Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 22/05/2018, 05:35(GMT+7)
 
Nhà nước và pháp luật

Bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam và việc gia nhập Công ước 159 của ILO
Bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam và việc gia nhập Công ước 159 của ILO
Ảnh: Internet

Tóm tắt: Bài viết phân tích khái niệm về quyền lao động và việc làm, bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật; chính sách và việc thực hiện chính sách bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật; việc gia nhập Công ước 159 (Công ước về Phục hồi chức năng lao động và Việc làm của người khuyết tật) của Tổ chức Lao động quốc tế; nêu một số ý kiến đề xuất, kiến nghị bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.

Từ khoá: bảo đảm quyền; ILO, lao động việc làm; người khuyết tật; Công ước 159

Abstract: This article provides the analysis of the concept of the right to work and employment, the assurance of rights to work and employment of disabled persons; the policy and implementation of policies to ensure the right to work and employment of disabled persons; accession to the Convention of the International Labor Organization’s Convention No. 159 (the Vocational Rehabilitation and Employment (Disabled Persons) Convention); some suggestions and recommendations to ensure the right to work and employment of people with disabilities in Vietnam today.

Keywords: right assurance; ILO, employment; disabled persons; Convention No. 159

 

 

 

1. Khái niệm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật, bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật

Lao động là hoạt động sáng tạo nên các giá trị vật chất và tinh thần để thoả mãn các nhu cầu của con người. Lao động cũng tạo nên các giá trị, phẩm giá cho con người. Lao động gắn chặt với việc làm, được thực hiện thông qua việc làm - công việc theo ngành nghề, lĩnh vực chuyên môn nhất định và có tính ổn định lâu dài. Do vậy, lao động và việc làm đã trở thành nhu cầu tất yếu, có tính thống nhất và có ý nghĩa quyết định đối với cuộc sống, địa vị xã hội của tất cả mọi người. Về mặt thuật ngữ và định nghĩa khái niệm, hiện chưa có tài liệu nào đề cập khái niệm quyền lao động và việc làm. Có những tác giả gọi quyền này là “quyền lao động”, “quyền được làm việc” hoặc “quyền có việc làm”[1]. Chúng tôi cho rằng, nên gọi đây là “quyền lao động và việc làm” (cũng có thể gọi là quyền lao động việc làm) thì mới thể hiện được đầy đủ, trọn vẹn nội dung, ý nghĩa, vai trò của quyền như đã phân tích trên. Quyền lao động và việc làm là quyền thiêng liêng, cao quý của con người, đã được cộng đồng quốc tế và các quốc gia công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Đối với người khuyết tật, quyền lao động và việc làm lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn, bởi lẽ nếu quyền này được tôn trọng và bảo đảm thì mới tạo ra cơ hội thực tế để người khuyết tật có thể tiếp cận, hoà nhập, bình đẳng với mọi người trong cộng đồng xã hội. Việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật phải được thực hiện theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử, đồng thời có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật.

Quyền lao động và việc làm là tổ hợp các quyền được được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người, đặc biệt là Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 của Liên hiệp quốc và một số công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)[2]. Quyền lao động và việc làm của người khuyết tật cũng tiếp tục được nhấn mạnh trong Công ước về Quyền của người khuyết tật năm 2006 (Điều 27)[3]. Ở Việt Nam, quyền lao động và việc làm của công dân đều được các bản Hiến pháp ghi nhận[4] . Đồng thời, trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử, để cụ thể hoá Hiến pháp, bên cạnh quyền lao động và việc làm của mọi công dân, Bộ luật Lao động có những quy định thể hiện sự tôn trọng, bảo đảm quyền lao động và việc làm đối với người khuyết tật - nhóm lớn nhất trong số các nhóm dễ bị tổn thương.

Bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật là việc thực hiện trách nhiệm của Nhà nước, xã hội nhằm tạo ra các điều kiện phù hợp để người khuyết tật có cơ hội tiếp cận, hưởng thụ quyền lao động và việc làm của mình một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử. Với ý nghĩa như vậy, bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật bao hàm sự bảo đảm cả về mặt thể chế (xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật - bảo đảm pháp lý) và bảo đảm về mặt thực tế (thực hiện chính sách, pháp luật).

2. Chính sách và việc thực hiện chính sách bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Cùng với Luật Người khuyết tật, Bộ luật Lao động, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Việc làm, Luật Xây dựng, Luật Giao thông đường bộ, Luật Bảo hiểm y tế, Luật An toàn, vệ sinh lao động... ghi nhận, bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật. Nhà nước cũng đã triển khai những đề án, kế hoạch nhằm trợ giúp người khuyết tật trong tiếp cận việc làm. Có thể kể đến một số văn bản quan trọng như Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 (được phê duyệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009; Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020 (được phê duyệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1019/QĐ-TTg ngày 5/8/2012); Chỉ thị của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội số 3930/BLĐTBXH-TCDN ngày 21/10/2014 về nâng cao hiệu quả và chất lượng trong thực hiện mục tiêu dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật v.v..

Trên cơ sở sự ghi nhận của pháp luật về quyền lao động và việc làm của người khuyết tật, Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của người khuyết tật, khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động (SDLĐ) tạo ra việc làm và nhận người lao động (NLĐ) khuyết tật vào làm việc. Giải quyết việc làm cho người khuyết tật không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà là của toàn xã hội. Pháp luật quy định các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ điều kiện vào làm việc hoặc hạn chế cơ hội làm việc của họ bằng cách đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái pháp luật. Cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân SDLĐ là người khuyết tật có trách nhiệm bố trí, sắp xếp công việc, đảm bảo môi trường và điều kiện làm việc phù hợp đối với người khuyết tật. Người SDLĐ phải tham khảo ý kiến lao động là người khuyết tật khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ. Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng từ 30% trở lên tổng số lao động là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất, kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của NLĐ và quy mô doanh nghiệp. Quỹ việc làm cho người khuyết tật được thành lập để cấp hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhận người khuyết tật làm việc, điều kiện vay, thời hạn vay, mức vốn vay và mức lãi suất vay thực hiện theo quy định hiện hành áp dụng đối với dự án vay vốn giải quyết việc làm. Pháp luật còn quy định doanh nghiệp có sử dụng từ 10 người khuyết tật làm việc ổn định sẽ được hưởng ưu đãi về cải tạo điều kiện, môi trường làm việc; ưu đãi về vay vốn ưu đãi theo dự án phát triển kinh doanh từ ngân hàng chính sách xã hội. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết tật làm việc ổn định được hưởng chính sách về cải tạo điều kiện, môi trường làm việc[5].

Khi tham gia vào quan hệ lao động, người khuyết tật cũng có các quyền, nghĩa vụ như mọi người trong tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc thù của lao động là người khuyết tật, pháp luật quy định NLĐ là người khuyết tật có đủ 12 tháng làm việc cho một người SDLĐ thì được nghỉ 14 ngày làm việc (12 ngày làm việc đối với lao động không khuyết tật)[6]. Họ không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định. Người khuyết tật bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên không phải làm thêm giờ, làm việc ban đêm. Ngoài ra, hàng năm người SDLĐ phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho NLĐ là người khuyết tật ít nhất 6 tháng một lần.

Trên thực tế hiện nay, việc bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật tuy đã có nhiều tiến bộ nhưng do những nguyên nhân khác nhau mà tình trạng người khuyết tật không có việc làm vẫn còn phổ biến[7], phân biệt đối xử với lao động là người khuyết tật vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi. Phần lớn công việc của lao động là người khuyết tật đang đảm nhiệm là những vị trí không thuộc diện chính thức của thị trường lao động, không đòi hỏi trình độ chuyên môn, tay nghề cao, có thu nhập thấp, khó đảm bảo cuộc sống, ít hoặc không có cơ hội thăng tiến. Chính sách pháp luật bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật vẫn còn những điểm chưa thực sự hợp lý. Chẳng hạn, đơn vị sử dụng ổn định từ 10 lao động là người khuyết tật trở lên được hỗ trợ, còn đơn vị SDLĐ là người khuyết tật làm việc ổn định dưới con số đó lại không được hưởng bất kỳ sự ưu đãi nào. Khoảng cách giữa 10 lao động là người khuyết tật và 30% tổng số lao động là người khuyết tật quá xa trong một số trường hợp. Có doanh nghiệp sử dụng số lượng lớn lao động là người khuyết tật nhưng chưa đạt tỷ lệ 30% không được hưởng chính sách ưu đãi, trong khi đó có doanh nghiệp SDLĐ là người khuyết tật ít hơn nhưng do tổng số lao động trong doanh nghiệp ít nên vẫn chiểm tỷ lệ 30% thì lại được hưởng chính sách ưu đãi. Điều này sẽ thiếu công bằng đối với các cơ sở, doanh nghiệp, đơn vị và không khuyến khích được người SDLĐ trong việc SDLĐ là người khuyết tật. Một số quy định mang tính hỗ trợ, ưu đãi đối với người khuyết tật có thể gây phản tác dụng, tạo nên rào cản đối với chính người khuyết tật. Những quy định riêng biệt đối với lao động là người khuyết tật làm cho người SDLĐ có xu hướng tâm lý né tránh SDLĐ là người khuyết tật[8].

Theo khảo sát của cơ quan chức năng về tình trạng người khuyết tật, tính ở thời điểm năm 2009 - 2010, khi Việt Nam đang xây dựng, ban hành Luật Người khuyết tật và Nghị định số 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Người khuyết tật, có tới 79,13% số người khuyết tật ở độ tuổi lao động không có khả năng tham gia lao động và phải sống dựa vào gia đình, người thân; 88,94% số người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên chưa được đào tạo nghề; 34,4% số người khuyết tật trên 6 tuổi chưa biết chữ; 21,24% chưa tốt nghiệp tiểu học[9]. Năm 2011, theo báo cáo nghiên cứu khảo sát của ILO về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam thì các con số tương ứng còn cao hơn, cụ thể: tỷ lệ người khuyết tật không có trình độ chuyên môn là 93,4%; tỷ lệ người khuyết tật trên 6 tuổi mù chữ là 41%. Trong khi đó, tỷ lệ người khuyết tật có chứng chỉ đào tạo nghề là 6,5%; tỷ lệ gia đình người khuyết tật được hưởng lợi từ các dịch vụ phục hồi chức năng lao động do Chính phủ cung cấp là 4,6%[10]. Tuy chưa phản ánh đầy đủ thực trạng thực hiện quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam thời gian qua nhưng những con số đó cũng phần nào thể hiện tình trạng “có vấn đề” cần được giải quyết về trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong bảo đảm khả năng tiếp cận quyền lao động và việc làm đối với người khuyết tật.

3. Gia nhập Công ước 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật

3.1 Công ước 159 của ILO

Công ước 159 của ILO là Công ước về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật, được ILO thông qua ngày 20/6/1983 (Công ước 159). Công ước đưa ra các yêu cầu về phục hồi khả năng lao động và việc làm cho người khuyết tật, quy định về việc điều chỉnh và đánh giá các tài liệu hướng dẫn nghề nghiệp, dạy nghề, bố trí việc làm và dịch vụ thất nghiệp cho người khuyết tật. Như vậy, đối với người khuyết tật, bên cạnh việc phục hồi chức năng y tế, sức khoẻ thì phục hồi chức năng lao động và việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng, điều này thậm chí có tính quyết định cho việc hoà nhập bình đẳng vào cộng đồng xã hội. Bởi lẽ, chức năng lao động và việc làm chỉ có thể được phục hồi trên cơ sở chức năng y tế, sức khoẻ đồng thời người khuyết tật được trang bị kỹ năng lao động theo nghề nghiệp, có khả năng tìm kiếm, duy trì được việc làm và thăng tiến với nó. Nếu được phục hồi về chức năng y tế, sức khoẻ mà người khuyết tật không có khả năng tìm kiếm và duy trì việc làm thì việc hoà nhập hoặc tái hoà nhập với xã hội của họ khó có thể được bảo đảm bền vững và thực chất. Đây cũng chính là tinh thần, ý nghĩa nhân văn của Công ước 159. Theo thống kê, tính đến tháng 10/2017, trên thế giới đã có 83/187 quốc gia thành viên ILO[11] đã phê chuẩn Công ước 159. Công ước có 17 điều luật, được kết cấu thành 3 phần với nội dung chính sau:

- Định nghĩa và phạm vi áp dụng (Phần I, Điều 1)

Công ước định nghĩa người khuyết tật là cá nhân mà khả năng có việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được công nhận. Mục đích của phục hồi chức năng lao động là tạo cho người khuyết tật có khả năng tìm được một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó và nhờ đó thúc đẩy việc hoà nhập hoặc tái hoà nhập của cá nhân đó vào xã hội. Không phân biệt thành các dạng tật khác nhau, các quy định của Công ước đều được áp dụng đối với tất cả các dạng khuyết tật.

- Nguyên tắc trong chính sách phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật (Phần II, Điều 2 - Điều 5)

+ Theo điều kiện, tập quán và khả năng của đất nước mình, Công ước đặt trách nhiệm của quốc gia thành viên là phải xây dựng, thực hiện và định kỳ xem xét lại chính sách quốc gia trong lĩnh vực phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật (Điều 2).

+ Chính sách quốc gia về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật cần phải nhằm bảo đảm việc ban hành các biện pháp tạo việc làm thích hợp cho người khuyết tật thuộc mọi dạng tật và nhằm thúc đẩy cơ hội việc làm cho người khuyết tật trên thị trường lao động mở (Điều 3).

+ Chính sách quốc gia về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng về cơ hội giữa NLĐ có khuyết tật và NLĐ nói chung; sự bình đẳng về cơ hội và đối xử giữa NLĐ nam giới có khuyết tật với NLĐ nữ giới có khuyết tật. Những biện pháp tích cực, đặc biệt nhằm bảo đảm bình đẳng thực sự về cơ hội và về đối xử giữa NLĐ có khuyết tật với NLĐ khác không bị coi là phân biệt đối xử với NLĐ khác (Điều 4).

+ Tham vấn ý kiến của các tổ chức đại diện của NLĐ, của người SDLĐ trong việc thực hiện chính sách, kể cả những biện pháp được thực hiện nhằm khuyến khích sự hợp tác và phối hợp giữa các thể chế công và tư hoạt động trong lĩnh vực phục hồi chức năng lao động. Các tổ chức của người khuyết tật hoặc vì người khuyết tật cũng phải được tham khảo ý kiến (Điều 5).

- Hành động ở cấp quốc gia để phát triển dịch vụ phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật (Phần III, Điều 6 - Điều 9)

Theo tinh thần các quy định tại các điều luật tương ứng trong Công ước, các biện pháp, hành động cần thiết để thực thi chính sách quốc gia về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật được triển khai qua hai phương diện sau:

+ Một là: Phát triển dịch vụ do Nhà nước trực tiếp cung cấp thông qua hệ thống mới hoặc điều chỉnh hệ thống hiện có;

+ Hai là: Đưa ra các chính sách ưu đãi để khuyến khích sự phát triển của những dịch vụ này. Theo đó: (a) cung cấp và đánh giá các dịch vụ về hướng nghiệp, đào tạo nghề, sắp xếp việc làm, tuyển dụng và các dịch vụ khác có liên quan giúp cho người khuyết tật tìm được và duy trì được việc làm; (b) Trong trường hợp điều kiện cho phép và xét thấy phù hợp, các dịch vụ hiện có dành cho NLĐ nói chung nên có sự điều chỉnh cần thiết để cung cấp dịch vụ cho cả người khuyết tật; (c) Khuyến khích việc thành lập và phát triển các dịch vụ phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật ở nông thôn và các vùng sâu, vùng xa.

Công ước cũng đặt yêu cầu mọi quốc gia thành viên phải đặt mục tiêu đảm bảo đào tạo và đưa vào sử dụng đội ngũ hướng dẫn viên về phục hồi chức năng lao động và nhân viên có tay nghề phù hợp để đảm đương công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề, sắp xếp việc làm và tuyển dụng lao động là người khuyết tật (Điều 9).

- Điều khoản cuối cùng (Phần IV, Điều 10 - Điều 17):

Trong phần này, Công ước quy định: việc phê chuẩn Công ước phải được thông báo tới Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế để đăng ký (Điều 10); Công ước chỉ mang tính ràng buộc với những quốc gia thành viên ILO đã đăng ký phê chuẩn và sẽ phát sinh hiệu lực chính thức đối với quốc gia thành viên 12 tháng sau khi quốc gia đó đã đăng ký phê chuẩn với Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế (Điều 11). Các điều khoản còn lại trong Công ước quy định các vấn đề về thủ tục đăng ký phê chuẩn hoặc bãi bỏ phê chuẩn; sửa đổi Công ước; ngôn ngữ thể hiện của Công ước.

Song song với Công ước 159 nêu trên, ngày 20/6/1983, ILO cũng đã ban hành bản Khuyến nghị 168 về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật[12]. Khuyến nghị 168 được coi là văn bản hỗ trợ quan trọng cho Công ước 159 trong nỗ lực tạo nền tảng pháp lý quốc tế nhằm đạt tới mục tiêu của phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật trên phạm vi toàn thế giới.

3.2 Việc gia nhập Công ước 159 của ILO

Là thành viên của ILO[13], Việt Nam có nghĩa vụ thường xuyên xem xét và gia nhập các công ước ILO đã thông qua trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Ở phạm vi có tính phổ quát, trước đây, trên lĩnh vực lao động và việc làm nói chung, nhằm kiến tạo, hình thành thị trường lao động, Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước số 122 của ILO về chính sách việc làm, Công ước số 187 về khung chính sách thúc đẩy an toàn vệ sinh lao động[14]. Hiện nay, bên cạnh việc chuẩn bị điều kiện gia nhập Công ước 159, Việt Nam cũng đang trong quá trình nghiên cứu đề xuất gia nhập Công ước 88 về dịch vụ việc làm[15] và Công ước 181 về tổ chức dịch vụ việc làm tư nhân[16]. Điều đó cho thấy rõ tính tích cực, chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền lao động và việc làm cho người khuyết tật. Mặt khác, qua đây cũng thể hiện rõ quan điểm đặt việc bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam trong một tổng thể các chính sách đồng bộ nhằm tạo lập điều kiện phát triển thị trường lao động, chứ không phải là một chính sách đơn lẻ, có tính ưu tiên, chiếu cố đến người khuyết tật theo tư duy bảo trợ thuần tuý.

Thật ra, tinh thần và nội dung các quy định của Công ước 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật sau đó cũng đã được thể hiện và nâng cấp trong Công ước về quyền của người khuyết tật được Liên hiệp quốc thông qua năm 2006. Việt Nam đã ký tham gia Công ước này từ năm 2008, đã ban hành Luật Người khuyết tật năm 2010, đã phê chuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước về Quyền của người khuyết tật năm 2014. Như vậy, về cơ bản có thể khẳng định tinh thần, nội dung Công ước 159 đã được tiếp nhận hoà quyện trong thể chế pháp lý và thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, việc gia nhập Công ước 159 vẫn là điều hết sức cần thiết hiện nay, bởi lẽ việc gia nhập Công ước này góp phần thực hiện định hướng chiến lược của Việt Nam trong việc hoàn thiện thể chế thị trường lao động, theo đó dành sự quan tâm trước hết với một trong những nhóm dễ bị tổn thương có tính đặc thù là cộng đồng người khuyết tật[17]. Mặt khác, so với Công ước 159 thì quy định của Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hiệp quốc, Luật Người khuyết tật và Bộ luật Lao động về quyền lao động và việc làm của người khuyết tật chỉ có tính khái quát, không được chi tiết, cụ thể bằng vì đây là điều ước quốc tế và những văn bản quy phạm pháp luật có tính bao quát cao, điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội xung quanh vấn đề quyền của người khuyết tật hay quyền lao động và việc làm của người khuyết tật. Vì thế, đây cũng là cơ hội để Việt Nam nhìn lại toàn bộ hệ thống chính sách và việc thực hiện chính sách đối với người khuyết tật, thúc đẩy chính sách phục hồi chức năng lao động, dạy nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật. Rõ ràng, bên cạnh thực hiện trách nhiệm của thành viên ILO, việc gia nhập Công ước 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật cũng là việc làm có ý nghĩa thiết thực nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc gia của Việt Nam đối với Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của người khuyết tật, thực hiện có hiệu quả hơn các quy định của Luật Người khuyết tật và Bộ luật Lao động cũng như các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về quyền lao động và việc làm của người khuyết tật. Việc gia nhập Công ước 159 của Việt Nam ở thời điểm hiện nay tuy không còn sớm nhưng vẫn mang ý nghĩa, tác động lớn về nhiều mặt như chính trị, ngoại giao, nhất là về mặt kinh tế - xã hội. Việc gia nhập Công ước 159 cũng cho thấy sự quan tâm của Việt Nam đối với người khuyết tật, nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vực và quốc tế, thể hiện đúng truyền thống nhân đạo và tương thân tương ái của người Việt Nam. Đồng thời điều này cũng thể hiện sự cam kết mạnh mẽ và thay đổi cách nhìn với tình trạng khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không phải vấn đề y tế, xác lập sự dịch chuyển từ phương thức tiếp cận vấn đề khuyết tật từ hướng nhân đạo sang hướng nhân quyền[18].

Qua khảo sát, đánh giá của các cơ quan chức năng, có thể khẳng định nội dung các quy định và tinh thần chung của Công ước 159 không trái với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Việc gia nhập Công ước không những không xung đột, mâu thuẫn với lợi ích quốc gia, dân tộc, với đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước cũng như việc thực thi trách nhiệm của Việt Nam theo các điều ước quốc tế khác mà trái lại, việc gia nhập Công ước có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện cam kết thực thi các chính sách cải thiện chất lượng cuộc sống của người khuyết tật, từng bước tạo điều kiện cho người khuyết tật hoà nhập bình đẳng vào các hoạt động xã hội, xây dựng môi trường xã hội ngày càng bảo đảm tốt hơn cho quyền của người khuyết tật. Việc gia nhập Công ước 159 cũng cho thấy sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng người khuyết tật, nâng cao uy tín, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Theo quy định tại các Điều 28, 29 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, việc ký quyết định phê chuẩn gia nhập Công ước này là nhân danh Nhà nước và thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trình Chính phủ để Chính phủ trình Chủ tịch nước về việc phê chuẩn Công ước sau khi lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan (theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Điều ước quốc tế năm 2016).

Tuy vậy, xét trên một số khía cạnh cụ thể có thể thấy pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng còn những điểm chưa phù hợp với nội dung và tinh thần Công ước 159. Chẳng hạn, pháp luật mới quy định chung về điều kiện đối với các cơ sở dạy nghề mà chưa có quy định về đánh giá mức độ khuyết tật theo khả năng lao động, mới có quy định đánh giá dạng tật theo y tế, chưa có quy định đánh giá khả năng lao động còn lại. Chính vì vậy, việc dạy nghề cho người khuyết tật khó có thể phù hợp với khả năng lao động của họ và yêu cầu của nghề nghiệp tương lai, khi người khuyết tật đã được học nghề. Nếu nhìn từ khía cạnh bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật thì các quy định tại Điều 177 và Điều 178 Bộ luật Lao động năm 2012 vô hình trung hạn chế quyền lựa chọn công việc và nghề nghiệp của người khuyết tật. Pháp luật Việt Nam cũng chưa có quy định cụ thể về bình đẳng cơ hội và đối xử giữa NLĐ nam giới có khuyết tật với lao động nữ giới có khuyết tật mà quy định về lao động là người khuyết tật nói chung và quy định về bình đẳng giữa nam và nữ nói chung, mang tính trung tính, không phân biệt nam giới, nữ giới có khuyết tật và nam giới, nữ giới không có khuyết tật. Theo đánh giá của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, về cơ bản, tuy chính sách, pháp luật về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật, các biện pháp thực thi chính sách, pháp luật tương thích với các quy định của Công ước 159 nhưng hiện nay pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức quy định chung về cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật và nơi có SDLĐ là người khuyết tật mà chưa có quy định cụ thể để thực hiện việc giám sát đối với các cơ sở này. Pháp luật có quy định ưu đãi nhưng lại thiếu cơ chế giám sát thực thi và thiếu chế tài xử phạt cụ thể v.v..[19]. Tất cả những điểm chưa tương thích đó sẽ được khắc phục theo tiến trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về lao động, việc làm của Việt Nam khi chúng ta chính thức gia nhập Công ước 159.

Cùng với những thuận lợi, cơ hội tốt cho quốc gia trong tiếp cận các chương trình hợp tác, hỗ trợ kỹ thuật của ILO và các tổ chức trong và ngoài nước khi triển khai thực thi các tiêu chuẩn theo yêu cầu của Công ước, rõ ràng đối tượng được thụ hưởng thành quả của việc gia nhập Công ước này chính là cộng đồng người khuyết tật Việt Nam. Bên cạnh đó, sau khi gia nhập, với tư cách thành viên Công ước, Việt Nam sẽ phải triển khai thực hiện Công ước, phát triển hệ thống dịch vụ phục hồi chức năng lao động, hệ thống giáo dục nghề nghiệp, hệ thống dịch vụ việc làm theo yêu cầu của Công ước; phải tăng cường cơ chế thi hành và giám sát thi hành pháp luật về tổ chức dịch vụ phục hồi chức năng lao động cho người khuyết tật, hướng nghiệp, đào tạo nghề, sắp xếp việc làm và tuyển dụng lao động là người khuyết tật, chú trọng tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tăng cường năng lực đội ngũ làm công tác dịch vụ phục hồi chức năng lao động. Việt Nam cũng có nghĩa vụ tuân thủ quy định về việc báo cáo định kỳ hoặc báo cáo đột xuất về các biện pháp đã tiến hành thực hiện các điều khoản của Công ước.

4. Một số kiến nghị

Cần sớm phê chuẩn Công ước 159 nhưng để quyền lao động và việc làm của người khuyết tật được bảo đảm bền vững, cần phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lao động và việc làm, thực hiện đồng bộ các biện pháp, trong đó nên chú trọng những vấn đề sau:

-   Bảo đảm sự bình đẳng trong tiếp cận quyền lao động và việc làm cho mọi công dân, không phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật, bảo đảm điều kiện lao động có tính phổ cập cho cả người khuyết tật và người không khuyết tật.

-   Cụ thể hoá quy định về lao động là người khuyết tật trong Bộ luật Lao động, hoàn thiện các quy định về chống phân biệt đối xử với người khuyết tật; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, áp dụng nghiêm các chế tài; quy định hợp lý để thực sự khuyến khích người SDLĐ trong việc SDLĐ là người khuyết tật; đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, người SDLĐ nói chung trong việc bảo đảm việc làm đối với người khuyết tật.

-   Cùng với sự tôn trọng các quy luật của thị trường lao động, Nhà nước cần kiến tạo được chính sách trợ giúp có hiệu quả để phục hồi chức năng lao động cho người khuyết tật giúp họ tiếp cận, thực hiện được quyền lao động và việc làm của mình một cách bình đẳng, để họ có thể khẳng định được vai trò của mình và hoà nhập vào cộng đồng xã hội.

-   Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả chính sách xã hội hoá việc bảo đảm quyền lao động và việc làm đối với người khuyết tật, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, các đơn vị, tổ chức, cá nhân phát huy tiềm năng, sáng kiến, tạo ra nhiều việc làm cho NLĐ nói chung và người khuyết tật nói riêng.

-   Mở rộng các hình thức giáo dục, tuyên tuyền nhằm nâng cao nhận thức của cả xã hội và của chính những người khuyết tật về quyền lao động và việc làm của mọi công dân trong đó có quyền lao động và việc làm của người khuyết tật, về tinh thần, nội dung Công ước 159 và trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là thành viên của ILO và thành viên Công ước./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.       Nguyễn Quốc Anh, Thực trạng người khuyết tật và kết quả chăm sóc người khuyết tật, nguồn: http://www.gopfp.gov.vn

2.       Xuân Bách, Dự án Luật người khuyết tật mang đậm tính nhân văn, Báo Nhân dân điện tử. Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/18199302-.html.

3.       Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Báo cáo đánh giá tác động chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế-xã hội và tác động khác của Công ước số 159 .

4.       Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Báo cáo đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với các quy định của Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật.

5.       Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Rà soát pháp luật Việt Nam để tiến tới phê chuẩn Công ước số 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật.

Nguồn: http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/ChiTiet.aspx?IDNews=3180.

6.       Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Tờ trình về việc gia nhập Công ước số 159 của Tổ chức lao động quốc tế về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật (Dự thảo), Hà Nội, 11/2017.

7.       Trần Thuý Lâm, Việc làm đối với người khuyết tật – từ pháp luật đến thực tiễn thực hiện, Đặc san “Pháp luật người khuyết tật” của Tạp chí Luật học, tháng 10/2013.

8.       Vũ Hương Liên, Quyền lao động trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Luận văn ThS, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2007.

Nguồn: https://sachviet.edu.vn/threads/quyen-lao-dong-trong-phap-luat-quoc-te-va-phap-luat-viet-nam.41317.

9.       Trần Thị Tuyết Nhung, Quyền có việc làm của NLĐ – tiếp cận dưới góc độ quyền con người, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Nguồn:

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=182.

10.  Nguyễn Thị Quế, Quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam, Luận văn ThS, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2015.pdf.

Nguồn: repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/2302/1/00050004789.pdf.

11.  Văn phòng ILO tại Hà Nội, Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam.pdf.

            Nguồn: http://www.ilo.org/hanoi/Whatwedo/Publications/WCMS_157938/lang--vi/index.htm.  

12.  Văn phòng lao động quốc tế tại Geneva (2009), Công ước số 159 và Khuyến nghị số 168 về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật, pdf.

            Nguồn:http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/@asia/@ro-bangkok/documents/ normativeinstrument/wcms_118314.pdf.

13.  Văn phòng ILO tại Hà Nội, Chương trình hợp tác quốc gia ILO – Việt Nam về việc làm bền vững 2012 – 2016, pdf.

Nguồn:http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/---asia/---ro-bangkok/---ilo-hanoi/documents/ genericdocument/wcms_434273.pdf.

 

Bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2/2018.

 

 

 

 



[1]. Vũ Hương Liên, Quyền lao động trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Luận văn ThS, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2007. Nguồn: https://sachviet.edu.vn/threads/quyen-lao-dong-trong-phap-luat-quoc-te-va-phap-luat-viet-nam.41317; truy cập 28/11/2017.

     Trần Thị Tuyết Nhung, Quyền có việc làm của NLĐ - tiếp cận dưới góc độ quyền con người, Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Nguồn: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=182; truy cập 28/11/2017.

     Nguyễn Thị Quế, Quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam, Luận văn ThS, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2015. pdf. Nguồn:  repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/2302/1/00050004789.pdf, truy cập 28/11/2017.

[2]. “Quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp” (khoản 1 Điều 23 Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948), “quyền làm việc” (khoản 1 Điều 6 Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966). Quyền làm việc cũng được khẳng định, nhấn mạnh tại mục 27 (1) trong Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN năm 2012.

[3]. Điều 27 Công ước về Quyền của người khuyết tật ghi nhận, nhấn mạnh quyền của người khuyết tật trong lĩnh vực “lao động và việc làm”. Chính vì vậy có thể gọi đây là quyền lao động và việc làm của người khuyết tật.

[4]. Hiến pháp năm 1959 ghi nhận công dân có “quyền làm việc” (Điều 30). Theo Hiến pháp năm 1980, lao động là quyền, nghĩa vụ và vinh dự hàng đầu của công dân, công dân có “quyền có việc làm” (Điều 58). Hiến pháp năm 1992 quy định lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân, Nhà nước và xã hội có kế hoach tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ (Điều 55). Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu” (Điều 35). Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 còn ghi nhận trách nhiệm của Nhà nước trong việc ban hành và thực thi chính sách trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật (khoản 2 Điều 59).

  

[5]. Điều 10 Nghị định của Chính phủ số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật.

[6]. Khoản 1 Điều 111 Bộ luật Lao động năm 2012.

[7]. Nguyễn Quốc Anh, Thực trạng người khuyết tật và kết quả chăm sóc người khuyết tật,

nguồn: http://www.gopfp.gov.vn/so-1106;jsessionid=BBF1348CDF719ECDBF83967619253ACB?; truy cập 26/11/2017.

[8].Trần Thuý Lâm, Việc làm đối với người khuyết tật – từ pháp luật đến thực tiễn thực hiện, Đặc san “Pháp luật người khuyết tật” của Tạp chí Luật học, tháng 10/2013, tr.68.

[9]. Xuân Bách (2009), Dự án Luật người khuyết tật mang đậm tính nhân văn, Báo Nhân dân điện tử. Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/18199302-.html truy cập 3/12/2017.

[10]. Văn phòng ILO tại Hà Nội, Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam, PDF. Nguồn:http://www.ilo.org/hanoi/Whatwedo/Publications/WCMS_157938/lang--vi/index.htm, truy cập 28/11/2017.

[12].Văn phòng Lao động quốc tế tại Geneva (2009), Công ước số 159 và Khuyến nghị số 168 về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật, PDF.

Nguồn: http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/@asia/@ro-bangkok/documents/normativeinstrument/ wcms_ 118314. pdf, truy cập 28/11/2017.

[13]. Việt Nam gia nhập ILO năm 1980, năm 1982 thì rút khỏi ILO vì lý do kỹ thuật. Đến năm 1993, Việt Nam tái gia nhập ILO.

[14]. Năm 2014, Việt Nam tham gia Công ước số 187 của ILO. Đây là công ước thứ 21/187 công ước của ILO mà Việt Nam đã tham gia.

[15]. Văn phòng ILO tại Hà Nội, Chương trình hợp tác quốc gia ILO – Việt Nam về việc làm bền vững 2012 – 2016, PDF. Nguồn: http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/---asia/---ro-bangkok/---ilo-hanoi/ documents /genericdocument/wcms_434273.pdf. Truy cập 28/11/2017.

[16].Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 2528/QĐ-TTg ngày 31/12/2015 về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện và đề xuất gia nhập các công ước của Liên hiệp quốc và của Tổ chức Lao động quốc tế trong lĩnh vực lao động - xã hội giai đoạn 2016 – 2020.

[17]. Việc nghiên cứu, rà soát, đánh giá hệ thống pháp luật Việt Nam, chuẩn bị đề xuất gia nhập Công ước số 159 của ILO cũng đã được triển khai từ những năm trước đây (giai đoạn năm 2010 – 2015), ngay sau khi Luật Người khuyết tật mới được Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau, hoạt động này tiếp tục được đưa vào kế hoạch thực hiện ở giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 2528/QĐ-TTg ngày 31/12/2015. Xem thêm: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Rà soát pháp luật Việt Nam để tiến tới phê chuẩn Công ước số 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật. Nguồn:

http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/ChiTiet.aspx?IDNews=3180. Truy cập 28/11/2017.

[18]. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Báo cáo đánh giá tác động chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế-xã hội và tác động khác của Công ước số 159.

[19]. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Báo cáo đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với các quy định của Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật.

TS. Trần Thái Dương - Trường Đại học Luật Hà Nội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được kiểm soát và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (24/04/2018)
“Liêm chính học thuật”: Lý luận, thực tiễn và những yêu cầu đặt ra trên thế giới và ở Việt Nam (24/04/2018)
Phạm vi điều chỉnh giữa điều XVI- tiếp cận thị trường với điều XVII - đối xử quốc gia trong GATS và lưu ý về thiết kế của biểu cam kết cụ thể (19/04/2018)
Ban hành luật Chủ tịch nước: nhìn nhận từ lí thuyết và thực tế (11/04/2018)
Giải quyết tranh chấp hành chính với việc kiểm soát quyền lực nhà nước (10/04/2018)
Quyền được giáo dục theo quy định của luật quốc tế và cơ chế bảo đảm thực hiện (05/04/2018)
Công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ cải cách tư pháp thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ từ năm 2006 đến nay (29/03/2018)
Quyền được giáo dục theo quy định của luật quốc tế và cơ chế bảo đảm thực hiện (05/04/2018)
6.jpg
Đồng chí Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm VPQH phát biểu khai mạc Hội thảo "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và xã hội trong thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã"
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân