Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 20/02/2017, 20:23(GMT+7)
 
Nhà nước và pháp luật

Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người và một số kiến nghị
Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người và một số kiến nghị
Ảnh minh họa/Nguồn internet

Việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người (QCN) không chỉ cần được quy định trong các văn bản pháp luật mà còn được thể hiện qua tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ các QCN. Các văn bản pháp luật và các cơ quan này tạo thành cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN. Cơ chế này bao gồm cả ở cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia. Bài viết   giới thiệu về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN ở các cấp độ và nêu các kiến nghị xây dựng cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN ở Việt Nam.

 

1. Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở các cấp độ 

Quyền con người, từ lâu đã được pháp luật nhiều quốc gia ghi nhận. Văn bản đầu tiên về QCN là Luật về các Quyền, ra đời năm 1689, như một thành quả của cuộc cách mạng tư sản Anh. Gần một thế kỷ sau, ngày 04/7/1776, Đại hội các đại biểu   13 bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập mà sau này được xem là văn kiện lịch sử đầu tiên ghi nhận về QCN. Tuyên ngôn Độc lập khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, “mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Ngày 14/7/1789, cách mạng tư sản Pháp thành công, Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền ra đời, trong đó có ghi nhận các quyền cá nhân và quyền tập thể của tất cả giai cấp bình đẳng. Tuyên ngôn theo học thuyết về quyền tự nhiên, theo đó, Điều 1 Tuyên ngôn khẳng định “Người ta sinh ra đều tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Các văn bản trên dù mới chỉ ghi nhận một cách khái quát về QCN và chưa có những đề cập về quyền của những người dễ bị tổn thương, nhưng có thể thấy, vấn đề QCN đã được ghi nhận từ rất lâu trong các văn bản quan trọng nhất của lịch sử phát triển của loài người.

Trên nền tảng đó, khi Liên hợp quốc (LHQ) ra đời, hệ thống các QCN được ghi nhận trong cả luật quốc tế và luật quốc gia. Đầu tiên và quan trong nhất là Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948 (UDHR). Tuyên ngôn này tuy không phải là nguồn bắt buộc của LHQ nhưng lại được các quốc gia ngầm công nhận như là một nguồn chính thức cùng với các điều ước quốc tế về QCN. Đến năm 1966, LHQ đã thông qua Công ước về các Quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) quy định gần như hoàn chỉnh các QCN. Hai công ước này đã được phê chuẩn bởi hầu hết các quốc gia thành viên.

QCN được ghi nhận trong nhiều văn bản và được thực thi bởi nhiều chủ thể thông qua nhiều biện pháp thúc đẩy. Do đó, các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó cũng được quy định bên cạnh các quy định về QCN để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động bảo vệ QCN. Theo đó, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN cần hoạt động hiệu quả cả ở cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia để QCN được bảo vệ toàn vẹn.

Ở cấp độ quốc tế, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN thể hiện ở bộ máy các cơ quan và các quy tắc, thủ tục về thúc đẩy, bảo vệ QCN trong hệ thống LHQ[1]. Cơ chế này được chia thành hai dạng: thứ nhất là cơ quan được thành lập theo hoặc dựa trên Hiến chương hay còn được gọi là cơ chế dựa trên Hiến chương; thứ hai là cơ quan được thành lập hoặc dựa trên một số điều ước quan trọng về QCN  hay còn được gọi là cơ chế dựa trên điều ước.

Theo cơ chế dựa trên Hiến chương thì bảo vệ và thúc đẩy QCN do cả sáu cơ quan chính của LHQ thực hiện[2]. Các cơ quan chính này sẽ lập ra các cơ quan chuyên môn và cơ quan giúp việc để tiến hành bảo vệ và thúc đẩy QCN. Trong số các cơ quan này, quan trọng nhất là Hội đồng Quyền con người của LHQ (thay thế Ủy ban Quyền con người, do Ủy ban này hoạt động không hiệu quả), Ủy ban về Vị thế của phụ nữ, Cơ chế Đánh giá Định kỳ toàn thể, Ủy ban Tư vấn. Bên cạnh đó, LHQ còn ban hành các cơ chế giải quyết khiếu nại vi phạm QCN và cơ chế giải quyết những tình huống vi phạm QCN.

Theo cơ chế dựa trên điều ước, thì các ủy ban giám sát được thành lập để giám sát việc thực hiện các công ước cơ bản về QCN. Hiện nay, có chín công ước được xem là cơ bản về QCN, theo đó, có các Ủy ban giám sát như sau: Ủy ban về Xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc (thành lập theo Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc, 1965); Ủy ban về Quyền con người (thành lập theo Công ước về các Quyền dân sự, chính trị, 1966); Ủy ban về Xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ (thành lập theo Công ước quốc tế về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, 1979); Ủy ban Chống tra tấn (thành lập theo Công ước về Chống tra tấn và các hình thức đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác, 1987); Ủy ban về các Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (thành lập theo một nghị quyết của ECOSOC); Ủy ban về Quyền trẻ em (thành lập theo Công ước về Quyền trẻ em, 1989); Ủy ban về Bảo vệ quyền của tất cả những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ (thành lập theo Công ước về Bảo vệ quyền của tất cả những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ, 1990); Ủy ban về Quyền của người khuyết tật (thành lập theo Công ước về Quyền của người khuyết tật, 2007); Ủy ban về Các vụ mất tích cưỡng bức (thành lập theo Công ước quốc tế về Bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị cưỡng bức đưa đi mất tích, 2006)[3].

Các Ủy ban được thành lập để xem xét báo cáo của các quốc gia thành viên, xem xét khiếu nại của các cá nhân, đưa ra các bình luận hoặc kiến nghị chung để giải thích nội dung và các biện pháp thực hiện công ước. Thủ tục xem xét báo cáo của các quốc gia thành viên được bắt đầu bằng việc đệ trình báo cáo đầu tiên của các quốc gia thành viên, tiếp theo nhóm làm việc trước phiên họp được thành lập để xem xét báo cáo của quốc gia thành viên, sau đó sẽ tiến hành đối thoại xây dựng giữa Ủy ban và quốc gia thành viên và cuối cùng, Ủy ban sẽ đưa ra những bình luận và nhận xét[4].

Bên cạnh các cơ chế trên, LHQ còn thành lập Tòa án Hình sự quốc tế (ICC). Tòa án này có nhiệm vụ xem xét trách nhiệm hình sự của những cá nhân phạm các tội ác quốc tế nghiêm trọng nhất như tội diệt chủng, tội chống nhân loại, tội ác chiến tranh và tội xâm lược[5]. ICC làm việc dựa trên Quy chế Rome[6]. Theo đó, ICC sẽ tuân thủ các nguyên tắc quy định trong Quy chế Rome. Các quy tắc này là cơ sở quan trọng cho việc bảo vệ QCN. Một số nguyên tắc quan trọng như nullum crimen sine lege - không có tội khi không có luật[7], nguyên tắc nulla poena sine lege - không có hình phạt khi không có luật[8], nguyên tắc không hồi tố, nguyên tắc loại trừ quyền tài phán đối với người dưới mười tám tuổi, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc không áp dụng thời hiệu[9]. Ngoài ra, ICC còn bảo vệ QCN thông qua thẩm quyền tài phán cũng như thông qua các hoạt động tố tụng theo Quy chế Rome - trong đó tiêu biểu là quy định trực tiếp quyền im lặng trong tố tụng hình sự của tòa án[10] - điều mà chưa được ghi nhận trực tiếp trong các văn kiện quốc tế khác về QCN. Tuy ICC do LHQ thành lập nhưng ICC hoạt động độc lập với LHQ và vẫn hỗ trợ LHQ trong hoạt động bảo vệ nhân chứng khi cung cấp nhà ở và các biện pháp bảo vệ khẩn cấp mang tính lâm thời, vì LHQ không có nhiệm vụ bảo vệ nhân chứng. Mối liên hệ giữa LHQ và ICC còn thể hiện ở mối liên hệ về thành viên, các quốc gia thành viên của Quy chế Rome hầu hết đều là thành viên của LHQ[11]. Có thể nói, tuy độc lập với LHQ nhưng ICC vẫn là một thiết chế hoạt động hiệu quả bên cạnh các cơ chế của LHQ trong việc bảo vệ QCN.

Ở cấp độ khu vực, mỗi khu vực có một cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN riêng, ngoại trừ châu Á. Châu Âu, nơi được coi là có những cơ sở nền tảng cho sự phát triển pháp lý về QCN, có nhiều văn kiện quan trọng trong việc bảo vệ QCN. Trong các văn kiện đó, nòng cốt là Công ước châu Âu về bảo vệ QCN và tự do cơ bản năm 1950. Công ước quy định hai loại khiếu nại về những vi phạm QCN có thể được tiếp nhận và xem xét là khiếu nại của các cá nhân và của các quốc gia với nhau[12]. Tham gia Công ước này là điều kiện bắt buộc đối với mọi quốc gia muốn trở thành thành viên của Hội đồng châu Âu. Cơ chế giải quyết các khiếu kiện về tình trạng vi phạm QCN ở châu Âu được thực hiện thông qua cơ chế giải quyết trực tiếp theo thẩm quyền của Công ước, hoặc trực tiếp tại Tòa án Nhân quyền châu Âu được thành lập theo Nghị định thư số 11 của Công ước[13]. Về cơ quan bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền[14] tại châu Âu, tiêu biểu nhất là Tòa án QCN châu Âu được thành lập năm 1959 - nơi tiếp nhận các khiếu kiện cá nhân hoặc tổ chức chống lại tại quốc gia thành viên. Bên cạnh đó, còn có Ủy ban QCN (thuộc Hội đồng châu Âu, nhưng đã kết thúc hoạt động từ năm 1990), Ủy ban các Bộ trưởng của Hội đồng châu Âu và Ủy ban Chống tra tấn.

Ở châu Mỹ, hệ thống các văn bản về QCN ra đời từ rất sớm. Đầu tiên nhất là Tuyên bố châu Mỹ về các Quyền và nghĩa vụ của con người, ra đời vào tháng 4 năm 1948 (trước Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền 6 tháng) mà sau này làm cơ sở cho Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền. Đến năm 1959, Ủy ban QCN châu Mỹ được thành lập. Năm 1969, Công ước châu Mỹ về QCN xác định các QCN mà các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân thủ và bảo đảm. Bên cạnh đó, Công ước còn thiết lập Tòa án QCN châu Mỹ. Tòa án QCN châu Mỹ cùng với Ủy ban QCN châu Mỹ là hai bộ phận quan trọng và cốt lõi của cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN ở khu vực này[15]. Tuy nhiên, khác với Tòa án QCN châu Âu, Tòa án QCN châu Mỹ chỉ nhận các vụ việc thông qua Ủy ban QCN hoặc bởi một quốc gia thành viên của Tổ chức Các quốc gia châu Mỹ. Khi một cá nhân thấy rằng, quyền của mình bị chính phủ vi phạm thì có thể gửi khiếu nại đến Ủy ban QCN châu Mỹ. Để xem xét khả năng thụ lý, Ủy ban QCN châu Mỹ sẽ gửi cho quốc gia liên quan một số khuyến nghị. Chỉ khi quốc gia liên quan không tuân theo các khuyến nghị này, và nếu Ủy ban thấy rằng vụ việc này có ý nghĩa quan trọng, thì Ủy ban sẽ chuyển vụ việc lên Tòa án châu Mỹ về QCN để giải quyết[16]. Ngoài chức năng xét xử, Tòa án QCN châu Mỹ còn có chức năng tư vấn cho Ủy ban QCN và các quốc gia thành viên của Tổ chức Các quốc gia châu Mỹ về các vấn đề liên quan đến áp dụng Công ước châu Mỹ về QCN và các văn kiện khác về QCN của khu vực; về tính phù hợp của các văn bản và dự thảo văn bản pháp luật của các quốc gia với Công ước châu Mỹ về QCN[17].

Tại châu Phi, văn kiện cơ bản về các QCN là Hiến chương châu Phi về QCN và Quyền các dân tộc năm 1981. Cơ quan bảo vệ và thúc đẩy QCN gồm Ủy ban QCN và Quyền các dân tộc châu Phi và Tòa án châu Phi về QCN. Khác với chức năng của tòa án nhân quyền ở khu vực châu Âu và châu Mỹ, chức năng của Tòa án châu Phi về QCN là tham vấn. Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN tại châu Phi ghi nhận và cổ vũ quyền phát triển. Đồng thời, Hiến chương châu Phi về QCN và Quyền các dân tộc châu Phi cũng quy định một số quyền tập thể khác như quyền được sống trong hòa bình (Điều 23), quyền được sống trong môi trường trong sạch (Điều 24) - điều mà chưa tìm thấy ở các văn kiện QCN của các khu vực khác[18].

Ở cấp độ quốc gia, các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền có thể được tổ chức và hoạt động khác nhau. Các cơ quan này thường là các cơ quan hành chính bên cạnh hệ thống tòa án, phối hợp cùng nhau để hoạt động bảo vệ và thúc đẩy QCN. Các cơ quan này có thể phân thành hai nhóm chính là Ủy ban Nhân quyền - gồm đại diện thành viên của nhiều nhóm xã hội khác nhau và Thanh tra Quốc hội - làm việc với tư cách cá nhân. Mô hình Ủy ban Nhân quyền được tổ chức phổ biến ở các quốc gia như Úc, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan. Mô hình Thanh tra Quốc hội phổ biến ở các quốc gia như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Canada. Ngoài hai cơ chế phổ biến trên, tại Liên bang Nga, cơ chế giám sát Hiến pháp là cơ chế pháp lý để bảo vệ QCN một cách hiệu quả, đề cao vai trò của Tòa án Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN ở cấp độ quốc gia có thể khác nhau ở các quốc gia khác nhau.

2. Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam

Chúng ta đã thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của QCN khi đưa các quyền con người vào một chương riêng của Hiến pháp năm 2013 và đặt ở Chương 2, ngay sau chương về chế độ chính trị. Cùng với những thay đổi về nhận thức đó, thì các quy định về bảo vệ và thúc đẩy QCN được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Bộ luật Lao động (BLLĐ)… Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách nào thực hiện chức năng bảo vệ QCN.

Hiến pháp năm 2013 đã quy định tương đối đầy đủ các QCN tương ứng với quy định tại các công ước quốc tế về QCN. Về các quyền dân sự và chính trị, Hiến pháp đã dành chín điều quy định về các quyền này. Theo đó, quyền sống được quy định tại Điều 19; quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục được quy định tại khoản 1 Điều 20; quyền được suy đoán vô tội được quy định tại khoản 1 Điều 31; quyền được bào chữa và được sự trợ giúp của luật sư ngay khi bị bắt và giam giữ được quy định tại khoản 4 Điều 31; quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập và không thiên vị được quy định tại khoản 2 Điều 31; quyền được xét xử trong thời gian hợp lý và không bị trì hoãn cũng được quy định tại khoản 2 Điều 31; quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng được quy định tại Điều 16; quyền không bị bắt làm nô lệ, nô dịch hay bị cưỡng bức lao động được quy định tại Điều 20; quyền tự do đi lại được quy định tại Điều 22 và Điều 23; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo được quy định tại Điều 24; quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin và quyền tự do hội họp, lập hội cùng được quy định tại Điều 25; quyền được bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước được quy định tại Điều 27.

Tương ứng với những quy định trên của Hiến pháp là các quy định trong các luật chuyên ngành nhằm cụ thể hóa Hiến pháp. Cụ thể, quyền sống được quy định tại khoản 1 Điều 33 BLDS năm 2015, Chương XIV BLHS năm 2015; quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục được quy định tại Điều 10 BLTTHS năm 2015, quyền được suy đoán vô tội được quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015, quyền được thông báo lời buộc tội không chậm trễ, được sử dụng và hỗ trợ sử dụng ngôn ngữ thích hợp trong tố tụng được quy định tại Điều 29 BLTTHS năm 2015, quyền được bào chữa và được sự trợ giúp của luật sư ngay khi bị bắt hoặc bị giam giữ được quy định tại Điều 16 BLTTHS năm 2015, quyền không bị buộc phải chứng minh chống lại chính mình được quy định tại Điều 58, Điều 61 BLTTHS năm 2015, quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập và không thiên vị, được lập ra theo pháp luật được quy định tại Điều 25 BLTTHS năm 2015, quyền được xét xử trong thời gian hợp lý và không bị trì hoãn được quy định tại Điều 25 BLTTHS năm 2015, quyền bình đẳng trước pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 3 BLDS năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015, Điều 9 BLTTHS năm 2015, quyền không bị bắt làm nô lệ, nô dịch hay cưỡng bức lao động được quy định tại Điều 8 BLLĐ năm 2012, quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo được quy định tại Điều 164 BLHS năm 2015, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin được quy định tại Điều 167 BLHS năm 2015, quyền tự do hội họp, lập hội được quy định tại Điều 163 BLHS năm 2015, quyền được bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước được quy định tại Điều 160 BLHS năm 2015.

Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cũng được quy định khá hoàn chỉnh. Quyền làm việc và được bảo đảm các điều kiện lao động thích đáng được quy định tại Điều 35 Hiến pháp năm 2013; quyền học tập được quy định tại Điều 39; quyền được chăm sóc sức khỏe được quy định tại Điều 38. Các quyền này cũng được cụ thể hoá tại các luật chuyên ngành như BLLĐ năm 2012, Luật Giáo dục năm 2005.

Bên cạnh việc ghi nhận các QCN nói chung, pháp luật Việt Nam còn quy định về quyền của những nhóm dễ bị tổn thương bao gồm phụ nữ[19], trẻ em[20], quyền của người sống chung với HIV/AIDS[21], người khuyết tật[22]. Việc ghi nhận các quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền và không bị xâm phạm quyền bởi các chủ thể khác.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các quyền trong các văn bản luật thì cơ chế thực thi quyền chưa thật sự đầy đủ. Để các quyền được bảo vệ toàn vẹn, cần có cơ quan bảo vệ và thực thi các quyền. Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền chưa tập trung vào một cơ quan cụ thể mà nhiệm vụ này được quy định cho nhiều cơ quan khác nhau thuộc bộ máy nhà nước, bao gồm Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân. Việc giao chức năng bảo vệ QCN cho nhiều cơ quan nhà nước có ưu điểm là giúp bảo vệ toàn diện QCN, nhưng lại gây ra hạn chế cho việc xác định đầu mối có nhiệm vụ chính trong các cơ quan này và cũng gây khó khăn khi một cá nhân muốn khiếu nại về các vi phạm nhân quyền.

Bên cạnh đó, quá trình bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền còn có sự tham gia của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Có thể nêu một số tổ chức cơ bản như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Bảo trợ người tàn tật, Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam v.v..

3. Các kiến nghị về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền của Việt Nam

Như vậy, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền tại Việt Nam là khá đầy đủ về văn bản pháp lý quy định các quyền. Về tổng thể thì hệ thống các cơ quan bảo vệ và thực thi quyền cũng khá toàn diện và việc bảo vệ QCN thuộc trách nhiệm của tất cả các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, nếu xét về chi tiết thì Việt Nam lại thiếu hẳn một cơ quan chuyên trách trong việc bảo vệ và thúc đẩy QCN.

Đặt cơ chế này trong tương quan với cơ chế quốc tế và cơ chế ở các quốc gia khác, có thể thấy cơ chế của chúng ta còn chưa toàn diện trong bảo vệ nhân quyền. Trong khi nhận thức về tầm quan trọng của QCN đã được nâng lên một mức đáng kể thì việc thực thi hay cụ thể là việc hình thành nên một cơ quan chuyên trách về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền chưa thật sự được quan tâm đầy đủ.

Vì vậy, để xây dựng một cơ quan chuyên trách bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, Việt Nam cần tham khảo pháp luật và thực tiễn hoạt động về tổ chức cơ quan nhân quyền ở các quốc gia trên thế giới. Như đã phân tích, các cơ quan chuyên trách bảo vệ nhân quyền ở các nước thường bao gồm Ủy ban Nhân quyền, Thanh tra Quốc hội, cơ chế Giám sát Hiến pháp, do đó chúng ta nên cân nhắc lựa chọn để xây dựng một cơ quan phù hợp với tình hình quốc gia.

Thứ nhất, mô hình Ủy ban Nhân quyền. Mô hình này gồm đại diện các tổ chức xã hội khác nhau, vì vậy sẽ rất thuận tiện cho việc nắm bắt kịp thời nhu cầu được bảo vệ và thực thi quyền của các nhóm đối tượng trong xã hội. Mô hình này được sử dụng hiệu quả tại Pháp và Ủy ban này có vai trò rất quan trọng không chỉ trong việc thực thi mà còn trong việc xây dựng chính sách bảo vệ và thúc đẩy QCN. Hoạt động của Ủy ban Nhân quyền mang tính tập thể và hoạt động của mỗi cá nhân cũng mang tính đại diện cho quyết định hoặc sự ủy quyền của tập thể. Xét về tổ chức lẫn cách thức hoạt động, mô hình này khá phù hợp với thực tế Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, mô hình Thanh tra Quốc hội. Thanh tra Quốc hội hoạt động với tư cách cá nhân nên khó có thể tạo ra cái nhìn toàn diện về nhu cầu được bảo vệ của các nhóm đối tượng trong xã hội. Bên cạnh đó, xét về tổng thể, nước ta hiện nay ít có các tổ chức hoạt động với tư cách cá nhân. Do đó, mô hình này khó có thể áp dụng đối với nước ta.

Thứ ba, mô hình Giám sát Hiến pháp. Mô hình này hoạt động gần như Tòa án và có nhiệm vụ giám sát việc thực thi Hiến pháp cũng như việc chi tiết hóa các quy định của Hiến pháp. Các nhà lập pháp Việt Nam cũng đã nghĩ đến hướng này và mô hình Tòa án Hiến pháp đã từng được đưa vào Dự thảo Hiến pháp năm 2013, nhưng chưa được Quốc hội thông qua.

Từ những phân tích và đánh giá trên, chúng tôi cho rằng, mô hình Ủy ban QCN là mô hình phù hợp nhất cho Việt Nam. Theo đó, Ủy ban này sẽ là cơ quan đầu mối tiếp nhận các khiếu nại hoặc yêu cầu về QCN, trực tiếp xem xét các khiếu nại hoặc yêu cầu đó và đề nghị hướng giải quyết đến cơ quan có thẩm quyền, và cơ quan có thẩm quyền này phải thông báo kết quả giải quyết lại cho Ủy ban QCN. Nếu phát hiện có sai phạm thì Ủy ban tiếp tục khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền cao hơn. Hoặc nếu xét thấy khiếu nại hoặc yêu cầu ngoài khả năng giải quyết của Ủy ban thì Ủy ban chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xem xét và cơ quan này cũng phải thông báo kết quả lại cho Ủy ban. Trong trường hợp Ủy ban thấy các vi phạm về nhân quyền nhưng không có khiếu nại hoặc yêu cầu thì tự Ủy ban cũng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét. Bên cạnh đó, Ủy ban này nên có chức năng tư vấn về sự ảnh hưởng đến QCN của các dự luật hoặc các văn bản khác, đồng thời cũng có quyền đề xuất các dự thảo luật hoặc văn bản dưới luật có liên quan đến QCN.

Về tổ chức, cơ quan này nên tổ chức thành một nhánh độc lập tương tự như hệ thống Tòa án và Viện kiểm sát và được tổ chức tương ứng với các cấp hành chính. Đứng đầu là chủ tịch, dưới là các phó chủ tịch và ủy viên. Ủy ban nhân quyền có trách nhiệm báo cáo với Quốc hội về hoạt động của cơ quan này và hoạt động vi phạm hoặc không phối hợp của các cơ quan khác trong việc bảo vệ và thúc đẩy QCN.

Cùng với việc xây dựng một cơ quan chuyên trách bảo vệ QCN, Việt Nam cũng nên cân nhắc về việc gia nhập Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quốc tế để đảm bảo thực thi các QCN trong tố tụng hình sự cũng như có những hình phạt đối với những tội ác được quy định tại Quy chế Rome mà luật hình sự quốc gia chưa điều chỉnh./.

 

 


[1]Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về QCN, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 328.

[2]6 cơ quan chính của LHQ bao gồm: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế - Xã hội, Hội đồng Quản thác, Tòa án Quốc tế và Ban Thư ký LHQ (Điều 7 Hiến chương LHQ).

[3] Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về QCN, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 360.

[4] Về cụ thể các cơ chế bảo vệ và thúc đẩy QCN của LHQ, xem thêm: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về QCN, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 327-366.

[5] Xem Điều 1 và Điều 5 Quy chế Rome

[6] Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quốc tế được thông qua ngày 17/7/1998, tại Hội nghị ngoại giao về việc thiết lập Tòa án Hình sự quốc tế do LHQ tổ chức.  

 

[7] Khoản 1 Điều 22 Quy chế Rome quy định: “Không ai phải chịu trách nhiệm hình sự theo Quy chế này, trừ khi hành vi của người đó cấu thành một tội phạm thuộc quyền tài phán của Tòa án vào thời điểm thực hiện hành vi đó”.

[8] Điều 23 Quy chế Rome quy định: “Người bị kết án có thể bị xử phạt chỉ khi tương ứng với những quy định của Quy chế này”.

[9] Xem Điều 24, 26, 27, 29 Quy chế Rome.

[10] Xem điểm b, khoản 2 Điều 55 Quy chế Rome.

[11] Việt Nam chưa là thành viên của Quy chế Rome.

[12]Các cơ chế nhân quyền khu vực, http://uprvietnam.vn/&op/detailsnews/305/98/cac-co-che-nhan-quyen-khu-vuc.html, truy cập ngày 06/02/2016.

[13]Cơ chế nhân quyền khu vực: Thúc đẩy cơ chế nhân quyền chung của LHQ, http://www.npa.org.vn/Home/chuyen-de-ly-luan/1029/Co-che-nhan-quyen-khu-vuc-Thuc-day-co-che-nhan-quyen-chung-cua-Lien-hop-quoc, truy cập ngày 06/02/2016.

[14] Human rights có thể được dịch là QCN theo nghĩa thuần Việt hoặc nhân quyền theo nghĩa Hán - Việt. Vì vậy, nhân quyền và QCN được sử dụng như từ đồng nghĩa trong bài viết này.

[15]Cơ chế nhân quyền khu vực: Thúc đẩy cơ chế nhân quyền chung của LHQ, http://www.npa.org.vn/Home/chuyen-de-ly-luan/1029/Co-che-nhan-quyen-khu-vuc-Thuc-day-co-che-nhan-quyen-chung-cua-Lien-hop-quoc, [truy cập ngày 06/02/2016].

[16] Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về QCN, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.371.

[17]Các cơ chế nhân quyền khu vực, http://uprvietnam.vn/&op/detailsnews/305/98/cac-co-che-nhan-quyen-khu-vuc.html, [truy cập ngày 06/02/2016].

[18] Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về QCN, Sđd, tr. 374.

[19] Được quy định tại Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007.

[20] Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.

[21] Luật Phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006.

[22] Luật Người khuyết tật năm 2010.

Nguyễn Võ Linh Giang, ThS, Khoa Luật - Đại học Cần Thơ.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân