân chủ đích thực. Điều này, cách đây 163 năm, đã được phản ánh trong một luận điểm nổi tiếng của bản tuyên ngôn bất hủ - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, của Mác và Ăngghen: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Hơn bao giờ hết, dân chủ và việc thực hành dân chủ có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh và sự phát triển của dân tộc, của đất nước, như lúc này. Lời giải khả dĩ cho việc giải quyết hiệu quả những mâu thuẫn của mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển trong xã hội hiện đại chính là hoàn thiện xây dựng chủ thuyết phát triển Việt Nam cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Mặc dù về nguyên tắc, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; và nguyên tắc ấy cần phải được thể hiện trong toàn bộ bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành chính nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, trên thực tế, nước ta đang ở thời kỳ quá độ nên còn tồn tại những bất cập trong việc xây dựng một Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân. Đó là bộ máy hành chính nhà nước cồng kềnh, chồng chéo, thiếu hiệu quả; tệ quan liêu, tham nhũng, tham ô và cửa quyền hách dịch của một phận đội ngũ cán bộ khá phổ biến... Vì vậy, để Nhà nước ta thực hiện đúng bản chất là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thực hành hiệu quả dân chủ, cần phải có những giải pháp như sau:

Thứ  nhất, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và  hoạt động của bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội theo nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng không làm thay hay lấn át Nhà nước. Thực hành rộng rãi dân chủ trong Đảng là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy dân chủ trong toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Thứ hai, bộ máy nhà nước cần phải được khắc phục những thói quan liêu, hách dịch, xa rời nhân dân, đứng trên nhân dân, hành nhân dân (như tình trạng đang diễn ra ở một số địa phương hiện nay). Cần xây dựng nền hành chính nhà nước cởi mở, minh bạch và dân chủ để phục vụ tốt hơn những vấn đề bức xúc của người dân, cũng như để người dân dễ dàng tiếp cận với những dịch vụ công công, chẳng hạn như giáo dục, chăm sóc và chữa bệnh, và các vấn đề an sinh, phúc lợi xã hội. Trong công tác cải cách hành chính nhà nước, cần đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng cơ chế một cửa, coi đây là khâu đột phá không chỉ giúp cho việc thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất và nền kinh tế quốc dân nói chung, mà điều quan trọng hơn, giúp người dân tiếp cận được thực chất quyền và lợi ích hợp pháp của mình15. Hiển nhiên, việc cải cách hành chính là khâu then chốt trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Việc xây dựng cơ chế “một cửa” và áp dụng rộng rãi vào công tác quản lý xã hội và quản lý kinh tế ở địa phương đã mang lại những lợi ích to lớn đối với người dân16.

Thứ ba, dân chủ phải được bảo đảm bằng những nguyên tắc hiến định và luật định với cơ chế giám sát việc thực thi hiệu quả; pháp luật phải là nguyên tắc tối thượng. Vì vậy, cần tăng cường việc pháp điển hóa các quyền và tự do cơ bản của công dân cùng với những thiết chế thực thi hiệu quả; hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện, tố cáo để giải quyết những bức xúc của người dân; xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, có tính khả thi và chế tài cao để xử lý nghiêm những cán bộ tham ô, tham nhũng và suy đồi về phẩm chất đạo đức và lập trường tư tưởng dẫn đến ức hiếp và hành dân. Đồng thời, xây dựng ngành tư pháp vững mạnh và trong sạch, tăng cường tính độc lập, hoạt động dựa trên nguyên tắc pháp luật là tối thượng; chú trọng tới tiêu chí tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của công dân.

Thứ tư, cần tiếp tục hoàn thiện bộ máy và tổ chức của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, xứng đáng là người đại diện cho quyền lực của nhân dân. Năng lực lập pháp cần phải được cải thiện hơn nữa để các dự án luật phản ánh thực chất những vấn đề bức xúc của nhân dân; cũng như năng lực thẩm định các dự án phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ cũng phải được nâng cao, đồng thời với việc nâng cao năng lực giám sát tối cao đối với các hoạt động bảo vệ và thực thi pháp luật của các cơ quan tư pháp, hoạt động thi hành pháp luật của các cơ quan hành pháp, và của chính hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Thứ tư, dân chủ phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế và văn hóa của xã hội, đặc biệt là trình độ nhận thức và ý thức pháp quyền của người dân. Vì vậy, cần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, tăng cường giáo dục và xây dựng một nền văn hóa pháp quyền trong bộ máy nhà nước và toàn xã hội.

Thứ năm, một trong những giải pháp quan trọng và tối cần thiết là cần phải mở rộng và tăng cường không ngừng sự tham gia của nhân dân vào quá trình xây dựng, tổ chức, điều hành và giám sát hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước. Qua đó, tăng cường quyền lực nhân dân bằng cách mở rộng và áp dụng quyền dân chủ trực tiếp của người dân thông qua hình thức đầu phiếu phổ thông trực tiếp để bầu ra người đại diện ưu tú cho mình vào bộ máy chính quyền địa phương cũng như của toàn bộ hệ thống chính trị. Chẳng hạn, ở cấp cơ sở, nhân dân nên có quyền bỏ phiếu trực tiếp bầu ra Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã chứ không phải Hội đồng nhân dân xã bầu ra Chủ tịch xã. Ở cấp ủy Đảng, cũng cần nghiên cứu để áp dụng thí điểm và sau đó nhân rộng mô hình bầu trực tiếp Bí thư Đảng ủy cơ sở. Làm như vậy sẽ nâng cao được quyền làm chủ của nhân dân. Người dân ở địa phương vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của các chính sách mà chính quyền địa phương xây dựng và triển khai; quyền và lợi ích hợp pháp của họ thường va chạm với cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức. Vì vậy, họ hiểu ai là cán bộ có năng lực, có đạo đức và phẩm chất tốt để đảm đương công việc lo toan cho đời sống của nhân dân. Họ là người lựa chọn sáng suốt nhất người đại diện xứng đáng cho mình và cũng chính họ sẽ là người có thẩm quyền tối cao, một cách trực tiếp hoặc thông qua người (hay cơ quan) đại diện cho mình thực hiện miễn nhiệm, bãi nhiệm hay kỷ luật đối với cán bộ hay đội ngũ cán bộ đi ngược lại lợi ích của dân. Bởi vậy, cùng với quyền dân chủ trực tiếp đối với việc bầu ra người đại diện cho mình, người dân cần phải được trao quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm trực tiếp, chẳng hạn thông qua Luật Trưng cầu dân ý hoặc thăm dò dư luận, để thay thế người ấy, cũng như ê-kíp của bộ máy chính quyền ấy mà không cần phải chờ cho đến hết nhiệm kỳ17.

 Thứ sáu, hoàn thiện hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, quần chúng nhân dân để giúp người dân mở rộng không gian chính trị nhằm thực hành hiệu quả dân chủ. Nhân dân có thể thực hành quyền tự do dân chủ của mình thông qua người đại diện và cơ quan nhà nước, nhưng cũng có thể thực hiện trực tiếp bằng cách tự liên kết nhau thành những tổ chức tự nguyện, tự quản và phi lợi nhuận. Đó chính là các tổ chức xã hội dân sự. Để thực hiện tốt dân chủ và quyền con người trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, yêu cầu về việc mở rộng các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và đẩy mạnh sự tham gia giám sát, kiểm tra, thanh tra của nhân dân là một điều kiện tiên quyết. Nghị quyết số 97/2003 của Chính phủ nhấn mạnh đến việc tăng cường dân chủ ở cơ sở và sự tham gia của nhân dân vào mọi quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch, chương trình, đã xác lập các nguyên tắc ràng buộc các cấp chính quyền địa phương phải tăng cường sự tham gia của nhân dân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các quy định của Chính phủ còn chưa thực sự được áp dụng hiệu quả và triệt để. Vì vậy, vai trò của người dân, việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân còn chưa thực sự được đảm bảo tốt. Điều này có ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình xây dựng Nhà nước cũng như hiện thực hóa đầy đủ các quyền con người ở nước ta.

Thứ bảy, bổ sung và phát triển lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về dân chủ trong bối cảnh hiện nay; trên cơ sở đó, xây dựng một chủ thuyết phát triển cho Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

(1) C.Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, tâp 20, Nxb. CTQG., H., 1994, tr. 149.

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t 7, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 218 – 219.

(3) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 2, tr. 270.

(4) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 9, tr. 592.

(5) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 9, tr. 593.

(6) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 7, tr. 453.

(7) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 7, tr. 361 - 362.

(8) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 7, tr. 368.

(9) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 4, tr. 56.

(10) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 4, tr. 152.

(11) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 4, tr. 8.

(12) Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr. 270.

(13) Hồ Chí Minh, Sđd, t.1, tr.438.

(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Sự thật, H.,1984, tr. 35, 36.

(15) Bộ Tư pháp: Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Xem trên Cổng Thông tin Điện tử, http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode. target.n420.uP?uP _root=me&cmd=item&ID=6197

(16) Bộ Nội vụ, Cải cách Hành chính Nhà nước: Tăng thu nhập nhờ cơ chế “một cửa”. http://www.caicachhanhchinh.gov.vn/Vietnam//Story_about_PAR/1519200612071321000/

(17) Ở những nền dân chủ lâu đời, chẳng hạn như ở Bắc và Tây Âu, quyền dân chủ trực tiếp của người dân trong việc tự do lựa chọn người lãnh đạo chính quyền điạ phương hay các dân biểu được xem là then chốt của việc xây dựng một chính quyền của dân, do dân và vì dân. Xem thêm http://www.sida.se và Tony Lavender (1999), Cải cách Chính phủ Vương quốc Anh, trên http://www.caicachhanhchinh.gov.vn/Vietnam/InterExperience/ ReformCountries /228200412091035000/attachments/105_CCCPVuongquocAnh.doc

 

TS. Hoàng Văn Nghĩa - Giảng viên chính, Trưởng ban Lý luận chung, Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Chế định chính quyền địa phương (30/03/2012)
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chức năng tham mưu của Văn phòng Chính phủ (23/03/2012)
Lựa chọn mô hình tài phán hiến pháp – những vấn đề phổ biến và đặc thù quốc gia (09/02/2012)
Quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước qua các hiến pháp Việt Nam (31/01/2012)
Một số vấn đề cải tiến, xây dựng quy trình thủ tục phiên họp toàn thể của Quốc hội (22/11/2011)
Phát huy vai trò của Ủy ban Đối ngoại trong việc giám sát các thỏa thuận hợp tác Việt Nam - Lào (12/10/2011)
Bài học về quyền lực Nhà nước từ mô hình công ty cổ phần (26/09/2011)
Phát huy vai trò của Ủy ban Đối ngoại trong việc giám sát các thỏa thuận hợp tác Việt Nam - Lào (12/10/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân