Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ bảy, 25/11/2017, 03:22(GMT+7)
 
Nhà nước và pháp luật

Kiểm tra, giám sát của Đảng Cộng sản Việt Nam - phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài
Kiểm tra, giám sát của Đảng Cộng sản Việt Nam - phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài
Nguồn: internet

Quyền lực nhà nước không phải là quyền lực nội sinh của Nhà nước, mà là quyền lực của Nhân dân, được Nhân dân ủy quyền. Nhân dân không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước mà giao lại cho Nhà nước thay mình thực hiện, nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên là phải kiểm soát quyền lực nhà nước - một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền là Nhân dân, đối với người được ủy quyền là Nhà nước.

Kiểm soát quyền lực nhà nước là toàn bộ những phương thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó, Nhà nước và xã hội có thể ngăn chặn, loại bỏ những hoạt động sai trái của các thiết chế quyền lực nhà nước, phát hiện và điều chỉnh được việc thực thi quyền lực nhà nước, đảm bảo cho quyền lực nhà nước thực thi đúng mục đích chung và đạt được hiệu quả cao nhất.

1. Quan điểm của Đảng về kiểm soát quyền lực

V.I. Lênin đã khẳng định: “khi đường lối, chính sách đã được xác định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và sự lãnh đạo phải chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện”[1].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”[2].

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Đảng không những luôn coi trọng, mà xác định kiểm tra, giám sát là những chức năng, nội dung lãnh đạo của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã khẳng định, kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng: “Muốn lãnh đạo tốt, ...phải tăng cường việc kiểm tra, xem xét để kịp thời phát hiện những kinh nghiệm thành công hoặc thất bại mà bồi bổ cho công tác lãnh đạo của mình. Lãnh đạo mà không kiểm tra thì lãnh đạo sẽ trở thành quan liêu”[3].

Tại các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, V, VI, Đảng ta đều khẳng định: Kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện. Điều lệ Đảng Khoá XI nêu rõ: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng”.

Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước còn được ghi nhận ở Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đưa vào nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam một yếu tố mới, đó là kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã ghi nhận nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước pháp quyền XHCN: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[4].

Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa nguyên tắc này tại Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”; “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

2. Thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta

Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong do các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp kiểm soát lẫn nhau

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN với cơ chế phân công và phối hợp quyền lực, phải nói đến những giới hạn của các bộ phận quyền lực nhà nước. Kiểm soát quyền lực nhà nước, trước hết là hệ thống giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, phán quyết của Tòa án nhân dân, kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và kiểm tra, giám sát của Đảng. Hoạt động của hệ thống các cơ quan này trên cơ sở quy định của pháp luật đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo pháp chế, tính kỷ cương, kỷ luật và dân chủ trong hoạt động của bộ máy nhà nước.

Hiến pháp năm 2013 thể chế hóa nguyên tắc về tính thống nhất, sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước, xác định rõ ba bộ phận của quyền lực nhà nước gồm: Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69). Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp (Điều 94); Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (khoản 3, Điều 102).

Trong thời gian qua, cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được xác định rõ hơn, việc tổ chức thực hiện đã có những bước tiến nhất định

“Quốc hội có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện. Hoạt động giám sát của Quốc hội đã tập trung vào những vấn đề bức thiết, quan trọng của đất nước. Việc thảo luận, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, các dự án, công trình trọng điểm quốc gia có chất lượng và thực chất hơn. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội có nhiều đổi mới về tổ chức, nội dung, phương pháp hoạt động; trách nhiệm các đại biểu Quốc hội được nâng cao hơn.

Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và bước đầu đạt kết quả tích cực. Tổ chức thí điểm đổi mới về tổ chức chính quyền địa phương được tập trung chỉ đạo và tổng kết, rút kinh nghiệm.

Nhiều chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp được thể chế trong Hiến pháp, pháp luật và được triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả quan trọng. Tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn; chất lượng hoạt động có tiến bộ, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; hạn chế tình trạng oan, sai”[5].

Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực nhà nước, việc phân định thành ba quyền nêu trên là một nhu cầu khách quan. Thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta chỉ ra rằng, việc phân định rành mạch ba quyền là cách thức tốt nhất để phát huy vai trò của Nhà nước, đồng thời là cơ sở để kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước.

Tuy nhiên, cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương chưa được chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả. Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động trong bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN như Quốc hội, Chính phủ, hệ thống tư pháp còn những điểm chưa thực sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả. Chưa khắc phục được sự chồng chéo, vướng mắc về chức năng, nhiệm vụ, làm ảnh hưởng tới sự thống nhất quyền lực nhà nước và hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, còn chồng chéo; tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định còn hạn chế. Kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực thi công vụ còn nhiều yếu kém. Cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu; thủ tục hành chính còn phức tạp, phiền hà, đang là rào cản lớn đối với việc tạo lập môi trường xã hội, môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, hiệu quả cho sự phát triển. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương chậm đổi mới; hiệu lực, hiệu quả ở nhiều nơi chưa cao. Trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền chưa được quy định rõ ràng. Việc triển khai một số nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm; vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, oan sai, bỏ lọt tội phạm. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu đề ra; tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng.

    Bên cạnh hệ thống kiểm soát quyền lực bên trong như đã nêu trên thì việc kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài do các chủ thể không phải là Nhà nước thực hiện, đóng góp khá quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực của Nhân dân - chủ thể quyền lực nhà nước

- Kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước là quyền giám sát của những người chủ của quyền lực nhà nước. Quyền giám sát của Nhân dân đối với Nhà nước là quyền của Nhân dân khi xem xét, đánh giá hoạt động của các đại biểu dân cử, trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo hoặc thông qua hoạt động của tổ chức thanh tra Nhân dân do mình bầu ra. Quyền giám sát của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước là một nội dung quan trọng của quyền dân chủ của Nhân dân.

- Kiểm soát quyền lực nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là việc theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua việc Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chủ trương, đường lối, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết chỉ thị… và bằng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

3. Kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam - Phương thức kiểm soát quyền lực đặc trưng nhất trong hệ thống kiểm soát quyền lực từ bên ngoài

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Điều 4). Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là điều kiện quan trọng nhất, cơ bản nhất.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị…; tuyên truyền, thuyết phục, động viên, tổ chức thực hiện và Đảng phải lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước về việc thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách... mà Đảng đã ban hành.

Trong hệ thống nhất nguyên chính trị của Việt Nam thì việc kiểm soát quyền lực bắt nguồn từ đặc trưng Nhà nước ta do một Đảng duy nhất lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan. Do đó, công tác “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng…”[6], là những chức năng và phương thức, nội dung lãnh đạo quan trọng của Đảng; không kiểm tra, giám sát thì coi như không lãnh đạo.

Kiểm tra của Đảng là việc xem xét tình hình chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công việc cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét về mỗi cá nhân hay một cơ quan, tổ chức đảng. Kiểm tra làm rõ đúng sai, phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót khuyết điểm, xử lý kịp thời, nghiêm minh tổ chức đảng và đảng viên vi phạm; uốn nắn lệch lạc trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bổ sung hoàn thiện các đường lối, quan điểm, nguyên tắc và đổi mới nội dung, hình thức lãnh đạo của Đảng.

Giám sát của Đảng là hoạt động chủ yếu để quan sát, theo dõi trực tiếp, thường xuyên, liên tục đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thuộc phạm vi quản lý nhằm hướng hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên theo đúng Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; đoàn kết nội bộ, phẩm chất đạo đức, lối sống; chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Qua giám sát, nếu phát hiện tổ chức đảng, đảng viên có biểu hiện không thực hiện đúng chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước thì kịp thời nhắc nhở, ngăn chặn, để đáp ứng yêu cầu về chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát.

Do đó, kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng là việc kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong hệ thống các cơ quan nhà nước như: Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương; chú trọng kiểm tra, giám sát đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, người đứng đầu trong các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, các cấp chính quyền trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Từ nhận thức đến thực tiễn về kiểm soát quyền lực nhà nước, Đảng ta đã bắt đầu thể hiện rõ quyết tâm xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, trọng tâm của cơ chế này là nhằm phòng, chống nạn quan liêu, tham nhũng, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hiệu quả, đảm bảo và phát huy các quyền làm chủ của Nhân dân. Đây cũng là mục tiêu của quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng một nền hành chính nhà nước trong sạch, một Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khóa X), lần đầu tiên Đảng đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”. Nghị quyết xác định: “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, sự đoàn kết thống nhất và bảo đảm thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng…”.

Với tư cách là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị…; lãnh đạo thông qua các tổ chức, cá nhân, cụ thể là lãnh đạo công tác cán bộ, phân công các đảng viên nắm giữ các cương vị chủ chốt ngay trong bộ máy nhà nước. Do đó, Đảng thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước qua các hình thức chủ yếu sau:

- Đảng kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan lãnh đạo, cơ quan chức năng của Đảng (Ủy ban Kiểm tra và các ban Đảng) trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan của bộ máy nhà nước;

- Đảng kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với việc kiểm soát đó, tức là Đảng xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết… định hướng xây dựng cơ chế và tổ chức cho các chủ thể khác nhau trong xã hội thực hiện việc kiểm soát.

Trong thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã được củng cố và tăng cường, các cuộc kiểm tra, giám sát đã chú trọng vào việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là đảng viên giữ các chức vụ lãnh đạo, người đứng đầu trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Điều đó có tác dụng kiểm soát, ngặn ngừa sự lạm quyền, hạn chế việc vi phạm Hiến pháp và pháp luật của chính các cơ quan nhà nước và cán bộ lãnh đạo các cấp.

Tuy nhiên, công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng ở các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương các cấp, các đơn vị kinh tế và các lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm… còn hạn chế, tính chủ động kiểm tra, giám sát chưa cao; chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lý tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự lạm quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong các tổ chức đảng và hệ thống các cơ quan nhà nước.

4. Một số giải pháp, kiến nghị

- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng về công tác kiểm tra, giám sát, để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Tập trung chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

- Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với cả hệ thống chính trị. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Tập trung kiểm tra, giám sát về các nội dung, lĩnh vực sau:

+ Lĩnh vực tư tưởng chính trị, quản lý báo chí: Kiểm tra, giám sát việc thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, việc thi hành Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác tư tưởng chính trị nói chung và hoạt động báo chí nói riêng.

+ Về chấp hành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng: Kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; chấp hành quy chế làm việc, chế độ công tác; thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; về mối quan hệ giữa tổ chức đảng và đảng viên với quần chúng; việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

+ Lĩnh vực kinh tế - tài chính: Kiểm tra, giám sát việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong các khâu cấp và sử dụng nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước, vốn ODA, tài trợ của nước ngoài; trong xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị; quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên, công sản; triển khai thực hiện các dự án trọng điểm...

+ Lĩnh vực hành chính, tư pháp: Kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính liên quan đến giải quyết công việc của các tổ chức và cá nhân, đặc biệt là trong các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nhất là những vụ án nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận.

+ Trong công tác tổ chức và cán bộ: Kiểm tra, giám sát về tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bố trí, sử dụng, khen thưởng và thực hiện chính sách cán bộ; về phẩm chất đạo đức, lối sống và thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên; việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;

+ Kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên và Nhân dân.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng gắn với vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của Nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI: “Một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng ở các cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế và các lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm.

- Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng cho Ủy ban Kiểm tra các cấp. Kiện toàn Ủy ban Kiểm tra, xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ cơ quan Ủy ban Kiểm tra tương xứng, ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra các cấp. Có chế độ, chính sách hợp lý đối với cán bộ kiểm tra…/.

   

 

 


[1] Lênin Toàn tập, tập 44, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva1978, tr. 450.

[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1995, tr. 520.

[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, 1960, tr. 87.

[4] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 171.

[5] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 172.

[6] Điều 30, Điều lệ Đảng khóa XI.

Phí Minh Hải, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính (16/11/2017)
Kiểm soát tập trung kinh tế trên thị trường bán lẻ theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam (16/11/2017)
Bảo đảm cơ hội tiếp cận quyền cho trẻ em lang thang (14/11/2017)
Lênin với công cuộc chống quan liêu, tham nhũng (07/11/2017)
Thống nhất khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo các hiệp định tự do hóa thương mại và pháp luật Việt Nam (03/11/2017)
giám sát, kiểm tra người đứng đầu cấp cơ sở theo Nghị quyết trung ương 4 khóa XII (30/10/2017)
Chế độ bầu cử và việc xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm giữa đại biểu Quốc hội và cử tri (16/10/2017)
giám sát, kiểm tra người đứng đầu cấp cơ sở theo Nghị quyết trung ương 4 khóa XII (30/10/2017)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân