Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 12/02/2012, 21:35(GMT+7)
 
Nhà nước

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Cho tới nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã tiến hành hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đối với các vị bộ trưởng, trưởng các ban ngành tại năm phiên họp của UBTVQH khoá XII1.  Có thể nói, đối với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, việc tổ chức các phiên chất vấn tại UBTVQH là một trong những dấu ấn rõ nhất trong đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Cũng như hoạt động chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, hoạt động chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội đã đạt được những kết quả tích cực, được các thành viên Chính phủ, các vị đại biểu Quốc hội, cử tri đồng tình ủng hộ, được dư luận hoan nghênh và đánh giá cao. Có thể kể đến một số kết quả đạt được của hoạt động này như sau:

 Thứ nhất, góp phần quan trọng khắc phục mâu thuẫn giữa thời gian họp rất có hạn của Quốc hội và yêu cầu giải quyết những vấn đề bức xúc của đời sống nhân dân, đời sống đất nước. Nếu chỉ tổ chức chất vấn tại các phiên họp toàn thể của Quốc hội trong khoảng thời gian từ hai ngày rưỡi đến ba ngày thì không thể giải đáp hết được tất cả những băn khoăn, mong muốn,  những vấn đề mà cử tri nóng lòng yêu cầu giải quyết. Chất vấn tại UBTVQH, như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã nói là không những để tiếp tục tăng cường hoạt động giám sát, từng bước nâng cao hiệu quả và hiệu lực giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội mà còn kịp thời đưa những vấn đề thời sự, mới phát sinh trong thực tế vào chất vấn tại phiên họp UBTVQH, giảm bớt các nội dung chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội để các kỳ họp Quốc hội tập trung vào các vấn đề ở tầm vĩ mô khác...2.

Thứ hai, với phạm vi nội dung tương đối hẹp, đại biểu Quốc hội và người trả lời chất vấn có thể đi tới cùng của vấn đề được nêu ra. Các nội dung của phiên họp chất vấn tại UBTVQH   được xác định trên cơ sở ủy quyền của Quốc hội và thực tiễn đặt ra, tương đối hẹp và cụ thể, vậy nên, so với các phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp của Quốc hội, các nội dung tại phiên chất vấn của UBTVQH là một lợi thế để các đại biểu Quốc hội và các Bộ trưởng có thể tập trung hơn vào những vấn đề được đặt ra và đi đến cùng trong việc giải quyết những vấn đề đó. Thời gian chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp của UBTVQH cũng có thể linh hoạt hơn so với chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, nên đại biểu Quốc hội và người trả lời chất vấn cũng có điều kiện hơn trong việc trình bày, giải thích câu hỏi cũng như giải trình về vấn đề được nêu lên.

Thứ ba, phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn tại UBTVQH quy tụ được nhiều đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, nhất là các vị đại biểu chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, chính vì vậy, những vấn đề chuyên môn sâu được nêu lên, những câu hỏi có chất lượng, đi thẳng vào vấn đề được đặt ra; đại biểu Quốc hội và Bộ trưởng, Trưởng các ban ngành quen phong cách của nhau, “biết bài” của nhau cả3 đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của các phiên họp chất vấn. 

Thứ tư, năm lần chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp của UBTVQH cho thấy không khí và tinh thần của chất vấn và trả lời chất vấn tại UBTVQH cũng được thể hiện tượng tự các kỳ họp Quốc hội: dân chủ, đối thoại thẳng thắn, thậm chí có phần gần gũi, cởi mở hơn vì không gian hẹp. Thêm vào đó, chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp UBTVQH cũng được truyền hình, phát thanh trực tiếp, công khai cho nhân dân theo dõi nên được đông đảo cử tri quan tâm và đánh giá cao. 

Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội đã làm cho hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của UBTVQH gắn chặt hơn với những vấn đề thời sự mới phát sinh trong thực tế cuộc sống, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho hoạt động xây dựng pháp luật của Quốc hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đã được khẳng định, vấn đề cơ sở pháp lý của hoạt động chất vấn tại UBTVQH vẫn còn là một băn khoăn.

Điều 98 Hiến pháp năm 1992 quy định:

“Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản”.

Điều 49 Luật tổ chức Quốc hội cũng quy định:

“Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, chất vấn được gửi đến UBTVQH để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn. Nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc UBTVQH”.

Như vậy, theo các quy định trên thì mặc nhiên các chất vấn của đại biểu Quốc hội giữa hai kỳ họp của Quốc hội sẽ được trả lời bằng văn bản; chỉ có hai chủ thể có quyền quyết định việc tổ chức chất vấn hoặc thảo luận về vấn đề chất vấn của đại biểu Quốc hội trước UBTVQH   và chỉ trong những trường hợp nhất định, đó là:

(1) Quốc hội quyết định: trong trường hợp cần điều tra về vấn đề đại biểu Quốc hội chất vấn;

(2) Chủ tịch Quốc hội quyết định: trong trường hợp đại biểu Quốc hội đề nghị khi không đồng ý với nội dung trả lời bằng văn bản của người trả lời chất vấn.

Về vấn đề này, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã có những điểm “mở rộng” hơn so với các quy định trên của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội. Tại điểm 3 Điều 15 về các hoạt động giám sát của UBTVQH có quy định: “xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội” mà không kèm theo những điều kiện như Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội đã nêu. Đồng thời, tại điểm a, khoản 1 Điều 19 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội về việc “Trả lời chất vấn tại phiên họp UBTVQH” (khoản 3 Điều 25 Quy chế hoạt động của UBTVQH cũng quy định tương tự) nêu rõ: “Chủ tịch Quốc hội nêu chất vấn của đại biểu Quốc hội đã được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp UBTVQH và những chất vấn khác được gửi tới UBTVQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội”.

Nếu hiểu “chất vấn của đại biểu Quốc hội đã được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp UBTVQH” trong trường hợp này chính là những chất vấn mà Quốc hội thấy “cần điều tra” thì Luật cần quy định rõ về quy trình, thủ tục điều tra, cụ thể là ai điều tra, điều tra như thế nào, xử lý kết quả điều tra như thế nào… Trên thực tế, yêu cầu “cần điều tra” đã bị “bỏ quên”. 

Cũng theo quy định này thì “những chất vấn được gửi tới UBTVQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội” đều có thể được đưa ra chất vấn tại phiên họp UBTVQH. Trong khi đó, Luật tổ chức Quốc hội chỉ quy định những chất vấn giữa hai kỳ họp mà đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời bằng văn bản của người trả lời chất vấn mới được đại biểu Quốc hội đề nghị Chủ tịch Quốc hội cho được tiếp tục thảo luận tại phiên họp UBTVQH. Như vậy, quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội về vấn đề này chưa hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội. Điều đó dẫn tới một thực tế là hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp UBTVQH đang từ chỗ có nhiệm vụ riêng (theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội) đã mang tính chất hoàn toàn khác.

Điều 19 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, khoản 3 Điều 25 Quy chế hoạt động của UBTVQH quy định về trình tự, thủ tục hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp UBTVQH đã trở thành cơ sở pháp lý chủ yếu cho việc tiến hành hoạt động này hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế, do Quốc hội chưa quyết định các nội dung cụ thể (hoặc các chất vấn cụ thể của đại biểu Quốc hội) để UBTVQH thực hiện việc chất vấn tại các phiên họp4 và giữa hai kỳ họp của Quốc hội không có nhiều đại biểu gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội, nên việc lựa chọn danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn tại các phiên họp của UBTVQH và nội dung trả lời chất vấn thường dựa trên các tiêu chí chủ yếu sau đây5:

Thứ nhất, số lượng các chất vấn mà đại biểu Quốc hội gửi đến từng vị Bộ trưởng, Trưởng các ban ngành (các Bộ trưởng nhận được số lượng câu hỏi nhiều nhất trong danh sách người nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội thường trả lời trực tiếp tại kỳ họp; các Bộ trưởng có số lượng câu hỏi ít hơn và nhiều nhất trong danh sách còn lại sẽ trả lời tại phiên họp UBTVQH);

Thứ hai, nội dung chất vấn có nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm, không những được các vị đại biểu Quốc hội mà còn được cử tri và dư luận xã hội quan tâm;

Thứ ba, tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và những yêu cầu trong việc quản lý, điều hành kinh tế - xã hội tại thời điểm chất vấn;

Thứ tư, có cân nhắc đến việc tham gia trả lời chất vấn trực tiếp tại các kỳ họp Quốc hội, Phiên họp của UBTVQH gần đây (nếu tại các kỳ họp, phiên họp gần đây mà vị Bộ trưởng, trưởng các ban ngành đó đã liên tục “đăng đàn” thì có thể được “tạm hoãn” trả lời tại phiên họp này mặc dù có thể thỏa mãn tất cả các tiêu chí nêu trên).

Trong thời điểm hiện nay, để có thể tiến hành hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các phiên họp UBTVQH, các tiêu chí nêu trên có thể hợp lý, nhưng có thể thấy, chưa có nhiều sự “liên quan” của các tiêu chí đặt ra và các quy định của pháp luật về vấn đề này.

Trong tiến trình đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, hoạt động của Quốc hội và cụ thể là hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn nói riêng, Quốc hội, UBTVQH có thể quyết định tiến hành thực hiện thí điểm những hoạt động chưa được quy định trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, bước đi cần thiết tiếp theo phải là tổng kết, rút kinh nghiệm để hoặc là phải sửa các quy định của pháp luật có liên quan nếu hoạt động đó thực sự đem lại hiệu quả, hoặc là phải tiếp tục thực hiện đúng theo những quy định của pháp luật hiện hành. Để có căn cứ pháp lý vững chắc cho hoạt động chất vấn của UBTVQH như hiện nay, cần sửa đổi các quy định tại Điều 98 Hiến pháp năm 1992 và Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội theo hướng quy định về các trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể tổ chức hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp, trong đó quy định rõ trường hợp Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội và trường hợp có chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp.

 

 

(1)Tại các phiên họp thứ 8, thứ 9, thứ 18, thứ 22 và thứ 29 của UBTVQH  khóa XII.

(2) Phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng khai mạc phiên họp chất vấn tại UBTVQH  lần thứ nhất, ngày 28/3/2008.

(3) TS. Nguyễn Minh Thuyết, Phó Chủ nhiệm Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, Báo Người đại biểu nhân dân ngày 12/8/2009.

(4) Trong các Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ tư và thứ sáu, Quốc hội khoá  XII; Kết luận của Chủ tịch Quốc hội sau phiên họp chất vấn tại kỳ họp thứ ba và thứ năm chỉ giao UBTVQH tiến hành hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn về mặt chủ trương mà chưa giao các nội dung cụ thể.

(5) Theo Tờ trình của Ban Công tác đại biểu số 152/TTr-BCTĐB, ngày 3/8/2009 về việc tổ chức hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại Phiên họp thứ 22 của UBTVQH.

 

ThS. Nguyễn Mai Thoa - Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Văn phòng Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Lựa chọn mô hình tài phán hiến pháp – những vấn đề phổ biến và đặc thù quốc gia (09/02/2012)
Quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước qua các hiến pháp Việt Nam (31/01/2012)
Một số vấn đề cải tiến, xây dựng quy trình thủ tục phiên họp toàn thể của Quốc hội (22/11/2011)
Phát huy vai trò của Ủy ban Đối ngoại trong việc giám sát các thỏa thuận hợp tác Việt Nam - Lào (12/10/2011)
Bài học về quyền lực Nhà nước từ mô hình công ty cổ phần (26/09/2011)
Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới hoạt động của Quốc hội (12/09/2011)
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (31/08/2011)
Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới hoạt động của Quốc hội (12/09/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân