Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 24/10/2014, 00:49(GMT+7)
 
Nhà nước

Bàn về thực trạng và nhu cầu pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật về quyền con người theo Nghị quyết 48 của Bộ Chính trị (kỳ II)

 

 

1.1.5. Về tính công bằng, bình đẳng, tính dễ dàng, thuận lợi tối ưu và chi phí thấp trong tổ chức và hoạt động của BMNN

- Xét trong mối quan hệ bên trong tổ chức BMNN, nội dung điều chỉnh pháp luật còn mang nặng tư duy bình quân chủ nghĩa, không có quy định khuyến khích mạnh mẽ nhân tài; khen thưởng nhiều nhưng kỷ luật không nghiêm. Về lợi ích vật chất của cán bộ công chức (nhà cửa, đất đai, phương tiện làm việc...) không có sự thực hiện trên thực tế một cách bình đẳng giữa các CQNN với nhau. Cơ quan nào có thế lực, quan hệ tốt thì xin được nhiều đất đai chia cho cán bộ công chức, cơ quan nào yếu thế thì cán bộ, công chức thua thiệt. Về lương bổng chưa có sự cân đối hợp lý, bình đẳng giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan hành chính sự nghiệp có thu, giữa công chức với người làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước;

- Tư duy bao cấp và đẳng cấp còn tồn tại trong pháp luật về chế độ chính sách đối với cán bộ công chức, cùng với việc quy định thiếu minh bạch, rõ ràng và tổ chức thực hiện pháp luật không nghiêm nên tình trạng lãng phí trong tổ chức và hoạt động của BMNN ngày một tăng, chi phí tốn kém cho hoạt động công vụ;

- Xét trong mối quan hệ giữa nhân dân và CQNN, pháp luật chưa tạo được môi trường bình đẳng, dễ dàng, thuận lợi cho người dân.

1.1.6. Đánh giá tổng quan

Từ tất cả những nhận xét đánh giá nói trên, có thể khái quát thực trạng pháp luật về tổ chức BMNN hiện nay như sau:

Một là, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi một số điều năm 2001) đã thể chế hoá một số quan điểm đường lối của Đảng ta về xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân, nhưng những tư tưởng đó chưa được nhận thức đầy đủ, thống nhất và thể hiện nhất quán trong Hiến pháp. Những quy định thiếu nhất quán đó đang đòi hỏi phải sửa đổi Hiến pháp để mở đường cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN. Có như vậy cải cách lập pháp, hành pháp và tư pháp mới tiến hành đồng bộ, thống nhất.

Hai là, pháp luật về tổ chức BMNN trong bản thân nó còn có những “mảng trống”. Đó là “mảng trống” pháp luật về kiểm soát QLNN bên trong tổ chức bộ máy giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Lập pháp chưa có cơ chế kiểm soát hoạt động của mình; hành pháp chưa tự kiểm soát được lẫn nhau; tư pháp chưa kiểm soát được tính hợp hiến của các đạo luật, tính hợp pháp của các văn bản  pháp quy của Chính phủ. Đồng thời, pháp luật cũng chưa tạo ra được cơ chế hữu hiệu để Đảng và nhân dân kiểm soát QLNN. Do đó phải sớm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát QLNN nhằm phòng chống có hiệu quả hơn sự tha hoá của QLNN. Thiết chế Toà án Bảo hiến cần sớm ra đời.

Cùng với “mảng trống” nói trên, các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ chưa được cụ thể hoá trong các đạo luật, nhất là trong các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể như đất đai, xây dựng, ngân hàng, tiền tệ… Vì thế đòi hỏi phải cụ thể hoá hơn nữa nhiệm vụ quyền hạn của các CQNN, nhất là giữa lập pháp và hành pháp trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhằm tạo lập sự đồng bộ và thống nhất giữa pháp luật về tổ chức BMNN với pháp luật trong các lĩnh vực khác, tạo điều kiện nâng cao trách nhiệm của các nhánh QLNN trước nhân dân.

Ba là, pháp luật về tổ chức BMNN trong mối quan hệ với nhân dân - chủ thể tối cao và duy nhất của QLNN - chưa được thể chế đầy đủ, còn mang tính hình thức trong tổ chức thực hiện. Vì thế sức mạnh của BMNN không được tăng cường tương xứng so với đòi hỏi. Nhân dân còn tham gia một cách hình thức vào các hoạt động quản lý nhà nước, nhất là vào cuộc đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng trong BMNN. Cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bị Nhà nước, các nhân viên nhà nước có thẩm quyền xâm hại đến còn chưa bình đẳng, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân. Lòng dân chưa thật sự tin tưởng đối với các quyết định áp dụng pháp luật khi có quan hệ với CQNN, nhất là các quyết định, các bản án  của các cấp Tòa án. Điều đó đòi hỏi pháp luật về tổ chức BMNN cần phải quan tâm hơn nữa đến việc thể chế mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân; phải đề cao chủ thể là nhân dân trong tổ chức và hoạt động của BMNN. Theo đó, cần sớm xây dựng Luật Tham vấn và phản biện xã hội; Luật Trưng cầu dân ý.

Bốn là, pháp luật về tổ chức BMNN còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư duy bao cấp và đẳng cấp. Một mặt, hoạt động lập pháp và lập quy - do vô tình hay hữu ý - đã làm “phình” thêm ra con người và bộ máy, và mặt khác, tình trạng thích chức tước, cấp bậc, bằng cấp, bổng lộc làm cho BMNN chẳng những không tinh gọn mà còn có xu hướng phát triển vì lợi ích cục bộ cho bản thân Nhà nước. Tình trạng tham ô, lãng phí còn trầm trọng, nhưng chưa xây dựng được cơ chế pháp lý hữu hiệu để đấu tranh phòng chống có hiệu quả. Luật Phòng, chống tham nhũng giao trách nhiệm chính cho người đứng đầu cơ quan hành pháp các cấp chỉ có hiệu quả trong việc giúp cho thủ trưởng thực hành chức năng quản lý nhà nước hơn là để đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã tỏ ra kém hiệu lực và hiệu quả, cần phải được sửa đổi bổ sung trong thời gian tới.

Năm là, phân công và phối hợp QLNN giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và giữa QLNN ở trung ương và QLNN ở địa phương là một nội dung quan trọng của pháp luật về tổ chức BMNN. Mặc dầu đã có những nhận thức mới, nhưng việc phân quyền mà nội dung cơ bản của nó là phân định nhiệm vụ và quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như giữa QLNN ở trung ương và QLNN ở địa phương chưa phù hợp và hợp lý. Cần phải tiến hành phân định lại nhiệm vụ, quyền hạn giữa ba quyền và trong nội bộ của từng quyền để vừa phát huy trách nhiệm, lại vừa tạo điều kiện năng động sáng tạo trong việc thực thi QLNN được nhân dân giao cho mỗi quyền. Đồng thời phải đầu tư công sức nhiều hơn cho việc xây dựng pháp luật về chính quyền địa phương, đặc biệt là phải chuyển việc phân cấp giữa QLNN ở trung ương và QLNN ở địa phương bằng hoạt động lập quy của Chính phủ như hiện nay thành phân quyền bằng hoạt động lập pháp của Quốc hội. Chỉ trên cơ sở phân công QLNN một cách đúng đắn, hợp lý mới có sự phối hợp nhịp nhàng trong tổ chức và hoạt động của BMNN.

Sáu là, pháp luật về chế độ chính sách đối với cán bộ công chức còn thiếu minh bạch, rõ ràng, chủ yếu được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật dưới luật. Tư duy pháp lý còn bao cấp và đẳng cấp, chưa có chính sách cụ thể khuyết khích người tài; chưa có cơ chế hữu hiệu bảo vệ cán bộ, công chức đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng trong BMNN. Quyền lợi của cán bộ công chức còn có sự không bình đẳng, thiếu thống nhất, còn có sự chênh lệch giữa các CQNN khác nhau, giữa CQNN và doanh nghiệp nhà nước, nhưng pháp luật “thả nổi” mặc cho việc lợi dụng danh nghĩa cơ quan để cá nhân chạy chọt, xin xỏ vì lợi ích cục bộ. Vì thế, hoàn thiện pháp luật về chế độ chính sách đối với cán bộ công chức một cách minh bạch, thống nhất và tổ chức thực hiện một cách nghiêm chỉnh pháp luật đó, là nhu cầu cấp bách của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN ở nước ta hiện nay.

1.2. Thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân

Pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền tự do dân chủ (TDDC) của công dân có quan hệ mật thiết với pháp luật về tổ chức BMNN. Vì thế, trong phần đánh giá thực trạng pháp luật về tổ chức BMNN cũng đã đề cập tới thực trạng pháp luật về quyền con người, quyền TDDC của công dân. Tuy nhiên, với tư cách là một định hướng có tính độc lập tương đối trong nội dung của chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật mà Nghị quyết số 48 đã đề ra, có thể đánh giá thực trạng pháp luật đảm bảo quyền con người, quyền TDDC của công dân ở nước ta hiện nay như sau:

Một là, thực hiện yêu cầu của Nghị quyết 48 “xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực hiện các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân…”, nhiều giá trị tiến bộ của nhân loại về quyền con người trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội quy định trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên đã được thừa nhận và từng bước được nội luật hoá. Lần đầu tiên trong Hiến pháp nước ta đã thừa nhận thuật ngữ quyền con người; bỏ hình phạt tử hình đối với nhiều tội trong Bộ luật Hình sự; vai trò của luật sư, của tranh tụng được ghi nhận trong các bộ luật tố tụng và từng bước được thực thi trong đời sống. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước lần đầu tiên ra đời ở nước ta… Đó là những tư duy pháp lý mới về quyền con người, quyền công dân ngày càng được khẳng định và ghi nhận trong hệ thống pháp luật và trong thực tiễn ở nước ta thời gian qua.

Hai là, tuy nhiên, đối chiếu với đòi hỏi của Nghị quyết 48, pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền TDDC của công dân ở nước ta vẫn còn một số hạn chế sau đây:

- Pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền TDDC của công dân chưa thể chế hết các quyền mà Hiến pháp đã quy định. Vì vậy, một số quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định nhưng chưa có luật cụ thể hoá để công dân thực hiện như Luật Biểu tình, Luật về Quyền lập hội, Luật về Quyền được thông tin, Luật về Quyền được bí mật đời tư…

- Pháp luật về chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, nhất là bảo hộ các quyền của công dân trước các cơ quan tư pháp nói riêng, chưa được đảm bảo. Người dân chưa thật sự tin tưởng vào các bản án của Toà án. Tình trạng “chạy án” ở các cấp Toà án vẫn thường xảy ra. Cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân chưa đi tới cùng. Công dân chưa có quyền yêu cầu xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật được các CQNN có thẩm quyền áp dụng đối với mình;

- Cơ chế xem xét và xử lý các vi phạm pháp luật từ phía Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân chưa thật sự bình đẳng. Công dân vẫn còn thiệt thòi trong mối quan hệ với Nhà nước khi bị CQNN, nhân viên CQNN có thẩm quyền xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được ban hành, nhưng còn rất khó khăn khi thực hiện trong thực tế. Pháp luật về chế độ trách nhiệm của CQNN và người có thẩm quyền trong thi hành công vụ đối với người dân chưa đầy đủ và được thực thi tốt trong cuộc sống. Chưa có cơ chế bảo vệ công dân một cách có hiệu quả trong việc thực hiện quyền tố cáo, nhất là tố cáo người có chức vụ, quyền hạn tham nhũng, tiêu cực.

- Pháp luật về các hình thức dân chủ trực tiếp còn chậm được thể chế và còn mang tính hình thức. Nhân dân tham gia trực tiếp vào các công việc nhà nước còn rất hạn chế và chưa thực chất. Luật Trưng cầu dân ý, Luật Tham vấn và phản biện xã hội là những đạo luật tạo điều  kiện cho nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước một cách trực tiếp, đến nay chưa có.

- Pháp luật hiện hành về đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự, nhất là các quy định về giam giữ, điều tra, cải tạo, truy tố, xét xử… chưa thực sự phù hợp với các chuẩn mực quốc tế trong quản lý tư pháp. Tình trạng luật sư chưa được tham gia ngay từ giai đoạn khởi tố bị can, gia hạn tạm giam nhiều lần - kéo dài hàng năm, thậm chí nhiều năm - trong quá trình điều tra… là những biểu hiện vi phạm trong quản lý nhà nước về tư pháp hình sự, không phù hợp với tập quán và thông lệ quốc tế. Vì thế, cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự.

- Pháp luật bảo vệ quyền của những người chuyển đổi giới tính, lưỡng tính, người đồng tính; bảo hộ nhà nước đối với công dân Việt Nam đi lao động ở nước ngoài… chưa được quan tâm xây dựng.

- QLNN thuộc về nhân dân, nhưng luật về giám sát nhân dân đối với CQNN chưa được coi trọng xây dựng và hoàn thiện. Thanh tra nhân dân - một hình thức giám sát của nhân dân - nhưng quy định của pháp luật về hoạt động này còn đơn giản, chưa đầy đủ, chưa đủ sức để quyền giám sát nhà nước của nhân dân được thực hiện có hiệu quả. Cơ chế bảo vệ quyền của người tiêu dùng chưa được đảm bảo.

- So với hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật thì việc tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người, quyền TDDC của công dân có phần bất cập hơn. Từ cơ sở vật chất đến ý thức và văn hoá pháp lý - các nhân tố để đảm bảo việc sử dụng các quyền con người của công dân nước ta - còn thấp. Để các quyền con người, quyền TDDC của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật trở thành hiện thực, cần tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật.  

- Pháp luật về quyền con người, quyền TDDC của công dân, cũng như việc tổ chức thực hiện pháp luật chưa được thúc đẩy và đảm bảo hài hoà giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về quyền con người; chưa tạo điều kiện cho nghiên cứu và giáo dục công dân về các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Xét về kỹ thuật lập pháp, pháp luật về quyền con người, quyền TDDC của công dân, nhất là trong các đạo luật, còn mang nặng tính nguyên tắc, không cụ thể nên không trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội mà thường phải thông qua các văn bản dưới luật hướng dẫn, cụ thể hoá. Cách làm đó không những gây khó khăn cho việc thực hiện mà nhiều khi không phù hợp với nội dung và tinh thần của quyền được ghi nhận trong luật.

- Các quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, người già, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người tỵ nạn… chưa được chú ý lồng ghép trong xây dựng pháp luật. Các thiết chế nhà nước về tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước đối với quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương còn phân tán, thiếu chuyên trách, chuyên nghiệp và chưa phù hợp với các khuyến nghị của các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc thừa nhận.

Tóm lại, tuy đã thừa nhận và thể chế thành pháp luật nhiều giá trị mới, nhưng pháp luật về quyền con người, quyền TDDC của công dân cũng còn những “mảng trống”, chưa bao quát hết thảy các lĩnh vực, các loại chủ thể, các hình thức và phương tiện thực hiện các quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp và cuộc sống đòi hỏi. Do đó, trong thực tế ở một số lĩnh vực quyền con người, quyền công dân được thực hiện còn hình thức, chưa đảm bảo để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách hữu hiệu trong mối quan hệ với Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp hình sự.

2. Nhu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN và pháp luật về quyền con người trong thời gian tới

2.1. Nhu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN

Xuất phát từ thực trạng pháp luật hiện hành và nội dung chỉ đạo của Nghị quyết 48 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN trong thời gian tới được xác định như sau:

- Tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn đường lối của Đảng thể hiện trong các Nghị quyết, đặc biệt là Cương lĩnh được bổ sung hoàn thiện sau Đại hội XI của Đảng về xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân ở nước ta. Trong đó, cần tập trung làm rõ và sâu sắc hơn nguyên tắc QLNN là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát QLNN trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chỉ trên cơ sở có sự thống nhất về nhận thức lý luận và quan điểm về xây dựng nhà nước mới có hành động mạnh mẽ, nhất quán và thống nhất trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN. Trên cơ sở đó, trước hết tập trung sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chế định Hiến pháp về tổ chức BMNN. Như đã nói, có nhiều quy định của Hiến pháp về tổ chức BMNN chưa phù hợp với đường lối xây dựng NNPQ XHCN của Đảng, còn chịu ảnh hưởng và còn luyến tiếc với mô hình kế hoạch hoá quan liêu bao cấp, cản trở việc xây dựng nhà nước theo tư duy mới. Do đó việc sửa đổi Hiến pháp về tổ chức BMNN là một đòi hỏi khách quan. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp về tổ chức BMNN, cần tập trung vào hai nội dung cơ bản:

+ Xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức lập pháp, hành pháp, tư pháp và mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo đường lối xây dựng NNPQ XHCN. Những thiết chế hiện có nếu không phù hợp với tư duy mới về xây dựng NNPQ XHCN thì không nên luyến tiếc, níu kéo tìm cách giữ lại;

+ Dựa trên nguyên tắc QLNN là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát QLNN trong việc thực hiện ba quyền, cần rà soát và xác định đúng đắn, phù hợp nhiệm vụ và quyền hạn của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Việc xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức cũng như xác định nhiệm vụ quyền hạn của các thiết chế về tổ chức BMNN trong Hiến pháp cần quy định dưới dạng nguyên tắc, quan điểm chung, tránh quy định quá cụ thể dễ bị lạc hậu so với sự vận động và phát triển của xã hội, gây khó khăn cho việc đổi mới  tổ chức BMNN khi cần thiết và thực hiện pháp luật. Phần lớn các quy định Hiến pháp về tổ chức QLNN, theo kinh nghiệm của nhiều nước, tinh thần và nội dung của nó còn được CQNN có thẩm quyền thông qua hoạt động giải thích Hiến pháp làm rõ, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn trong từng thời kỳ.

- Dựa trên việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Hiến pháp về tổ chức BMNN, phải tiến hành xây dựng Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân. Việc sửa đổi các luật này là bước cụ thể hoá Hiến pháp đã được sửa đổi bổ sung; đảm bảo sự thống nhất của pháp luật về tổ chức BMNN, nhằm xây dựng các thiết chế nhà nước ổn định, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới và xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta. Các luật về tổ chức cần tập trung làm rõ chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi cơ quan phù hợp với vị trí, vai trò và tính chất của mỗi quyền được xác định trong Hiến pháp. Đối với Luật Tổ chức Quốc hội, cần rà soát loại bỏ một số quyền hạn nhiệm vụ không phù hợp, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, quyết định theo đa số, không chia thành nhiều tầng nấc, hành chính hoá bộ máy Quốc hội. Đối với hành pháp, cần xác định rõ Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất và nhấn mạnh chức năng hoạch định chính sách, đề cao trách nhiệm cá nhân trong tổ chức và hoạt động. Đối với tư pháp, cần nghiêm túc thực hiện một số tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp… Đối với chính quyền địa phương, cần xác định rõ ràng mô hình tổ chức ổn định, chuyển phân cấp thành phân công và phối hợp QLNN giữa trung ương và địa phương.

- Kiểm soát QLNN là một đòi hỏi của việc xây dựng NNPQ nói chung, NNPQ XHCN nói riêng. Như đã nói, ở nước ta pháp luật về kiểm soát QLNN trong tổ chức BMNN chưa được coi trọng, còn là một mảng trống chưa có pháp luật điều chỉnh. Bên trong tổ chức QLNN, các nhánh quyền lực chưa kiểm soát được chính mình và kiểm soát lẫn nhau một cách hữu hiệu. Bên ngoài nhân dân là chủ thể tối cao của QLNN cũng chưa kiểm soát được QLNN do mình uỷ quyền giao quyền. Vì thế tình trạng tha hoá QLNN ngày càng trở nên nhức nhối, lòng dân không yên. Theo đó, trong thời gian tới cần xây dựng Luật về Cơ quan bảo hiến độc lập; Luật về Quyền tiếp cận thông tin, Luật về Phản biện xã hội và tham vấn nhân dân, Luật Thanh tra nhân dân, bổ sung hoàn thiện các luật hiện có về giám sát của Quốc hội, Luật Thanh tra; Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Báo chí…

- Dân chủ hoá tổ chức và hoạt động của BMNN cũng là một đòi hỏi bức thiết trong xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta. Một mặt, cần phải công khai, minh bạch hơn nữa tổ chức và hoạt động của BMNN, nhất là quan hệ giữa những người có chức vụ quyền hạn với các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế bằng việc nghiên cứu xây dựng Luật về Công khai minh bạch hoạt động của CQNN và người có thẩm quyền. Mặc khác, để nhân dân trực tiếp tham gia vào đời sống nhà nước ngày càng đông đảo và thực chất, cần xây dựng Luật Trưng cầu dân ý, Luật Tham vấn và phản biện xã hội; Luật Bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng tiêu cực trong BMNN; Luật Giám sát của nhân dân. Tiếp tục hoàn thiện các luật hiện có như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Khiếu nại, tố cáo…

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quy trình thủ tục tổ chức và hoạt động của BMNN theo hướng nâng cao hơn nữa trách nhiệm của CQNN, nhân viên CQNN trong hoạt động công vụ và trong mối quan hệ với nhân dân. Theo đó, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các luật về thủ tục lập pháp, luật về thủ tục hoạt động giám sát và luật về thủ tục quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; hoàn thiện và cải cách đồng bộ, mạnh mẽ hơn nữa về thể chế và thủ tục hành chính; xây dựng và hoàn thiện các thủ tục tư pháp theo hướng vì con người, cho con người, nhất là trong lĩnh vực tư pháp hình sự.

- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN đòi hỏi bộ máy phải tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, chi phí thấp. Vì thế, một mặt phải hoàn thiện pháp luật về công chức, công vụ, tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ theo hướng đề cao tài năng và trách nhiệm. Mặt khác, khi xây dựng luật về tổ chức bộ máy cũng như các luật có liên quan phải tính toán đến chi phí bỏ ra để thực thi luật; kiên quyết không “đẻ ra” bộ máy và con người trong hoạt động lập pháp và lập quy. Chế độ chính sách đối với cán bộ công chức cũng là một lĩnh vực cần phải được quan tâm trong xây dựng pháp luật về tổ chức BMNN trong thời gian tới. Vì thế cần rà soát chế độ chính sách hiện có, xây dựng bộ luật về các chế độ chính sách đối với cán bộ công chức nhằm tạo lập các nguyên tắc, các khung pháp lý bình đẳng, công khai, minh bạch phòng chống được tiêu cực, tham nhũng trong việc thực thi chế độ chính sách đối với cán bộ công chức.

2.2. Nhu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người và quyền tự do dân chủ của công dân

Xuất phát từ thực trạng pháp luật hiện hành về quyền con người và quyền TDDC của công dân; nhu cầu xây dựng pháp luật về lĩnh vực này trong thời gian tới, cần được định hướng như sau:

- Theo định hướng xây dựng NNPQ XHCN trong điều kiện kinh tế thị trường nhiều thành phần, mở cửa và hội nhập, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền TDDC của công dân, trước hết cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân. Đây là mối quan hệ cơ bản xuyên suốt việc xây dựng hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn. Người dân có quyền con người, quyền công dân hay không, có nhiều hay ít, có thực chất hay có hình thức, chủ yếu dựa vào việc giải quyết quan hệ này về phương diện pháp lý. Vì thế, nhu cầu đầu tiên của hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền TDDC của công dân là phải tiếp tục cụ thể hoá các quyền hiến định. Theo đó, một mặt phải sớm ban hành các luật về quyền tự do lập hội, quyền tự do hội họp, luật biểu tình, luật tiếp cận thông tin, luật trưng cầu dân ý… Mặt khác, phải nâng các pháp lệnh như Pháp lệnh về dân chủ cơ sở, Pháp lệnh về tôn giáo tín ngưỡng, Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính... lên thành luật. Đồng thời phải hoàn thiện các luật hiện có theo hướng đề cao trách nhiệm của CQNN và người có thẩm quyền trong việc đảm bảo cho công dân thực hiện các quyền của mình trong mối quan hệ với Nhà nước một cách dễ dàng, thuận lợi, tin tưởng. Theo đó phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng, đặc biệt là tố tụng hình sự và thi hành án.

- Pháp luật về quyền con người, quyền công dân ở nước ta chưa bao quát và phân biệt hết các loại chủ thể được hưởng quyền theo các thuộc tính tự nhiên và thuộc tính xã hội. Trong điều kiện mới, quyền con người, quyền công dân muốn được thực thi có hiệu quả trên thực tế, pháp luật phải chú ý phân loại các nhóm người khác nhau được hưởng các quyền và điều kiện đảm bảo thực hiện các quyền có sự khác nhau. Theo hướng đó, cần xây dựng luật về những người tàn tật, luật bảo hộ quyền của những người chuyển đổi giới tính, đồng tính, lưỡng tính; luật bảo hộ đối với công dân Việt Nam đi xuất khẩu lao động… Đồng thời hoàn thiện các pháp luật hiện có như Luật Phòng, chống bạo hành trong gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Bảo vệ trẻ em…

- Quyền con người, quyền công dân không chỉ được thực hiện bằng việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật mà còn phải được tổ chức thực hiện pháp luật trên thực tế. Vì thế, tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý về quyền và nghĩa vụ của công dân là một định huớng quan trọng cùng với xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

- Pháp luật về quyền con người, quyền TDDC của công dân cũng như việc tổ chức thực hiện pháp luật cần phải thúc đẩy và đảm bảo hài hoà giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về quyền con người mà Nhà nước ta đã phê chuẩn hoặc thừa nhận.

5. Quyền con người, quyền TDDC của công dân cần được quy định trong các đạo luật có nội dung điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội, hạn chế việc hướng dẫn và cụ thể hoá trong các văn bản quy phạm dưới luật.

3. Danh mục các dự án luật cần xây dựng hoàn thiện và bổ sung trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII về tổ chức BMNN và quyền con người

Về tổ chức BMNN:

1. Sửa đổi, bổ sung một cách căn bản Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi một số điều năm 2001) theo tư tưởng chỉ đạo của Cuơng lĩnh mới về xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta.

2. Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân theo nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi.

3. Xây dựng và hoàn thiện các đạo luật về kiểm soát QLNN: Luật về Cơ quan bảo hiến độc lập (Toà án Hiến pháp), Luật về Quyền tiếp cận thông tin; bổ sung hoàn thiện các luật hiện có: Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật Thanh tra Chính phủ; Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Báo chí.

4. Xây dựng và hoàn thiện các luật về dân chủ hoá BMNN: Luật về Công khai minh bạch tổ chức và hoạt động của Nhà nước; Luật Trưng cầu dân ý; Luật Bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng tiêu cực trong BMNN; Luật Tố cáo; Luật Phản biện xã hội và tham vấn nhân dân.

5. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quy trình thủ tục tổ chức và hoạt động của BMNN: Xây dựng Luật về Quy trình lập hiến, Luật về Quy trình quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước; sửa đổi, bổ sung các luật về tố tụng tư pháp (các Bộ luật Tố tụng hình sự, Tố tụng Dân sự, lao động, hành chính).

6. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công chức, công vụ, chế độ chính sách đối với công chức: Xây dựng Bộ luật về Chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức…

Về quyền con người, quyền TDDC của công dân:

1. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật thể hoá các quyền hiến định: Xây dựng Luật về Quyền lập hội, Luật Biểu tình, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trưng cầu dân ý. Hoàn thiện các luật về tố tụng.

2. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đối với những nhóm người dễ bị tổn thương: Xây dựng Luật về những người khuyết tật; Luật Bảo hộ quyền của những người chuyển đối giới tính, đồng tính, lưỡng tính; Luật Bảo hộ đối với công dân Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực trong gia đình; Luật Bảo vệ người tiêu dùng.

 

 

GS,TS. Trần Ngọc Đường - Viện Nghiên cứu Lập pháp, UBTVQH.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Nước và Nhà nước trong Hiến pháp Việt Nam (23/12/2013)
Cần thành lập Uỷ ban dân nguyện của Quốc hội (08/03/2013)
Vấn đề kiểm soát quyền lực trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (05/02/2013)
Về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội (31/01/2013)
Nhận thức và thực hiện dân chủ trong nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay (08/01/2013)
Sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11: Một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội hiện nay (08/01/2013)
Mặt trận Tổ quốc trong vai trò phản biện và giám sát hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước (20/12/2012)
Sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11: Một số vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội hiện nay (08/01/2013)
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân