Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 22/07/2018, 12:05(GMT+7)
 
Nhà nước và pháp luật

Ban hành luật Chủ tịch nước: nhìn nhận từ lí thuyết và thực tế
Ban hành luật Chủ tịch nước: nhìn nhận từ lí thuyết và thực tế
Nguồn internet

Tóm tắt: Hiện nay, việc nghiên cứu xây dựng, ban hành Luật Chủ tịch nước ở nước ta là cần thiết. Điều này phù hợp với chủ trương của Đảng và là vấn đề đã được Quốc hội Khoá XIII xem xét quyết định, nhằm tiếp tục thể chế hoá, thi hành Hiến pháp năm 2013. Với sự chủ động, quyết tâm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, Luật Chủ tịch nước sẽ sớm được xây dựng, ban hành trong nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XIV.

Từ khóa: Chủ tịch nước; Luật Chủ tịch nước

Abstract: It is currently necessary to proceed the studies and promulgation of the Law on State President in Vietnam. This is in line with the Party's policy and the issue has been decided by the XIII National Assembly in order to continue the institutionalization and implementation of the Constitution of 2013. With the initiative and determination of the related agencies, related organizations and individuals, the State President's Law will soon be formulated and promulgated during the XIV National Assembly's tenure.

Keywords: State President, Law on President

 

1. Cơ sở xây dựng, ban hành Luật Chủ tịch nước

            Luật Chủ tịch nước (CTN) là văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội. Xác định nhu cầu xây dựng, ban hành một đạo luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, cả khách quan và chủ quan, và phải trả lời được các câu hỏi sau: (i) điều chỉnh quan hệ xã hội nào và có cần điều chỉnh bằng pháp luật hay không (cơ chế điều chỉnh và quan hệ điều chỉnh); (ii) pháp luật hiện hành đã điều chỉnh các quan hệ đó chưa, phù hợp chưa (sự cần thiết ban hành); nếu chưa thì sẽ điều chỉnh cái gì, đến đâu (phạm vi, đối tượng, nội dung, mục đích, quan điểm xây dựng, ban hành của VBQPPL) và bằng cách nào (hình thức VBQPPL và kỹ thuật lập pháp)?[1]

            Đối chiếu với việc xây dựng, ban hành Luật CTN, có lẽ không cần bàn thêm về sự cần thiết phải điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến chế định này. Bởi lẽ, với vị trí, vai trò là thiết chế đứng đầu nhà nước và trong nhà nước pháp quyền thì tất yếu những vấn đề về CTN phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Trên thực tế, Hiến pháp và nhiều đạo luật của nước ta qua các thời kỳ đều đã có những quy định về CTN[2]. Vậy, vấn đề còn lại là (i) cần xác định xem pháp luật về CTN hiện hành có cần hoàn thiện không; (ii) và nếu cần thì việc xây dựng, ban hành Luật CTN có phù hợp, khả thi không?

            Đối với trường hợp thứ nhất, nhiều nghiên cứu trước đây và trong các báo cáo công tác của CTN đã chỉ ra những hạn chế, bất cập[3] và nhu cầu hoàn thiện pháp luật về CTN. Trên thực tế, đã có những kiến nghị cần ban hành Luật CTN[4]; thậm chí, năm 2011, Quốc hội Khoá XIII đã đưa dự án Luật CTN vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (Chương trình)[5].

            Đối với trường hợp thứ hai, dưới góc độ lý thuyết, có hai phương án. Phương án 1, ban hành Luật CTN để điều chỉnh tập trung những vấn đề có liên quan. Phương án 2, không cần ban hành đạo luật riêng về CTN[6] mà chỉ cần sửa đổi, bổ sung các luật hiện hành có liên quan (có thể sử dụng kỹ thuật dùng một luật để sửa đổi, bổ sung nhiều luật). Mặc dù còn những quan điểm khác nhau, tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay, chúng tôi cho rằng, Phương án 1 có nhiều điểm hợp lý. Bởi lẽ, nếu chọn Phương án 2 thì sẽ gặp phải một số vấn đề sau đây:

- Đối với những vấn đề có sự “đan xen” về mặt thẩm quyền giữa CTN với các thiết chế khác của Nhà nước thì Quốc hội phải sửa đổi, bổ sung và kể cả ban hành mới nhiều đạo luật có liên quan. Kể từ Hiến pháp năm 2013 được thông qua, Quốc hội đã “căn bản hoàn thành việc cụ thể hóa Hiến pháp trong các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước…”[7]. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề liên quan đến vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của CTN quy định trong Hiến pháp chưa được cụ thể hoá bởi văn bản luật. Ví dụ, những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) với CTN trong việc bầu CTN, Phó CTN; trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội; việc Quốc hội bãi bỏ văn bản của CTN; quyền đề nghị Quốc hội quyết định họp kín, họp bất thường; quyền công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương trong trường hợp UBTVQH không thể họp được… vẫn chưa được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Quốc hội (2014), Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - HĐND (2015), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND (2015); mối quan hệ giữa CTN với Chính phủ trong việc yêu cầu Chính phủ tổ chức phiên họp Chính phủ vẫn chưa được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức Chính phủ (2015); trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân - TAND (2014), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân - VKSND (2014) cũng chưa làm rõ vai trò của CTN trong công tác bổ nhiệm nhân sự tư pháp hay trong việc thực hiện thẩm quyền đặc xá, đại xá[8].

- Đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền “riêng” hoặc vấn đề “nội bộ” của thiết chế CTN[9], Quốc hội[10] hoặc phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 (Điều này khó khả thi) hoặc phải ban hành một hoặc một số luật[11] mới để điều chỉnh.

            Như vậy, trong điều kiện hiện nay, sẽ không khả thi nếu chọn Phương án 2. Vì vậy, việc lựa chọn  phương án ban hành Luật CTN là hợp lý, bảo đảm tính tập trung, thống nhất, đồng bộ, cụ thể, chi tiết và minh bạch của các quy định pháp luật về CTN. Đây cũng là phương án được Quốc hội Khoá XIII lựa chọn với việc đưa dự án Luật CTN vào Chương trình.

2. Thực tế công tác xây dựng, ban hành Luật Chủ tịch nước

đã trải qua hơn 70 năm hình thành, phát triển thiết chế CTN nhưng phải đến những năm gần đây, vấn đề ban hành Luật CTN mới được đề cập. Sự chậm trễ này được lý giải bởi một số nguyên nhân như: chiến tranh kéo dài; mô hình CTN của nước ta chưa ổn định[12], trong đó, có những mô hình không đặt ra nhu cầu ban hành luật riêng về thiết chế đứng đầu nhà nước[13]; trình sáng kiến pháp luật về CTN là vấn đề lớn, phức tạp, nhạy cảm v.v..

Đến năm 2011, khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI được tổ chức, trên cơ sở tổng kết 25 năm tiến hành đổi mới, 10 năm xây dựng nhà nước pháp quyền theo Hiến pháp (2001) thì chủ trương đổi mới tổ chức, hoạt động của CTN đã được ghi nhận[14]. Thể chế hoá chủ trương này[15], lần đầu tiên sau 13 khoá Quốc hội, dự án Luật CTN đã đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XIII. Mặc dù, việc Quốc hội đưa dự án Luật CTN vào Chương trình là trên cơ sở ý kiến của CTN[16] chứ chưa phải là một kiến nghị, đề nghị xây dựng luật được thực hiện theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, nhưng đây là dấu mốc quan trọng cho thấy quan điểm của Đảng, Quốc hội đối với vấn đề ban hành Luật CTN. Theo Chương trình này, dự án Luật CTN thuộc chương trình chính thức (có 85 dự án luật), được xếp thứ 6 trong 16 dự án luật thuộc lĩnh vực tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, cho đến hết nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XIII, dự án Luật này vẫn chưa được trình Quốc hội vì lý do: Quốc hội Khoá XIII xem xét, quyết định đưa dự án Luật CTN vào Chương trình là đồng thời với việc xem xét quyết định sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và nhằm thể chế hoá quy định của Hiến pháp mới[17]. Do đó, khi Hiến pháp chưa được thông qua thì chưa có cơ sở để xây dựng dự án Luật CTN. Trên thực tế, phải từ sau tháng 01/2014, khi UBTVQH ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013[18], việc chuẩn bị dự án Luật CTN mới được đề cập[19]. Như vậy, tổng thời gian dành cho công tác chuẩn bị dự án Luật CTN để trình Quốc hội là khoảng gần 2 năm; nếu tính đến hết nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XIII (4/2016) thì hơn 2 năm. Khoảng thời gian này không phải là ngắn nhưng cũng không quá dài[20] để chuẩn bị một dự án luật quan trọng, khó, phức tạp[21], nhất là khi Dự án được đưa vào Chương trình thì chưa được nghiên cứu, chuẩn bị trước đó.

Ngoài ra, việc Quốc hội Khoá XIII tiến hành kiện toàn chức danh CTN và một số chức danh khác trong khoảng thời gian này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới công tác chuẩn bị dự án Luật. Hệ quả là “phía CTN chưa chuẩn bị kịp nên xin lùi lại”[22] và cho đến cuối nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XIII, Luật CTN chưa được trình, xem xét thông qua. 

Đến Quốc hội Khoá XIV, dự án Luật CTN chưa được Quốc hội xem xét đưa vào Chương trình năm 2016, 2017, chưa có chủ thể nào đề xuất đưa Dự án Luật vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội.

3. Một số kiến nghị

Một là, việc nghiên cứu xây dựng, ban hành Luật CTN ở nước ta trong thời gian tới là cần thiết. Điều này cũng phù hợp với chủ trương của Đảng và là vấn đề đã được Quốc hội Khoá XIII xem xét quyết định, nhằm tiếp tục thể chế hoá, thi hành Hiến pháp năm 2013.

Hai là, để sớm đưa dự án Luật CTN vào Chương trình, đề nghị chủ thể được phân công soạn thảo Dự án luật cần tích cực, chủ động và chuẩn bị kiến nghị, đề nghị xây dựng Luật CTN để sớm trình Quốc hội xem xét, quyết định. Chủ thể thực hiện sáng quyền lập pháp cần chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung, hình thức và tuân thủ quy trình, thủ tục được quy định tại Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.

Về nội dung, Dự  án luật này cần phải điều chỉnh một số vấn đề cơ bản sau: (i) những quy định chung, gồm vị trí, vai trò, chức năng…; (ii) nhiệm vụ, quyền hạn của CTN; (iii) tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động của CTN; (iv) mối quan hệ và cơ chế phối hợp của CTN; (v) bảo đảm hoạt động của CTN. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong bối cảnh Quốc hội Khoá XIV đã đưa vào Chương trình năm 2016, 2017 một số dự án đạo luật có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của CTN như Luật Quốc phòng, Luật An ninh mạng, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Quản lý nợ công[23] thì chủ thể trình sáng kiến pháp luật cũng như UBTVQH, Quốc hội khi xem xét quyết định cũng cần phải tính đến sự giao thoa giữa các dự án này với dự án Luật CTN để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Chuẩn bị tốt nội dung đề nghị, kiến nghị về Luật CTN không chỉ thuận lợi, đẩy nhanh quá trình đưa Dự luật vào Chương trình mà còn là cơ sở nền tảng cho các bước sau của quy trình lập pháp.

Ba là, để sớm ban hành Luật CTN, đề nghị Quốc hội, UBTVQH cần ưu tiên xem xét đưa dự án Luật CTN vào Chương trình trong những năm tới; đồng thời, chỉ đạo quyết liệt trong tổ chức thực hiện Chương trình, trong đó, cần nghiên cứu để có phương án hợp lý, khả thi khi phân công cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo, chủ trì thẩm tra.

Để bảo đảm tiến độ, UBTVQH cần chỉ đạo sát sao từ giai đoạn chuẩn bị đưa dự án Luật CTN vào dự kiến Chương trình đến thông qua và tổ chức thực hiện Chương trình. Do dự án Luật CTN quy định về thiết chế đặc biệt trong bộ máy nhà nước, lại có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức, nên đề nghị UBTVQH ra quyết định thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo[24]; đồng thời, phân công cơ quan trình, cơ quan chủ trì thẩm tra dự án Luật CTN. Có thể nghiên cứu theo hướng: (i) Cơ quan trình là CTN; (ii) Cơ quan chủ trì soạn thảo là Văn phòng CTN. Thành viên khác của Ban soạn thảo nên có đại diện một số cơ quan như: Văn phòng Trung ương Đảng; Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Chỉnh phủ; TAND tối cao; VKSND tối cao; Uỷ ban Trung ương MTTQ; một số bộ, ngành như Ngoại giao, Quốc phòng, Công an, Tư pháp, Nội vụ, Kế hoạch Đầu tư, Uỷ ban dân tộc. Ban Soạn thảo sẽ thành lập Tổ Biên tập với cơ cấu thành phần tương ứng; (iii) Cơ quan chủ trì thẩm tra hợp lý nhất là một Uỷ ban lâm thời do Quốc hội thành lập[25], trường hợp không thành lập Uỷ ban lâm thời thì nên giao cho Uỷ ban Pháp luật. Nếu thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra dự án Luật CTN thì nên cơ cấu theo hướng: (i) Chủ tịch Uỷ ban là 01 Phó Chủ tịch Quốc hội; (ii) Phó Chủ tịch Uỷ ban là Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch MTTQ, đại diện lãnh đạo TAND tối cao, VKSND tối cao; (iii) các thành viên khác là đại diện lãnh đạo Hội đồng Dân tộc, một số uỷ ban của Quốc hội như Quốc phòng - An ninh, Pháp luật, Tư pháp, Đối ngoại, Tài chính - Ngân sách, Kinh tế (trong đó đại diện Uỷ ban Pháp luật là thư ký Uỷ ban) và một số thành viên khác (nếu cần).

Chúng tôi cho rằng, với sự chủ động, quyết tâm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thì Luật CTN sẽ sớm được xây dựng, ban hành trong nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XIV./.

 

 

 


[1] Những vấn đề này thường được các quốc gia quy định trong pháp luật về thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật (ở Luật tổ chức Nghị viện hoặc Luật về quy trình, thủ tục của Nghị viện). Ở Việt Nam là Luật Ban hành VBQPPL.

[2] Như Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật An ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân…

[3] Một số hạn chế, bất cập đã được nêu ra như: (i) điều kiện, tiêu chuẩn ứng viên và giới hạn số nhiệm kỳ tối đa của CTN, Phó CTN; (ii) xử lý trường hợp khuyết đồng thời CTN và Phó CTN; (iii) quyền tham dự các cuộc họp của UBTVQH, quyền yêu cầu Chính phủ họp về những vấn đề mà CTN thấy cần thiết; (iv) về vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang; (v) về bộ máy giúp việc…

[4] Trong Phiên họp Quốc hội ngày 29/3/2016, khi thảo luận về Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của CTN, một số đại biểu Quốc hội đã kiến nghị cần ban hành chế định về CTN.

[5] Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XIII.

[6] Một số ý kiến băn khoăn về việc ban hành  đạo luật riêng về CTN khi cho rằng, tại sao nhiều quốc gia trên thế giới không có luật riêng về thiết chế đứng đầu nhà nước; trong đó, có các nước XHCN; ở Việt Nam, dù chưa có luật riêng nhưng CTN vẫn hoạt động hơn 70 năm qua; liệu có đáp ứng quy mô một đạo luật, khi nhiệm vụ, quyền hạn không nhiều lại liên quan đến các thiết chế Trung ương khác và đã có luật điều chỉnh; …?

[7] Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trình bày tại kỳ họp thứ 11 vào sáng ngày 22/3/2016.

[8] Theo Báo cáo số 122/BC-CP của Chính phủ, kể từ ngày 01/01/2014, các nhiệm vụ, quyền hạn này đều chưa thực hiện được trên thực tế, do chưa có các quy định pháp luật cụ thể hóa, nhất là về trình tự, thủ tục thực hiện trong khi phải chờ sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới VBQPPL phù hợp với Hiến pháp.

[9] Như vấn đề về tổ chức, hoạt động mang tính nội bộ của CTN theo Điều 92, 93 Hiến pháp năm 2013 hay một số vấn đề khác như: Luật về Văn phòng Tổng thống (Ghana); Luật về cựu Tổng thống, Luật về Chuyển giao Tổng thống hay các quy định về chế độ, chi tiêu của Tổng thống (Mỹ), Luật Kế vị (Nhật, Hoa Kỳ, Anh…), Luật về Hôn nhân của Hoàng gia (Anh), Luật về Tước vị, chức danh Hoàng gia (Newzealand)..

[10] Cần lưu ý rằng, theo quy định của Điều 91 Hiến pháp năm 2013, CTN được ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình nhưng Điều 88 lại không quy định nhiệm vụ, quyền hạn của CTN trong việc quy định những vấn đề về tổ chức, hoạt động của CTN. Theo khoản 6 Điều 70 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội “Quy định tổ chức và hoạt động của… CTN, …”

[11] Theo điểm a khoản 1 Điều 15 Luật Ban hành VBQPPL, những vấn đề này phải được điều chỉnh bởi Luật.

[12] Theo TS Nguyễn Đình Lộc là vì “CTN không ổn định, 4 Hiến pháp là 4 mô hình khác nhau nên không thể có Luật về CTN. CTN theo Hiến pháp năm 1959 là khác, năm 1980 cũng khác, đến năm 1992 lại khác, so với năm 1946 càng khác” (Xem: http://www.baogiaothong.vn/ke-thua-gia-tri-nao-cua-hien-phap-1946-d61940 .html).

[13] Bởi, nếu theo Hiến pháp năm 1946 thì người đứng đầu Nhà nước đồng thời là đứng đầu Chính phủ; còn theo Hiến pháp năm 1980 thì Hội đồng Nhà nước vừa là thiết chế đứng đầu Nhà nước vừa là cơ quan thường trực Quốc hội.

[14] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có nêu: “Nghiên cứu xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của CTN để thực hiện đầy đủ chức năng nguyên thủ quốc gia, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh các lực lượng vũ trang; quan hệ giữa CTN với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

[15] Báo cáo số 78/BC-UBTVQH13, ngày 25/11/2011 về việc giải trình, tiếp thu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII có nêu: “Để thể chế hóa Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng và theo đề nghị của CTN, UBTVQH tán thành đưa dự án Luật CTN vào Chương trình chính thức của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII”.

[16] Theo tài liệu lưu trữ về công tác xây dựng Chương trình nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XIII, việc đưa dự án Luật CTN vào Chương trình là do UBTVQH quyết định trên cơ sở ý kiến của CTN trong quá trình xây dựng Dự kiến Chương trình; trước đó, không có văn bản đề nghị, kiến nghị nào được gửi tới UBTVQH, Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2008.

[17] Trong Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011, dự án Luật hoặc Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (xếp đầu tiên) cùng với dự án Luật CTN (xếp thứ 6) là 2 trong số 16 dự án luật của Chương trình chính thức trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị.

[18] Ban hành kèm theo Nghị quyết số: 718/NQ-UBTVQH13 ngày 02/01/2014.

[19] Cụ thể, theo Kế hoạch này, các văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của CTN được dự kiến trình Quốc hội thông qua chậm nhất vào kỳ họp thứ 10 (tháng 10 năm 2015); cơ quan chủ trì là CTN; cơ quan thực hiện là Văn phòng CTN; cơ quan phối hợp là Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Pháp luật, Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan.

[20] Thực tế xây dựng pháp luật ở nước ta cho thấy, thời gian phổ biến để ban hành một đạo luật, kể cả do Chính phủ chủ trì thì mất khoảng 2-3 năm, nếu tính từ khi nghiên cứu, chuẩn bị để đưa vào Chương trình cho đến soạn thảo, trình và xem xét thông qua.

[21] Để thực hiện Kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, ngày 11/2/2014, UBTVQH đã có Công văn số 598/UBTVQH13-PL về việc chuẩn bị đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 thì đến ngày 27/2/2014, Văn phòng CTN còn có Công văn số 241/VPCTN-PL thông báo  ý kiến của CTN, trong đó có nêu “không đưa Luật CTN vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015. Các nội dung có liên quan đến thiết chế CTN đề nghị đưa vào quy định tại các luật chuyên ngành khi sửa đổi, bổ sung”.

[22] Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trả lời câu hỏi: Vì sao Luật chế định CTN chưa thông qua? tại buổi họp báo bế mạc kỳ họp thứ 11 Quốc hội thứ XIII, ngày 12/4/2016 (Nguồn: http://www.vtc.vn/vi-sao-bau-lai-chu-tich-nuoc-thu-tuong-chu-tich-quoc-hoi-vao-thang-7-d252807.html).

[23] Nghị quyết số 22/2016/QH14, ngày 29/7/2016 của Quốc hội về việc điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017.

[24] Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.

[25] Điều 78 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Khi cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định.”

Đỗ Tiến Dũng, ThS. Viện Nghiên cứu Lập pháp.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm môi trường biển từ việc thực hiện quyền tự do hàng hải của tàu thuyền nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (18/07/2018)
Trách nhiệm giải trình trong quản trị công ty ở Việt Nam: từ lý luận đến thực tiễn (13/07/2018)
Nhà nước pháp quyền với môi trường pháp lý kinh doanh (11/07/2018)
Bảo đảm điều kiện hoạt động cho đại biểu Quốc hội (06/07/2018)
Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng và những ưu, nhược điểm (02/07/2018)
Thể chế pháp lý giám sát của Nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước hiện nay - thực trạng và giải pháp (29/06/2018)
Kỹ năng đặt câu hỏi chất vấn và đưa kiến nghị khi chất vấn (25/06/2018)
Thể chế pháp lý giám sát của Nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước hiện nay - thực trạng và giải pháp (29/06/2018)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân