Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 23/10/2018, 06:17(GMT+7)
 
Lịch sử nhà nước và pháp luật

Hoạt động của Tam pháp ty triều Nguyễn (1802 - 1885) và một vài nhận định

Trong thời kỳ độc lập, tự chủ dưới thời trị vì của bốn vị vua là Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, triều Nguyễn đã dày công xây dựng một bộ máy hành chính khá hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Trong quá trình vận hành, bộ máy đó đã có những đóng góp lớn cho sự phát triển của đất nước. Để có được thành quả đó, triều Nguyễn đã có khá nhiều biện pháp, trong đó, việc xây dựng, tạo cơ chế hoạt động và vận hành tổ chức hành pháp và tư pháp là một trong những yếu tố hàng đầu. Bài viết dựng lại phần nào hoạt động của Ty Tam pháp của triều Nguyễn trong giai đoạn 1802 - 1885, rút ra một số yếu tố tích cực của triều Nguyễn trong việc xây dựng và tạo cơ chế cho hoạt động tư pháp và hành pháp nói chung.

1. Khái quát về Tam pháp ty dưới Triều Nguyễn

Năm 1832, vua Minh Mạng cho rằng, mỗi khi triều đình đang bàn việc ở Tả triều đường mà bộ Hình trừng phạt những người can phạm và dân đến kiện cáo nộp đơn là “hỗn tạp” nên đã cho lấy “Hình bộ, Đô sát viện và Đại lý tự” hợp thành Tam pháp ty[1]. Văn phòng được đặt ở góc phía Đông Nam trong Kinh thành, với kiến trúc một toà ba gian, hai chái, mặt tả mặt hữu và đằng sau đều xây tường xung quanh, có tấm biển đề Công chính đường, đằng trước về bên tả, treo một cái trống gọi là trống Đăng văn[2], đúc ấn bằng bạc khắc bốn chữ triện Tam pháp ty ấn, dấu kiềm bằng ngà khắc ba chữ triện Tam pháp ty giao bộ Hình giữ, còn viện Đô sát và Đại lý tự thì cùng nhau niêm phong mỗi khi có đơn kiện hay hình án[3].

Về quy trình nhận đơn, vào các ngày mồng 6, 16 và 26 hàng tháng, Ty Tam pháp cử các thuộc viên của mình lên Công chính đường ngồi theo trật tự: bộ Hình ở giữa, bên tả là Đô sát viện, bên hữu là Đại lý tự, trực nhận đơn của dân chúng. Ngoài ba ngày trên, hàng ngày, bộ Hình, viện Đô sát và Đại lý tự, mỗi cơ quan cử một thuộc viên thay phiên thường trực để nhận đơn. Việc xử lý đơn cũng theo trình tự như quy định trên. Tuy nhiên, đối với với những đơn “xét ra là vu cáo càn bậy thì tới kỳ đợi chỉ sẽ xử trị nghiêm ngặt”[4]. Thần dân ở trong kinh và các tỉnh ai có oan khuất thì đưa đơn đến kêu. Đơn phải có một bản chính và một bản phụ, “duy khi tố cáo bí mật về việc phản nghịch quan trọng và những việc có quan hệ đến lợi hại lớn thì mới cho làm một bản tấu phong kín lại”. Sau khi nhận được đơn, Tam pháp hội đồng để thống nhất nghị xử “rồi hội hàm làm thành tập tấu dâng lên” vua[5]. Khi được chỉ của vua, đơn nào liên quan đến bộ, nha nào thì gửi cho bộ, nha ấy làm theo. Khi tiếp được tờ tâu phong kín, thì lập tức dâng trình, không được tự tiện phát đi.

Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có thể đánh trống kêu oan. Thậm chí, việc kêu oan không thật sự khẩn thiết “thì việc dẫu có thực, cũng phải đóng gông 10 ngày để ở ngoài sân nhà Công chính đường, khi mãn hạn lại đánh ngay 100 trượng; nếu có vu cáo tức thì chiếu theo tội kiện vu cáo mà bắt chịu tội”. Kể cả những người xúi giục cũng bị phạt[6]. Chẳng hạn, năm 1834, sản vật của dân phủ Thừa Thiên bị Phủ doãn Trần Tú Dĩnh đánh giá rẻ mạt, dân đã kiện và bị Phủ doãn đánh đòn, nên đến đánh trống Đăng văn đã bị vua cho là “Đặt ra trống Đăng văn cốt để những người không có chỗ kêu được thân oan, thế mà từ trước đến nay, những kẻ đến kêu chỉ là những việc nhỏ nhặt trong làng xóm”. Bèn sai Tam pháp ty tra xét, xử Trần Tú Dĩnh bị cách lưu vì đã đánh giá rẻ sản vật của dân, để dân đến “đi kiện nhảm”. Người dân đánh trống để kêu, bị phạt 100 roi.

Không chỉ có trách nhiệm trong việc nhận đơn kêu oan của dân chúng, Tam Pháp ty còn có một nhiệm vụ nặng nề hơn nữa là xét hình ngục. Năm 1832, sau khi cho lập Viện Đô sát, vua Minh Mạng đã quy định trách nhiệm của Viện Đô sát là: phàm án kiện thì cùng “hội đồng với Hình bộ và Đại lý tự xét làm”[7]. Hay có lần vua Minh Mạng dụ cho Nội các được ghi lại trong Châu bản: “cho Tam Pháp ty xét hình ngục cho nhanh chóng”[8].

Lại nữa, từ nay phàm việc án nào nên do triều đình xét hỏi, thì đình thần tới nhà Công chính đường ấy hội lại xét hỏi. Án nào bị xử phạt roi, phạt trượng ngay thì Ty Tam pháp cũng thi hành ngay sự trừng phạt ở nhà Công chính đường ấy. Ngoài ra, những người ốm già đã về hưu trước đây phải đến kêu ở triều đình, nay xin đều do viên quan coi quản xét thực tâu thay. Duy những người không ở dưới một thống thuộc nào thì cho phép hàng văn do bộ Lại, hàng võ do bộ Binh trình đơn kêu để xét định, như thế thì then chốt được kín đáo, phép tắc được nghiêm minh mà triều đình được tôn trọng[9].

Năm 1847, vua Thiệu Trị đã cho định lại và cụ thể hóa điều lệ của Ty Tam pháp, nhưng về cơ bản vẫn kế thừa quy định dưới thời vua Minh Mạng. Đến năm 1880, vua Tự Đức tiếp tục cho chuẩn định thêm đối với những hình án cần xét xử lại, trong đó quy định: “phàm quân, dân thuộc… nếu có việc gì phải cần xét xử lại, trước hết phải qua ty cai quản của mình (như là quan, thì trước hết phải qua thượng ty; là quân thì trước hết phải qua quản suất, là dân thì trước hết phải qua phủ, huyện, châu)”, nếu ty cai quản trực tiếp “không nhận xét, hoặc xét xử không minh, mới được đến kiện ở thượng ty và Ty Tam pháp”. Nếu “trái chế thư”, không cứ việc kiện đúng hay sai đều chiểu theo luật xử phạt 100 trượng[10].

Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ vào tay thực dân Pháp, Tam pháp ty và trống Đăng văn đều bị thực dân Pháp không cho tồn tại và thực hiện chức năng như trước đây nữa. Về sau, vua Thành Thái muốn phục hồi một truyền thống tốt đẹp của các tiên đế, Ty Tam pháp và trống Đăng văn có dịp tái xuất hiện vào năm 1901, nhưng đến năm 1906 lại phải dẹp bỏ vì công dụng ngày xưa không còn hiệu lực gì nữa[11].

2. Hoạt động và những đóng góp của Tam pháp ty

Quyền xét xử của Ty Tam pháp là rất lớn. Tất cả quan lại không từ một ai - từ quan trong kinh lẫn ngoài tỉnh - nếu có phạm tội, kể cả quan đại thần hoặc thuộc liêu, đồng nghiệp của mình đều bị cơ quan này xem xét, trị tội theo pháp định của triều đình. Năm 1845, quyền Hình khoa Chưởng ấn Cấp sự trung Trình Nho trước đây được phái đi thanh tra tỉnh Nghệ An đã nhận bừa đơn kiện của dân và trỏ hặc Tri huyện Hương Sơn là Hồ Mậu Đức nhận của đút lót. Tuy nhiên, khi vua Thiệu Trị giao cho quan tỉnh Hà Tĩnh xét, thì không có sự thực mà nguyên nhân là Trình Nho ngầm nhận của lót. Vua bảo rằng: "Đài ngự sử, quan hệ đến phong hóa và pháp độ, tất phải tự mình giữ cho thanh bạch, mới có thể trị được tội lỗi của người; nếu bề ngoài làm ra cái tiếng bắt đánh, bên trong thi hành cái thuật nhận lễ đút lót, thân mình không chính đính thì giúp cho người khác chính đính thế nào được! Nay Nho tham tiền của người này, nêu tội lỗi của người khác, đúng như lời ấy, thì không còn gì là lương tâm nữa!". Vua liền giao ty Tam pháp hội tra, Trình Nho phải tội thắt cổ cho chết[12].

Đóng góp lớn nhất của Ty Tam pháp là thẳng tay trừng trị nhằm hạn chế tệ quan tham, nhũng nhiễu nhân dân. Chẳng hạn, năm 1844, sau khi quan khoa đạo xét thấy tơ, lụa màu... của kho Văn Ỷ bị thiếu, vua Thiệu Trị đã giao cho Ty Tam pháp tra xét. Kết quả, số hóa vật trong kho thiếu hụt trị giá tiền đến 10.583 quan, bạc đến 522 lạng, triều đình đã buộc các chủ thủ phải chia nhau đền đủ số thâm hụt trên[13]. Hoặc năm 1847, Lãnh binh Quảng Trị Hoàng Đăng Thuận, Án sát Lê Đình Khản đã thông đồng để lấy tiền đút lót của tù nhân Phan Văn Phượng nhưng không được, nên ghen ghét nhau. Việc bị phát giác, vua giao Ty Tam pháp hội đồng tra xét, Thận bị giáng ba cấp, bắt về hưu; Khản bị cách chức[14].

Một đóng góp nữa của Ty Tam pháp là góp phần ổn định xã hội. Năm 1842, trước tình hình nhân dân xã Diêm Phố tỉnh Thanh Hoá, đất ít, dân nhiều không thể đảm bảo cuộc sống, lại ở gần bờ biển thường bị thiên tai đe dọa nên đã nộp đơn cho Ty Tam pháp xin được di cư đến xã An Giáo để sinh sống. Sự thể này được thuộc quan của Ty tâu lên và vua y lời xin[15].

Ngoài ra, Ty Tam pháp còn thực hiện một số nhiệm vụ khác. Ví như năm 1836, tỉnh Quảng Ngãi đã khám bắt được thuyền buôn nhà Thanh chở lậu 65 cân thuốc phiện sống, 25 lạng thuốc phiện chín, đem về nội phủ vua Minh Mạng đã giao Tam pháp ty tiêu huỷ ngay ở Công chính đường[16]. Năm 1844, án sát tỉnh Quảng Trị là Phan Văn Nhã đã phái thự Phó vệ Hoàng Văn Lợi cho người đi hỏi mua gà, Đội trưởng Phùng Thế Hiền nói là mua cho quan, còn Cai tổng Phùng Thế Định nhân đó nói dối truyền lời chiếu sắc, mượn việc để sách nhiễu dân. Việc bị phát giác, vua giao Ty Tam pháp hội đồng tra hỏi đúng tội, đã cho Hiền phải tội phát lưu hết bậc, Lợi bị cách chức cho hiệu lực ở bộ Binh[17]. Hay năm 1847, trước tình hình một số quan và cai ngục đã có lòng tham, hòng muốn “ăn tiền” của ngục tù, triều đình đã có Tam pháp ty tra xét. Kết cục, nhiều quan và cai ngục đã bị triều đình xử phạt nặng, như Lãnh binh Quảng Trị Hoàng Đăng Thận bị giáng ba cấp, bắt về hưu, Án sát Lê Đình Khản bị cách chức... [18].

Tuy nhiên, không phải án nào do Ty Tam pháp đệ trình lên vua cùng chấp nhận. Chẳng hạn, năm 1843, Ty Tam pháp dâng bản danh sách về việc hình án các tỉnh ân xét trong năm gồm 411 người. Vua sai các quan trong triều xét lại. Kết quả cho hoãn xử tử ngay 46 án, lưu giam hậu 84 án, còn án khác đều giảm; ai phải phát vãng đi các tỉnh thì được tha[19]. Hay năm 1844, các thuộc viên của Ty Tam pháp dâng bản danh sách những vụ án xét về mùa thu gồm 463 tên tội phạm, nhưng khi vua xem và cho xét lại cho kỹ thì chỉ có 4 người thực sự phạm tội phải bị xử phạt, giảm tội phát đi hơn 230 người, những người còn lại giam giữ tiếp tục tra xét thêm[20].

Mặc dù là pháp đình tối cao của triều đình, nhưng không phải Tam pháp ty được toàn quyền trong việc xét xử mà hầu hết các hình án sau khi “pháp đình” nghị xử đều phải được vua xem xét lại. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), các thuộc quan của Tam pháp ty hội bàn đối với những đơn khống cáo liên quan đến bộ Hình thì không cần bàn xét và cho phạt kẻ nguyên khống bằng cách đánh roi. Nhưng “Vua xuống lệnh truyền chỉ nghiêm quở và sắc cho từ nay về sau, nhân dân có trần tình khống tố việc gì mà dính đến Tam pháp ty, thì cứ thực tâu lên đợi chỉ, không được vội nghị xử ngay”[21]. Đặc biệt, đối với một số án liên quan đến hoàng thân, quốc thích, sau khi bộ Hình hay Tam pháp ty “phán” đúng người đúng tội nhưng vua vẫn có những châm chước riêng. Ví như năm 1848, khi khoa đạo là Đặng Minh Trân và Lê Đức dâng sớ hặc “Đô thống phủ Đô thống lĩnh Tổng đốc Hà - Ninh là Tôn Thất Bật về các việc làm bậy khinh nhờn phép nước, xoay kiếm lợi riêng” như: “Cho binh đinh nghỉ việc, đòi lấy tiền tài, lấn át viên biền dưới quyền mình tự tiện đóng gông giam cấm, cưỡng mua con gái người ta, bắt giam dân không có tội, mua hiếp hàng hoá”. Vua bèn giao Ty Tam pháp xét hỏi, Tôn Thất Bật đáng phải tội cách chức. Nhưng vua nghĩ Bật là người trong “tôn phả, chưa nỡ đuổi bỏ”. Bèn gia ân “giáng năm cấp lưu dùng, vẫn cho làm chức Hậu quân Đô thống phủ Đô thống”. Trong khi đó, các bố chính, án sát, lãnh binh cùng thành là thuộc liêu, cấp dưới của Bật đều bị giáng phạt khá nặng[22]. Đây chính là một trong những yếu tố góp phần hạn chế sự chuyên quyền, độc đoán của “pháp đình tối cao” nhưng ngược lại, nó cho thấy quyền lực tối thượng của vua dưới chế độ quân chủ. Ngoài ra, để hạn chế sự chuyên quyền cũng như tránh sai sót trong quá trình xét xử, triều Nguyễn cũng đã giao mỗi ngày cử một viên thuộc ty đến cùng với phái viên của Ty Tam pháp phái đến ứng trực ở công đường. Hễ có ai đánh trống Đăng văn kêu việc gì, đơn kiện thì do Ty Tam pháp nhận xét, nhưng thuộc viên ứng trực cũng đăng ký ngay những đơn ấy để trình Công chính đường lưu chiểu. Nếu Tam pháp ty ỉm đi hay để chậm trễ không xét đơn thì tham hặc[23].

Bên cạnh đó, khi mà án từ quá nhiều, Ty Tam pháp không thể tra xét nổi, triều đình sẽ đặc cử một số quan khác tham gia. Tuy nhiên, những viên được cử tham gia cùng Tam pháp ty xét xử hầu hết đều là thuộc viên của những cơ quan liên quan đến hành pháp như viện Đô sát, bộ Hình… Ví như năm 1842, Ty Tam pháp tâu: từ Quảng Trị đến Hà Nội, nhân dân nộp đến 4.000 lá đơn. Vua cho là Pháp ty khó lòng làm chóng xong được, bèn cho “Đông các Đại học sĩ, lĩnh Thượng thư bộ Hình Vũ Xuân Cẩn sung chức Khâm sai đốc lý tra biện án kiện đại thần, Hữu thị lang bộ Lễ Hoàng Tế Mỹ sung chức Khâm sai phó biện đại thần, cấp cho cờ, bài; Hồng lô Tự khanh Bùi Nhật Tiến, Lễ khoa Chưởng ấn Cấp sự trung Phan Văn Xưởng, Công khoa Chưởng ấn Cấp sự trung Đặng Quốc Lương, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ Trương Hảo Hợp đều sung chức tuỳ biện”, đồng thời cho chế hai quả ấn khắc chữ “Khâm sai” tham gia cùng Tam pháp xét[24].

Phải khẳng định rằng, việc triều đình cho đặt trống Đăng văn đã góp phần cho Ty Tam pháp hoạt động có hiệu quả, nhất là việc phát giác các vụ án oan khuất của dân chúng. So với một số triều đại quân chủ Việt Nam trước đó, việc đặt trống Đăng văn của triều Nguyễn là một tiến bộ nữa trong việc góp phần làm trong sạch bộ máy cũng như trả lại sự oan khuất và bình đẳng trước pháp luật cho nhân dân. 

Trong quá trình thực thi trọng trách triều đình giao phó, một trong những vụ oan án lớn nhất mà Ty Tam pháp đã minh oan được là vụ án của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Đó là khi Bùi Hữu Nghĩa làm Tri phủ Trà Vang (Long Hồ), ông đã không ngần ngại đứng về phía dân chài địa phương, bênh vực những người bị các quan lại ức hiếp và nhũng lạm quyền thế. Hành động cương trực của ông bị các đồng liêu ganh ghét và tìm cách hãm hại. Triều đình chưa rõ hư thực, nhưng nghe lời Tổng đốc Vĩnh Long nói Bùi Hữu Nghĩa xúi dân làm loạn, nên đã cách chức Tri phủ Trà Vang. Bùi Hữu Nghĩa bị bắt giải về kinh và chờ ngày thọ án tử hình. Đứng trước tình cảnh đó, vợ ông là bà Nguyễn Thị Tôn đã thực hiện một nghĩa vụ công dân rất đỗi can trường và nguy hiểm. Bà đã bất chấp mọi khó khăn, ròng rã cả tháng trời vượt biển với chiếc ghe bầu ra tận kinh đô Phú Xuân để gióng lên ba hồi trống Đăng văn, quyết minh oan giải cứu cho chồng khỏi bản án tử hình. Sự việc được Ty Tam pháp điều tra và kết quả không phải như hình án, nên vua Minh Mạng đã cho Bùi Hữu Nghĩa thoát khỏi án tử hình. Bà Từ Dũ (Hoàng Thái hậu của vua Tự Đức) biết tin bèn ban tặng Nguyễn Thị Tôn một tấm biển chạm nổi bốn chữ vàng “Liệt Phụ Khả Gia”[25].

3. Một vài nhận định và kết luận

Nghiên cứu về Tam pháp ty - cơ quan tư pháp tối cao (pháp đình) của triều Nguyễn (1802-1885), chúng ta có thể thấy việc xây dựng và vận hành tổ chức này có một số yếu tố tích cực như sau:

Một là, triều Nguyễn đã có những tiến bộ lớn trong việc xây dựng bộ máy hành pháp, nhất là hình pháp. Cụ thể, triều Nguyễn đã thành lập Tam pháp ty - cơ quan tư pháp tối cao (pháp đình)[26] của triều đình. Mặc dầu là pháp đình tối cao nhưng quyền hành của Ty Tam pháp không phải là “bất khả xâm phạm” mà đối với những hình án có ảnh hưởng lớn đến nhân mạng và kinh tế thì phải có sự kiểm xét của vua. Đây chính là một trong những yếu tố hạn chế sự chuyên quyền của Tam pháp ty, nhưng nó cũng cho chúng ta thấy quyền “tối thượng” của nhà vua dưới chế độ quân chủ.

Hai là, mặc dù quyền hành, trọng trách và khối lượng công việc rất lớn nhưng các thuộc viên của Ty Tam pháp không phải là chuyên trách, mà hầu hết các thuộc viên của cơ quan này đều kiêm nhiệm và được “hợp nhất” từ viện Đô sát, Đại lý tự và bộ Hình. Đây cũng là một tiến bộ nữa của triều Nguyễn trong việc xây dựng bộ máy cũng như “dụng người”. Bởi, việc sử dụng thuộc viên của viện Đô sát, Đại lý tự và bộ Hình đảm đương thêm công việc của Tam pháp, một mặt hạn chế được số lượng quan lại, mặt khác các thuộc viên này mặc dù đảm đương hai nhiệm vụ nhưng cùng chuyên môn sẽ thuận lợi lớn cho họ khi thực thi nhiệm vụ của mình. Đặc biệt, triều Nguyễn đã tạo cơ chế phối hợp trong hoạt động giữa các cơ quan hành pháp và tư pháp.

Ba là, so với một số triều đại quân chủ Việt Nam trước đây, triều Nguyễn đã cho đặt trống Đăng văn để các “oan dân” có thể báo cho triều đình, Tam pháp ty biết về oan khuất của mình. Việc đặt trống Đăng văn phần nào tạo điều kiện cho dân chúng nói lên tiếng nói của mình trước pháp luật cũng như hạn chế quyền hành và tệ “quan tham” ức hiếp nhân dân của một bộ phận quan lại.

Tóm lại, mặc dầu còn những hạn chế nhất định, nhưng trong quá trình tồn tại và thực thi nhiệm vụ, Tam pháp ty của triều Nguyễn đã có những đóng góp rất lớn. Các thuộc viên của cơ quan này đã giúp triều đình rửa sạch nỗi oan khuất của dân chúng, đồng thời hạn chế sự sách nhiễu của quan lại đối với nhân dân, nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước, hạn chế được tệ quan tham, sách nhiễu nhân dân. Đây chính là những kinh nghiệm có ý nghĩa trong việc xây dựng, hoàn thiện bộ máy cũng như thực thi nhiệm vụ hành pháp, tư pháp ở Việt Nam hiện nay./.

 

 



[1] Đỗ Bang (2010), “Các biện pháp điều tiết cực quyền của bộ máy nhà nước tập quyền triều Nguyễn”, tr.139, trong Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế: 700 năm hình thành và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2010.

[2] Trống đăng văn : tiếng trống đánh lên để thấu đến vua nghe.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 3, tr.334.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, tlđd, tr.335.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, tlđd, tr.335.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, tlđd, tr.336.

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, tlđd, tr.363.

[8] Mục lục Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, ngày 29/10 năm thứ 21, t.79, ML.142, dẫn theo Đỗ Bang (2010), ttlđ, tr.146.

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn , tlđd, tr.334-336.

[10] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 8, tlđd, tr.415.

[12] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 6, tlđd, tr.753.

[13] Quốc sử quán triều Nguyễn, nt, tr.569-570.

[14] Quốc sử quán triều Nguyễn, nt, tr.1005.

[15] Quốc sử quán triều Nguyễn, nt, tr.393.

[17] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 5, tlđd, tr.576.

[18] Quốc sử quán triều Nguyễn, nt, tr.1011-1012.

[19] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 6, tlđd, tr.528.

[20] Quốc sử quán triều Nguyễn, nt, tr.634.

[21] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 3, tlđd, tr.371.

[22] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 7, tlđd, tr.

[23] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 4, tlđd, tr.462

[24] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 6, tlđd, tr.329.

[26] Ngô Đức Lập (2011), “Tìm hiểu về quá trình ra đời và kiện toàn tổ chức giám sát của các triều đại quân chủ Việt Nam”, tạp chí Lịch sử Quân sự, số 239, tr.42.

ThS. Ngô Đức Lập - Trường Đại học Khoa học Huế
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
2.jpg
Phòng Biên tập - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp đón nhận Huân chương lao động hạng ba tại Hà Nội ngày 18/10/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu

Chính sách ưu đãi thuế, tài chính, ngân hàng ở một số đặc khu thuộc Trung Quốc và kiến nghị cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam

Sự hình thành luật tập quán quốc tế trước bối cảnh thay đổi cơ bản

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Giải thích pháp luật - một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân