Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 28/05/2017, 21:56(GMT+7)
 
Nhà nước

Mặt trận Tổ quốc trong vai trò phản biện và giám sát hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước

Nếu coi giám sát là một bộ phận của quyền lực nhà nước, thì ai có thẩm quyền để kiểm soát quyền đó? Đây là câu hỏi không mới trong khoa học về tổ chức bộ máy nhà nước của nhân loại, nhưng lại là mới trong quan niệm của chúng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN). Bài viết trình bày ý tưởng về một hình thức, một tổ chức quyền lực có thể tham gia phản biện và giám sát hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

 

1. Phản biện xã hội - cách thức, công cụ để nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện các quyết sách chính trị

Chính trị là hoạt động của số đông. Một lực lượng chính trị nào đó đảm đương vai trò lãnh đạo xã hội ở tầng mức nào, không thể không phụ thuộc vào việc nó tìm cách tập hợp, lôi kéo các tầng lớp nhân dân tham gia vào sự nghiệp mà nó theo đuổi. Trong thực tế, việc nhân dân tham gia vào chính trị, hoạt động chính trị, suy cho cùng là tham gia vào cuộc đấu tranh vì lợi ích của một giai cấp này hay giai cấp kia mà thôi. C.Mác, Ph.Ăng-ghen viết: “Lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay - tức là toàn bộ lịch sử thành văn (lời chú thích của Ăng-ghen năm 1888) - chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả của phường hội và thợ bạn, nói tóm lại, những kẻ áp bức và những người bị áp bức…”[1].  

Việc vạch ra sự thật về bản chất, nguồn gốc của chính trị là đóng góp rất to lớn của tư tưởng chính trị Mác - Lênin vì nó đem lại cái nhìn khoa học, khách quan về chính trị. Việc làm đó không chỉ có ý nghĩa về nhận thức lịch sử mà điều quan trọng hơn là nó vạch ra cho giai cấp công nhân một mục tiêu đấu tranh rõ ràng của mình - chiếm lấy nhà nước, tự tổ chức nên một hình thức điều hành và quản lý xã hội phù hợp với quyền lợi chính đáng của mình, đồng thời phù hợp với sự phát triển của trình độ sản xuất của loài người.

Những thành quả và bất cập của chủ nghĩa xã hội hiện thực thế kỷ XX đã kiểm chứng, khẳng định tầm quan trọng và chỉ ra những việc cần phải hoàn bị lý thuyết về một thể chế chính trị, thể chế nhà nước dân chủ cũng như cách thức, công cụ để hiện thực các ý tưởng về một thể chế nhà nước hợp lý, có hiệu quả hiện nay.

Đành rằng, một nhà nước lý tưởng không thể không phụ thuộc vào yếu tố bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền, nhưng nếu chỉ quan niệm giản đơn về tính ưu việt của “nhà nước kiểu mới” do một lực lượng tiến bộ nắm giữ mà không thực sự quan tâm đúng mức đến việc hoàn thiện về mặt kỹ thuật pháp lý - với tính cách là thành quả văn minh chính trị của nhân loại thì rút cục, nhà nước vẫn có thể bị biến chất.

Do đó, tạo lập một nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung nhất trong việc hình thành một thể chế chính trị dân chủ, đương nhiên đã là dân chủ XHCN thì nhà nước pháp quyền phải đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn. Và, để đạt được điều đó trên thực tế, kinh nghiệm lịch sử cho thấy ít nhất phải có: (i) các nhánh quyền lực trong bộ máy nhà nước không chỉ làm tròn phận sự của nó mà cần phải đảm nhận tốt việc kiểm tra (hoặc kiểm soát) lẫn nhau bằng và theo luật định; (ii) công việc của các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân; (iii) dân có quyền tham gia vào việc xây dựng các quyết sách của nhà nước (luật, nghị định, quyết định…),  giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước bởi những cách thức, cơ chế xác định, trong đó phản biện xã hội là một trong những cách thức, công cụ hữu dụng.

Với những tiêu chí đã xác định, có thể nói, để hoạt động phản biện xã hội được thực hành trong thực tế, tất yếu phải xây dựng một thể chế chính trị dân chủ, nhà nước pháp quyền. Bởi lẽ, chỉ có thể chế dân chủ mà trụ cột là nhà nước pháp quyền với những yếu tố đầy đủ của nó, mới có thể tạo ra môi trường cho sự tranh luận, bàn thảo một cách dân chủ những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng. Cũng với logic đó, có thể  khẳng định, thể chế chính trị dân chủ XHCN là thể chế có khả năng tạo lập môi trường xã hội - chính trị rộng rãi nhất để mọi tầng lớp nhân dân tham gia đối thoại, trình bày những ý kiến, quan điểm của mình trước những vấn đề liên quan đến quốc kế, dân sinh. Nói cách khác, trong nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, phản biện xã hội là một trong những cách thức, công cụ để nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện các quyết sách chính trị; là cách thức và công cụ để hiện thực hóa nguyên tắc pháp lý mỗi hay mọi công dân đều có thể tham gia vào công việc của nhà nước - trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức đại diện; đó cũng là con đường tạo lập sự đồng thuận giữa lực lượng cầm quyền với quần chúng nhân dân (xã hội) thông qua sự thỏa thuận có tính thể chế.

Cũng lưu ý rằng, Hiến pháp Việt Nam hiện hành quy định rõ, chủ thể duy nhất thực hiện quyền giám sát tối cao là Quốc hội. Theo đó, quyền giám sát là một trong ba nhóm quyền cơ bản - gồm lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước - thuộc về Quốc hội. Tất nhiên, ý tưởng này xuất phát từ cấu trúc - xử lý mối quan hệ bên trong của quyền lực nhà nước. Bởi lẽ, quyền giám sát (của Quốc hội) quan hệ qua lại rất chặt chẽ với các quyền khác (hành pháp và tư pháp). Và, nếu quyền lập pháp và quyết định những vấn đề trọng đại (cũng thuộc về Quốc hội) thực hiện tốt sẽ bổ sung, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền giám sát. Như vậy, giám sát là để khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong tổ chức và hoạt động của các nhánh quyền lực, làm cho quyền hành pháp và tư pháp thực hiện tốt hơn.

Nếu đứng từ góc độ kiểm soát quyền lực bởi quyền lực, nếu coi giám sát là một bộ phận của quyền lực nhà nước thì trong thể chế dân chủ mà chúng ta đang xây dựng, chính nhân dân là người có thẩm quyền phản biện, kiểm soát các quyền đó. Nội dung cơ bản của hoạt động này là phản biện tất cả các quyết sách liên quan đến quốc kế, dân sinh - những vấn đề của đời sống cộng đồng, xã hội (từ các quyết sách của Quốc hội đến quyết sách của Chính phủ - nói chung là quyết sách từ bộ máy quyền lực nhà nước); trên cơ sở đó và căn cứ vào đó để kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động của các chủ thể có quyền lực trong bộ máy công quyền.

Tất nhiên, trong điều kiện thể chế chính trị dân chủ hiện nay, hoạt động phản biện, giám sát của nhân dân có thể được thực hiện trực tiếp với việc công dân, các tầng lớp xã hội tham gia vào các công đoạn xây dựng thể chế của các cơ quan công quyền; giám sát hoạt động của các đại biểu do mình bầu ra trong Quốc hội, Chính phủ hay Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; hoặc có thể gián tiếp bằng “kênh” phản biện, giám sát của các tổ chức quần chúng tập hợp trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN).

2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc thực hiện vai trò phản biện, giám sát hiện nay

MTTQVN do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, được thành lập ngày 18/11/1930. Từ khi có Đảng là có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chính quyền, Mặt trận đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị. Trải qua các thời kỳ hoạt động với những tên gọi khác nhau, Mặt trận không ngừng phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc Việt Nam - một nhân tố góp phần quan trọng trong thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy vị trí, vai trò, chức năng và phương thức hoạt động của từng bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị ở Việt Nam có khác nhau, nhưng từ tổ chức Đảng đến các tổ chức quần chúng - tập hợp trong MTTQVN, đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhằm một mục đích chung là: Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Vì lẽ đó, Điều 9 Hiến pháp năm 1992 đã xác định: "MTTQVN và các thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân"[2].  

Quan hệ giữa Uỷ ban MTTQVN với các cơ quan nhà nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Quan hệ phối hợp giữa MTTQVN với Nhà nước được thực hiện theo quy chế phối hợp công tác do Uỷ ban MTTQVN và cơ quan nhà nước hữu quan ở từng cấp ban hành.

Trong quan hệ với nhân dân, Uỷ ban MTTQVN, các thành viên của MTTQVN các cấp mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, phát huy vai trò của mình xây dựng cộng đồng dân cư tự quản hoạt động trên cơ sở hương ước, quy ước; động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

MTTQVN và các đoàn thể thành viên có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đó là: củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.

Từ khi khởi xướng và thực hành đổi mới đến nay, xã hội Việt Nam nói chung và hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở nước ta nói riêng đã biến đổi theo chiều hướng ngày càng dân chủ hơn. Quá trình dân chủ hóa xã hội do đó đã có nhiều khởi sắc… Và, chính từ đổi mới, tác phong đối thoại trong hệ thống chính trị đã được được hình thành và dần dần trở thành một nguyên tắc vận hành của cả hệ thống. Bởi lẽ, thông qua đổi mới và dân chủ hóa, mọi người, mọi cấp độ chủ thể quyền lực đều hiểu rằng, chân lý đến từ quá trình tìm tòi, suy ngẫm phân tích và tiếp nhận thông tin liên tục của cuộc sống; sự mở cửa giao lưu với thế giới bên ngoài, sự hội nhập ngày càng sâu của nền kinh tế không cho phép bất cứ ai bảo thủ…

Như vậy, từ lịch sử đến hiện tại, có thể khẳng định: MTTQVN là tổ chức đại diện của các tầng lớp nhân dân, vừa tồn tại độc lập, vừa là bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị nhất nguyên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tính nhất nguyên của hệ thống chính trị ấy có ưu điểm tạo nên sự thống nhất, sự ổn định của hệ thống, nhưng nếu không có cơ chế điều chỉnh hợp lý và kịp thời, đôi khi có thể khiến cho hệ thống rơi vào trì trệ, thậm chí dẫn đến nguy cơ độc quyền từ phía bộ phận cầm quyền.

Cho dù trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta đã và đang chứng tỏ là tổ chức biểu hiện tập trung quyền lợi của nhân dân, nhưng trong quá trình vận hành của hệ thống chính trị ngày nay, tất cả hoạt động của các tổ chức quyền lực, về phương diện kỹ thuật pháp lý, đều phải được giám sát (hay chính xác hơn là kiểm soát) bởi một thiết chế quyền lực có tính độc lập tương đối.

Đương nhiên, trong thể chế nhất nguyên chính trị ở nước ta, MTTQVN là thiết chế quyền lực có thể có tính độc lập tương đối để đảm đương chức năng phản biện và giám sát các quyết sách cũng như hoạt động của Đảng và Nhà nước. Chính vì thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông tại Đại hội XI của Đảng cũng tái khẳng định: Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”[3].

Chung quanh việc tìm kiếm cách thức, cơ chế nhằm tạo nên tính độc lập tương đối của MTTQVN (cũng như các tổ chức chính trị xã hội) ở nước ta hiện nay đã có nhiều ý kiến, nhiều cách làm khác nhau. Hiệu quả có nhưng sự kém hiệu quả, mang tính hình thức cũng không ít… Theo chúng tôi, có thể có nhiều nội dung cụ thể để tạo lập cơ chế đó, nhưng ngay trong Hiến pháp sửa đổi, bổ sung cần phải và có thể làm được ít nhất các việc sau:

Thứ nhất, xác định rõ địa vị pháp lý của MTTQVN như là một tổ chức đại diện lợi ích của các tầng lớp nhân dân trong mối quan hệ với tất cả các tổ chức khác cấu thành hệ thống chính trị nhất nguyên do Đảng Cộng sán Việt Nam lãnh đạo.

Thứ hai, trên cơ sở đó, thể chế hoá về mặt ngân sách kèm theo là việc kiện toàn tổ chức bộ máy để MTTQVN đủ ngân sách hoạt động mà không phụ thuộc cơ chế  “xin- cho” từ phía cơ quan nhà nước.

Ba là, có cách thức, cơ chế để MTTQVN cấp địa phương tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tuyến dọc nhằm bảo đảm tính độc lập tương đối so với các cơ quan quyền lực khác cùng cấp độ.

Thứ tư, thiết kế một chính sách cán bộ để quá trình lựa chọn thủ lĩnh cho các phong trào, tổ chức đoàn thể vừa thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng nhưng lại thực sự phản ánh nguyện vọng của chính các thành viên của phong trào và các tổ chức đó./.



[1] Mác Ăng-ghen: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Tuyển tập, Nxb Sự thật - Hà Nội 1980, tập1, tr 540.

[2]  Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992, Nxb Pháp lý - Nxb Sự thật, Hà Nội 1992, tr 15.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 87.

PGS, TS. Hồ Tấn Sáng - Trưởng khoa Chính trị học, Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh khu vực III
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Nước và Nhà nước trong Hiến pháp Việt Nam (23/12/2013)
Cần thành lập Uỷ ban dân nguyện của Quốc hội (08/03/2013)
Vấn đề kiểm soát quyền lực trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (05/02/2013)
Về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội (31/01/2013)
Nhận thức và thực hiện dân chủ trong nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay (08/01/2013)
Sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11: Một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội hiện nay (08/01/2013)
Sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11: Một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội hiện nay (08/01/2013)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân