Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 20/02/2017, 20:07(GMT+7)
 
Nhà nước và pháp luật

Các lý thuyết làm cơ sở hình thành hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế
Các lý thuyết làm cơ sở hình thành hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế
Ảnh minh họa/Nguồn internet

Theo lý thuyết, bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường[1]. Cụ thể, nếu một sản phẩm của nước A bán tại thị trường nước A với giá X nhưng lại được xuất khẩu sang nước B với giá Y (Y<X) thì sản phẩm đó được xem là bán phá giá từ nước A sang nước B. Khái niệm bán phá giá bắt nguồn từ kinh tế học là việc định giá chiếm đoạt được luật hóa thành hành vi bán phá giá với mức giá thấp hơn mức giá thông thường của hàng hóa đó, là hành vi của doanh nghiệp, có thể bị trừng phạt bởi chính sách của chính phủ bằng biện pháp thương mại được gọi là biện pháp chống bán phá giá. Biện pháp chống bán phá giá là một trong các biện pháp thuộc nhóm tự vệ thương mại (khắc phục thương mại) trong thương mại quốc tế (TMQT), được các quốc gia rất chú trọng sử dụng. Trong giai đoạn 2002 - 2012, riêng tại thị trường Hoa Kỳ đã có tổng cộng 08 vụ điều tra chống bán phá giá mà Hoa Kỳ thực hiện đối với 07 nhóm sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, từ những sản phẩm xuất khẩu thuộc nhóm Việt Nam có thế mạnh, đến những sản phẩm có sức cạnh tranh trung bình, thậm chí cả các sản phẩm mà Việt Nam mới chỉ xuất sang Hoa Kỳ nói riêng và các thị trường xuất khẩu khác nói chung với số lượng và trị giá hạn chế[2]. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chưa quan tâm đúng mức tới hiện tượng bán phá giá. Bài viết tập trung phân tích các lý thuyết làm cơ sở hình thành hiện tượng bán phá giá trong TMQT.

1. Lý thuyết liên quan đến tự do hóa thương mại quốc tế 

Tự do hóa thương mại được hiểu là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nước được thực hiện không có sự kiểm soát bằng những chính sách nhập khẩu. Tự do hóa thương mại có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, như tự do về hàng hóa không có thuế quan hay những hàng rào thuế quan, tự do về dịch vụ không bị thuế quan và hàng rào thương mại, tự do lưu chuyển lao động giữa các nước, tự do lưu chuyển vốn giữa các nước, sự vắng mặt của những chính sách thương mại bảo hộ (như là thuế, tiền trợ cấp, quy định, hay luật). Một cách tổng quát, tự do hóa thương mại có thể hiểu là việc tự do dịch chuyển mọi nguồn lực giữa các quốc gia với nhau mà không có sự cản trở từ phía nhà nước. TMQT có thể đem lại lợi ích cho tăng trưởng kinh tế, thông qua phân bổ các nguồn lực một cách tiết kiệm và hiệu quả hơn, dựa trên chuyên môn hóa và căn cứ vào lợi thế cạnh tranh. Mở rộng quy mô sản xuất trong nước theo hướng chuyên môn hóa sẽ giúp làm tăng cơ hội việc làm và khả năng tạo thu nhập cho nền kinh tế, từ đó khai thác được lợi thế so sánh giữa các quốc gia. Tuy nhiên, tự do hóa thương mại cũng mang lại nhiều hạn chế, như khi tự do hóa thương mại sẽ xuất hiện cạnh tranh bất chính (cạnh tranh không lành mạnh). Khi môi trường cạnh tranh được hình thành và sự can thiệp của nhà nước giảm đi, tất yếu sẽ xuất hiện khuynh hướng lạm dụng tự do để cạnh tranh không lành mạnh, mà tiêu biểu là hiện tượng bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu. Sự thúc giục của lợi nhuận, của nhu cầu bành trướng thị phần và bằng khả năng sáng tạo, các doanh nghiệp luôn có xu hướng thực hiện những hành vi cạnh tranh bất chính nhằm loại bỏ đối thủ hoặc chiếm đoạt thị phần[3]. Cạnh tranh bất chính có sự thâu tóm thị trường của thế lực bên ngoài để khai thác nguồn lực quốc gia nhập khẩu nhằm bóc lột người tiêu dùng, dẫn đến sự chi phối lợi ích của các quốc gia bị chi phối. Bán phá giá và các hành vi tự vệ thương mại có thể nằm trong nhóm bất chính nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá để chiếm đoạt thị phần. Trong trường hợp có mục đích đó xảy ra thì hệ quả có thể dẫn đến việc tước đoạt lợi thế so sánh của quốc gia nhập khẩu. Đây lại là hành động ngăn cản tự do hóa TMQT, làm cho quyền kinh doanh của quốc gia nhập khẩu bị hạn chế bởi các hành vi bất chính. Ngoài ra, với tư cách là một biện pháp tự vệ thương mại (khắc phục thương mại) thì hành vi bán phá giá còn chịu sự ảnh hưởng của các lý thuyết về tự do hóa TMQT qua các góc độ như sau:

Thứ nhất, liên quan đến ngoại tệ - các đồng tiền dùng để thanh toán và xác định giá trị thương mại của sản phẩm khi mua bán quốc tế. Ngay trong vụ việc bán phá giá, các chuẩn giá trị đã có sự khác nhau (quốc gia xuất khẩu bán trong nội địa bằng nội tệ, nhưng xuất khẩu lại bằng ngoại tệ), chính vì điều này đã dẫn đến sự chênh lệch tất yếu. Việc tính toán một hành vi, hoạt động có được xem là bán phá giá hay không - tức là đi xác định biên độ phá giá - thì phải quy đổi tất cả về một loại đồng tiền chung. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái lại thường có những tác động là tăng hoặc giảm sức cạnh tranh về giá của sản phẩm khi lưu thông trên thị trường quốc tế, chỉ cần có sự sai sót thì đều dẫn đến sự tính toán sai lệch.

Thứ hai, thực tế các quốc gia đều có sự khác nhau về nguồn tài nguyên (chủng loại, trữ lượng, mức khai thác), trình độ nguồn lao động, công nghệ kỹ thuật sản xuất. Do đó, cấu trúc chi phí cấu thành của sản phẩm đã có sự khác nhau, tạo nên những sản phẩm cùng chủng loại và mục đích sử dụng, nhưng khác nhau về giá thành. Chính vì vậy, các sản phẩm này khi đem xuất khẩu ở quốc gia nhập khẩu thì giá của chúng cũng có sự khác nhau. Hơn nữa, bản thân chúng trên thị trường nước nội địa so với những sản phẩm tương tự lại có mức giá khác nhau. Từ nhiều số liệu về giá mua bán hàng hóa trên thị trường nội địa và các số liệu về giá xuất khẩu không đồng nhất, cơ quan điều tra phải tính toán biên độ phá giá cho mỗi loại sản phẩm của từng doanh nghiệp xuất khẩu, chỉ cần có sự sai sót thì đều dẫn đến sự tính toán sai lệch.

Thứ ba, giới hạn của pháp luật chống bán phá giá đó là các khung pháp luật về dịch vụ thương mại vẫn đang trong quá trình xây dựng, pháp luật về tự vệ thương mại và chống bán phá giá không áp dụng cho dịch vụ. Nhìn chung, pháp luật bán phá giá theo nguyên tắc đối vật, tức là chỉ giải quyết trên vật chứ không giải quyết những gì không phải là vật, chỉ giải quyết hiện vật chứ không xử lý chủ thể sở hữu hiện vật. Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất vật chất hiện hữu của hàng hoá và nhấn mạnh đến đối tượng xử lý của các biện pháp chống bán phá giá là hàng hoá. Khi hàng hóa nhập khẩu bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, pháp luật được sử dụng để xử lý hàng hoá nhập khẩu mà không xử phạt người đã thực hiện hành vi. Các biện pháp được sử dụng không nhằm mục đích loại bỏ sản phẩm bị bán phá giá ra khỏi thị trường, cũng không để trừng phạt chủ thể thực hiện hành vi mà chỉ là loại bỏ hoặc ngăn chặn thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra cho ngành sản xuất trong nước[4].

2. Lý thuyết phân biệt giá

Phân biệt giá là việc áp dụng các mức giá khác nhau cho những khách hàng có giao dịch như nhau. Trong pháp luật cạnh tranh, hành vi phân biệt giá giữa các khách hàng khác nhau là hành vi mang tính lạm dụng. Theo đó, hành vi định giá phân biệt là hành vi do doanh nghiệp ấn định mức giá bán khác nhau trong các giao dịch như nhau nhằm thu lợi bất chính. Nguyên nhân của hiện tượng phân biệt giá là do việc áp dụng giá khác nhau do khả năng chi trả đàm phán của khách hàng, phân bổ chi phí hoặc là hệ quả của chiến lược đòn bẩy, chiếm đoạt thị trường của doanh nghiệp. Dưới góc độ kinh tế, trong những điều kiện khác nhau thì chi phí để thực hiện các giao dịch sẽ khác nhau. Tuy nhiên, với các giao dịch được tiến hành ở những điều kiện như nhau mà doanh nghiệp lại tiến hành định ra các mức giá khác nhau thì doanh nghiệp đã tạo ra sự định giá phân biệt. Trong pháp luật cạnh tranh, hành vi phân biệt giá được xác định dựa trên những căn cứ sau:

Một là, tiến hành quan sát hiện tượng bên ngoài, đó là việc so sánh giá mua hoặc giá bán của sản phẩm của các giao dịch như nhau với nhiều nhóm khách hàng khác nhau. Nếu có sự khác biệt về giá bán hoặc giá mua giữa nhiều nhóm khách hàng khác nhau thì kết luận có sự phân biệt giá.

Hai là, nhóm khách hàng khác nhau phải như nhau về các nội dung, điều kiện thương mại, tức là có giao dịch như nhau, nhưng lại có sự khác biệt về giá mua hoặc giá bán. Các giao dịch được coi là như nhau nếu chúng giống nhau về đối tượng mua bán, giống nhau về sản lượng mua bán, giống nhau về thời điểm giao kết của các hợp đồng, giống nhau về mức độ liên tục của giao dịch, giống nhau về cấp độ thương mại.

Ba là, giả định có sự phân biệt giá đã tồn tại, điều kiện để phân biệt giá thành công thì doanh nghiệp phải có cơ sở phân loại khách hàng, nếu không phân loại thì doanh nghiệp phải có chiến lược ngăn chặn sự thông đồng giữa các nhóm khách hàng.

Bốn là, chiến lược phân biệt giá chỉ đạt được mục đích của doanh nghiệp nếu có tính liên tục, dài hạn (có tầm chiến lược).

Về mặt lý thuyết, bán phá giá là một dạng hành vi phân biệt giá. Lý thuyết về phân biệt giá để xây dựng căn cứ xác định hiện tượng bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu. Trong TMQT, sự tồn tại của biên giới quốc gia đã mặc nhiên tạo ra sự phân loại khách hàng, và ngăn chặn sự thông đồng của các nhóm khách hàng. Ở đây, sự khác biệt về giá do cùng doanh nghiệp thực hiện ở các vùng khác nhau dẫn đến sự so sánh về giá. Tất cả các giao dịch được chọn lựa để xác định giá so sánh đều phải là các giao dịch như nhau. Tuy nhiên, trong TMQT luôn tồn tại sự khác nhau về giá. Các giao dịch được lựa chọn như nhau mà có sự khác biệt về giá phải được quy đổi về cùng điều kiện giống nhau và loại trừ những điểm khác nhau. Để kết luận có hành vi bán phá giá thì phải chứng minh đó là một chiến lược, hành vi đó phải xảy ra trong khoảng thời gian đáng kể, và là một chuỗi các hành vi chứ không phải là một số giao dịch. Bán phá giá là kết quả của chuỗi hành động trong một khoảng thời gian chứ không phải là một số hành động trong một thời gian nhất định. Thời kỳ điều tra được xác định là trong khoảng thời gian trước đó có tất cả giao dịch. Để xác định có hành vi bán phá giá thì phải trải qua bốn bước cơ bản:

Bước 1: Chọn giao dịch thực tế (giao dịch xuất khẩu và giao dịch tại nội địa);

Bước 2: Tìm giá của hai loại giao dịch để làm cơ sở tiến hành so sánh giá;

Bước 3: Thẩm tra các loại giao dịch có như nhau không, nếu khác nhau thì tiến hành điều chỉnh sự khác biệt để so sánh giá;

Bước 4: Tiến hành so sánh giá.

3. Lý thuyết định giá hủy diệt

Lý thuyết định giá hủy diệt (định giá cướp đoạt) ra đời từ nhận thức về cạnh tranh trong lĩnh vực giá cả giữa các doanh nghiệp. Khi giá của một sản phẩm giảm xuống sẽ làm cho giá của sản phẩm cạnh tranh khác (nếu không thay đổi về giá) trở thành cao tương đối trước nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm có mức giá thấp có được lợi thế cạnh tranh về giá, nên các đối thủ còn lại bị đặt vào tình trạng hoặc phải chạy đua để giảm giá, hoặc chấp nhận mất dần khách hàng với mức giá không đổi. Khi giá bán có thể gây lỗ cho đối thủ thì mức giá đó được suy đoán là có khả năng hủy diệt. Mức giá có khả năng hủy diệt đối thủ có thể là kết quả của quá trình cạnh tranh lành mạnh về giá, hoặc của hành vi định giá hủy diệt[5]. Để có thể tiến hành hành vi định giá hủy diệt, cần thiết phải tồn tại những điều kiện nhất định. Những điều kiện này bao gồm:

1)   Đối tượng của các chiến lược ngăn cản, loại bỏ phải là doanh nghiệp có tiềm lực yếu hoặc có chi phí sản xuất cao. Do đó, doanh nghiệp thực hiện chiến lược loại bỏ có thể dễ dàng thao túng họ bằng chiến lược giá của mình;

2)      Cấu trúc thị trường phải được tái thiết theo cách mà doanh nghiệp thực hiện chiến lược loại bỏ có thể dự trù trước, sau khi thực hiện xong chiến lược ngăn cản loại bỏ;

3)       Lợi nhuận độc quyền khi thị trường được tái cấu trúc, sau khi đã hoàn thành chiến lược loại bỏ, phải lớn hơn những lợi ích hiện tại mà doanh nghiệp phải hy sinh khi thực hiện chiến lược[6].

Một cách tổng quát, định giá hủy diệt là việc doanh nghiệp bán hàng hóa dưới giá thành nhằm chiếm đoạt thị trường. Có hai điều kiện với hành vi này: (i) Doanh nghiệp đã bán hàng hóa thấp hơn giá thành; (ii) Mục đích nhằm chiếm đoạt thị trường. Cần lưu ý, trong nhiều trường hợp, việc bán hàng hóa dưới giá thành nhưng không cấu thành hành vi định giá hủy diệt như bán lỗ do doanh nghiệp tính toán sai lầm về sản lượng sản xuất nên chi phí biên của hàng hóa cao hơn mặt bằng giá trên thị trường, hoặc thị trường có những suy thoái như biến động về cầu, sự dư thừa về sản lượng làm cho các doanh nghiệp trên thị trường gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, buộc họ phải xem xét lại các điều kiện sản xuất, mua bán cho phù hợp, thậm chí phải chấp nhận lỗ để giữ chân khách hàng nếu họ muốn tồn tại[7]. Trong trường hợp còn lại thì việc bán dưới giá thành có thể nhằm mục đích định giá hủy diệt khi có mục đích chiếm đoạt thị trường, tức là người thực hiện hành vi phải có sức mạnh thị trường, giữ vị trí thống lĩnh thị trường để tiêu diệt đối thủ, nếu không có khả năng tiêu diệt đối thủ thì dù bán lỗ cũng không có mục đích định giá hủy diệt. Việc bán lỗ tạo ra sức ép cạnh tranh với đối thủ thông qua lợi thế về giá (giá đã bán thấp hơn so với giá đối thủ, đẩy đối thủ vào trong tình trạnh bất lợi về giá). Khả năng gây thiệt hại về thị phần thể hiện qua sự giảm sút về sản lượng, doanh thu, khách hàng. Chính vì vậy, theo lý thuyết chung, bán phá giá không còn là định giá hủy diệt mà chỉ là hiện tượng phân biệt giá quốc tế nên cấu thành pháp lý của hành vi này không là sự so sánh giữa giá bán thực tế với giá thành toàn bộ của sản phẩm. Mục đích hay hậu quả tiêu diệt đối thủ cạnh tranh không là căn cứ để xác định hành vi bán phá giá, mà là một trong những cơ sở để quyết định có áp dụng các biện pháp để chống bán phá giá hay không[8]. Chiến lược bán phá giá để chiếm đoạt thị trường còn thông qua cơ chế đòn bẩy, hỗ trợ. Trong môi trường cạnh tranh tại nước nhập khẩu thì việc bán phá giá tạo ra lợi thế cạnh tranh của hàng nhập khẩu so với hàng hóa nội địa. Việc bán phá giá tạo ra sức ép về giá dẫn đến việc xói mòn giá (buộc hạ giá theo), hoặc kìm hãm giá (không cho tăng giá mặc dù tăng giá mới có lãi). Ngoài ra, còn phải xem xét liệu doanh nghiệp ở quốc gia nhập khẩu có bị thiệt hại trong thị trường nội địa không. Như vậy, việc định giá hủy diệt không dùng trực tiếp để xác định có bán phá giá, mà để xác định khả năng gây thiệt hại và thiệt hại ở nước nhập khẩu phải chịu, khả năng gây thiệt hại của hàng hóa nhập khẩu.

4. Lý thuyết chống cạnh tranh không lành mạnh

Pháp luật các nước đều không đưa ra được khái niệm cạnh tranh không lành mạnh có thể bao quát mọi biểu hiện trên thực tế. Vì vậy, nếu có đưa ra khái niệm cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật các nước cũng phải kèm theo các quy định liệt kê từng hành vi cụ thể. Với những lý do đó, lý thuyết về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh cho dù có những cách thức tiếp cận khác nhau, nhưng đều có sự thống nhất về những căn cứ để nhận dạng cạnh tranh không lành mạnh. Theo đó, cạnh tranh không lành mạnh là hành vi:

1)         Nhằm mục đích cạnh tranh phát sinh trong kinh doanh;

2)         Trái với pháp luật cạnh tranh hoặc tập quán kinh doanh thông thường;

3)          Gây thiệt hại cho đối thủ hoặc cho khách hàng[9].

Có thể hiểu đơn giản, cạnh tranh không lành mạnh là một thứ cạnh tranh quá mức và vì thế, nó gây tác dụng ngược. Nhà nước không chỉ có trách nhiệm không tạo ra lợi thế hay bất lợi cho một đối thủ cạnh tranh, mà còn cần ngăn chặn việc các đối thủ cạnh tranh tạo ra lợi thế cho mình bằng bất kỳ thủ đoạn nào họ muốn. Nếu không, trật tự kinh tế sẽ bị rối loạn và nhiều doanh nghiệp trung thực bị gạt khỏi cuộc chơi. Xét một cách khái quát, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ngăn chặn các hành vi của doanh nghiệp nhằm tạo lợi thế cạnh tranh một cách không chính đáng trước các đối thủ cạnh tranh khác. Những vụ việc thực tế về cạnh tranh không lành mạnh đều thể hiện một bản chất chung, theo đó doanh nghiệp toan tính đạt được thành công trên thị trường không dựa trên nỗ lực cải thiện chất lượng, giá cả của sản phẩm, mà bằng cách chiếm đoạt những ưu thế của sản phẩm từ người khác, hoặc tác động sai trái lên khách hàng.

Trong TMQT, việc bán phá giá có thể đem lại lợi ích cho người tiêu dùng vì họ có cơ hội mua được sản phẩm giá rẻ. Với tâm lý chung, người tiêu dùng thường có xu hướng lựa chọn sản phẩm thỏa mãn với nhu cầu của họ nhưng lại ở mức giá rẻ hơn mức giá họ có thể chi trả trong điều kiện thương mại thông thường. Việc xuất hiện của hàng hóa nhập khẩu cùng loại với mức giá rẻ hơn sản phẩm nội địa tương tự làm cho người tiêu dùng vừa thỏa mãn nhu cầu của mình vừa tăng được thặng dư trong tiêu dùng. Trong một chừng mực nào đó, việc bán phá giá đã có tác dụng làm tăng thặng dư tiêu dùng ở nước nhập khẩu. Ngoài ra, việc bán phá giá còn giúp cho các doanh nghiệp liên quan ở nước nhập khẩu hoạt động ở ngành sản xuất khác có sử dụng hàng hóa nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. Khi hàng hóa nhập khẩu bán phá giá thì các doanh nghiệp liên quan này có được nguồn nguyên liệu rẻ hơn để sản xuất kinh doanh, giúp tiết kiệm chi phí sản xuất trong khi đó giá bán lại không đổi (lợi nhuận đương nhiên sẽ tăng theo), từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành sản xuất mà họ hoạt động. Tuy nhiên, quyền lợi của người tiêu dùng có thể bị xâm hại trong dài hạn nếu doanh nghiệp nước ngoài bán phá giá hàng hóa để thực hiện chiến lược chiếm đoạt thị trường bằng cách định giá hủy diệt ngành sản xuất trong nước. Mặc dù bán phá giá đem lại lợi ích cho người tiêu dùng ở hiện tại, song khi đã chiếm đoạt được thị trường nhập khẩu, giá của hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng vọt trong tương lai để các doanh nghiệp lấy lại những gì đã mất từ việc phá giá. Người tiêu dùng lại trở thành nạn nhân của mức giá độc quyền do các doanh nghiệp nước ngoài ấn định. Sự suy đoán về khả năng giá tăng trong tương lai hoặc sản lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ giảm để chi phối cung cầu là một trong những căn cứ để kết luận về bản chất cạnh tranh không lành mạnh của hành vi bán phá giá có mục đích cướp đoạt thị trường. Như vậy, bản chất cạnh tranh không lành mạnh của hành vi bán phá giá là sự lạm dụng bằng cách tranh giành thị trường của các đối thủ cạnh tranh, cụ thể là các doanh nghiệp cạnh tranh nội địa. Sự suy giảm của ngành sản xuất nội địa ở hiện tại hoặc tương lai do bán phá giá gây ra là bằng chứng chứng minh rằng quốc gia nhập khẩu đã bị cản trở khả năng phát triển lợi thế so sánh. Việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá được đặt ra nhằm bảo vệ thương mại tự do, bảo vệ lợi thế so sánh của quốc gia nhập khẩu đang bị đe dọa bởi hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu[10].

Tóm lại, trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, với những ưu thế về lực lượng lao động trẻ, đông về số lượng, rẻ về giá thành, trong bối cảnh thực hiện chính sách tăng cường xuất khẩu, việc hàng hóa Việt Nam là đối tượng chịu sự áp đặt các biện pháp chống bán phá giá của nhiều thị trường khác là điều không thể tránh khỏi. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tìm hiểu đầy đủ các quy định về bán phá giá, chống bán phá giá của WTO cũng của như các quốc gia nhập khẩu, để từ đó xây dựng các biện pháp đối phó một cách hiệu quả hơn./.

 



[1] Xem: Hiệp định về việc Thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994, Điều 2.1.

[2] Xem: Study Report on the EU and US trade remedies against Vietnamese products, p. 2-3.

[3] Nguyễn Ngọc Sơn (2010), Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Người hướng dẫn: PGS,TS. Nguyễn Như Phát, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 24.

[4] Nguyễn Ngọc Sơn (2010), Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, tlđd, tr. 26.

[5] Nguyễn Ngọc Sơn, Hành vi định giá hủy diệt và việc ứng dụng trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 19(135), tháng 10/2008, tr. 25-33.

[6] Phạm Hoài Huấn, Hành vi định giá huỷ diệt trong pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8/2011, tr. 43-48.

[7] Nguyễn Ngọc Sơn, Hành vi định giá hủy diệt và việc ứng dụng trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam, tlđd, tr. 25-33.

[8] Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, tlđd, tr. 40.

[9] Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình Luật Cạnh tranh, Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), 2010, tr. 24.

[10] Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, tlđd, tr. 21-24.

Trịnh Tuấn Anh, ĐH Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân