Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 21/10/2014, 17:15(GMT+7)
 
Nhà nước và pháp luật

Về tính chính đáng trong tổ chức và vận hành của các cơ quan nhà nước hiện nay
Trong một xã hội dân chủ, tính chính đáng trong chính trị là vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực thực thi quyền lực chính trị...

 

Trong một xã hội dân chủ, tính chính đáng trong chính trị là vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực thực thi quyền lực chính trị, cũng như hiệu lực của một mệnh lệnh, chỉ thị phát ra từ một cơ quan quyền lực. Nếu sự xác lập quyền lực của một cá nhân hay một tổ chức, nếu một mệnh lệnh đưa ra từ các chủ thể quyền lực đó không có tính chính đáng, thì cá nhân hay tổ chức quyền lực đó khó có thể bắt buộc được khách thể thực hiện nghiêm chỉnh. Tính chính đáng của một cơ quan quyền lực tạo nên sức mạnh, hiệu quả trong thực thi quyền lực.

1. Tính chính đáng trong tổ chức và hoạt động của chính trị nói chung, của các cơ quan quyền lực nhà nước nói riêng

Theo quan niệm thông thường, chính đáng là cái (là điều) phù hợp với lẽ phải, đúng với chuẩn mực, là sự ngay thẳng, đúng đắn, làm đúng chức danh, ứng xử đúng với cương vị của mình. Với nghĩa đó, nội hàm tính chính đáng có nghĩa tương đồng với nội dung chính danh, chính đạo theo quan niệm của đạo Khổng. 

Như vậy, khi nói tới tính chính đáng, chính là nói tới sự thừa nhận của xã hội, như sự thừa nhận về các giá trị đạo đức cần thực hiện, việc khẳng định các chân giá trị văn hóa, thừa nhận quyền lực của một tổ chức chính trị đối với danh vị (chức danh, nhiệm vụ, bổn phận) và quyền được làm những gì và không được làm những gì, hành vi ứng xử của mỗi người, mỗi tổ chức. Chính sự thừa nhận của xã hội về cái gì đó, về điều gì đó tạo nên cho cái đó, lẽ đó có tính chính đáng. Sự thừa nhận của xã hội ở một góc độ nào đó thể hiện những chuẩn mực xã hội, tính hợp lý, thậm chí là chân lý. Nhưng sự thừa nhận xã hội cũng  luôn thay đổi. Do đó, tính chính đáng là một khái niệm có tính tương đối, thay đổi theo thời gian, sự phát triển của xã hội.

Xem xét tính chính đáng trong chính trị nói chung và với nhà nước nói riêng, là xem xét sự phù hợp lẽ phải, là cái được đa số xã hội thừa nhận, là tính hợp lý đối với nhà nước và các cơ quan quyền lực nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các công dân chính trị về vị trí quyền lực, về các quyết định chính trị, về quyền và các nghĩa vụ, về hành vi của mỗi chủ thể quyền lực chính trị đó.

2. Các tiêu chí đánh giá tính chính đáng trong tổ chức và vận hành của các cơ quan dân cử

Có những tiêu chí chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, về hình thành, tồn tại của các cơ quan quyền lực dân cử phải do đa số trong xã hội thừa nhận. Nói khác đi, tổ chức quyền lực đó phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng của  của nhân dân.

Một nhà nước chính đáng phải là một nhà nước hợp hiến.

Sự thừa nhận bằng đa số xã hội đối với sự hình thành, tồn tại và thực thi quyền lực của tổ chức quyền lực chính trị là biểu hiện quan trọng nhất của tính chính đáng chính trị. Một nhà nước hợp với lòng dân, được tín nhiệm của đa số nhân dân là một nhà nước hợp hiến. Nếu một tổ chức chính trị tự cho mình là tổ chức chính trị của dân, nhưng lại không được nhân dân thừa nhận, không được xã hội thừa nhận thì không thể nói sự tồn tại của các tổ chức chính trị đó là chính đáng, là một nhà nước hợp hiến.

Sự thừa nhận bằng đa số xã hội đối với hình thành của một tổ chức quyền lực thể hiện rõ nhất thông qua bầu cử. Bầu cử có thể được coi là cuộc trưng cầu dân ý của nhà nước, kết quả bầu cử cơ quan dân cử là thước đo tính chính đáng đối với cơ quan nhà nước. Sự thừa nhận bằng đa số xã hội, không chỉ biểu hiện ở đa số cử tri đi bầu so với tổng cử tri trong xã hội, mà còn là đa số so với số cử tri thực tế tham gia bầu cử. Tỷ lệ cử tri đi bầu càng cao, và tỷ lệ phiếu tán thành càng cao đối với một tổ chức hay cá nhân cũng đồng nghĩa với sự thừa nhận càng cao của xã hội, tính chính đáng của tổ chức quyền lực đó càng cao. 

Sự thừa nhận xã hội bằng đa số có thể được thực hiện thông qua phổ thông đầu phiếu, cũng có thể thông qua bầu cử theo đa số đại diện, dân chủ đại diện. Chính vì lẽ đó, để có được đa số xã hội công nhận, các đảng, các ứng cử viên độc lập trong các nền dân chủ phương Tây phải bỏ ra nhiều công sức để tranh cử, qua đó để tổ chức công luận, tạo công luận, dẫn dắt công luận, lôi kéo cử tri.

Trong tổ chức các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực công, tính chính đáng còn được thể hiện ở chỗ các cuộc bầu cử đó có tuân theo pháp luật hay không. Chẳng hạn, các cuộc tuyển cử diễn ra cú tương đối đều đặn hay không, có sự thay đổi tùy tiện vì một lý do nào đó hay vì lợi ích của một nhóm nào đó? Việc đề cử, ứ ng cử có tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật hay không, hay có yếu tố khác chi phối? có yếu tố cưỡng bức hay không?

Trong những năm đổi mới ở nước ta gần đây, Đảng và Nhà nước rất quan tâm nâng tầm tính chính đáng của các tổ chức quyền lực trong hệ thống chính trị nói chung và với nhà nước nói riêng. Việc bầu các cơ quan dân cử, như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được tuyệt đại đa số cử tri tham gia và tín nhiệm, đã dần bớt đi tính hình thức, nâng cao tính chính đáng về địa vị của mình, là đảm bảo cho các cơ quan này thay mặt dân để thực hiện các chức năng lập pháp (riêng với Quốc hội), giám sát và quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước và địa phương. Đảng được xã hội thừa nhận đóng vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị nói chung và với Nhà nước nói riêng, là điều kiện, là yếu tố không thể thiếu được trong sự nghiệp xây dựng CNXH, được khẳng định ở Điều 4 Hiến pháp nước ta; Mặt trận và các đoàn thể nhân dân được thừa nhận là các tổ chức đại biểu cho lợi ích của các tầng lớp nhân dân, là cầu nối Đảng với dân, Nhà nước với dân, có chức năng thay mặt các tầng lớp nhân dân giám sát, phản biện Đảng và Nhà nước. Nhờ vị thế chính đáng đó, tầm vóc và vị thế của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân ngày càng được nâng cao trong xã hội. Đó chính là nhân tố căn bản tạo nên thành công của đổi mới.

Thứ hai, nhà nước phải quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật phải do dân, của dân và vì dân. Hoạt động của mọi tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, văn hóa - xã hội và mọi công dân phải tuân thủ pháp luật, không trừ một tổ chức nào, một cá nhân nào.

Sau bầu cử, muốn đo lường xem nhà nước đó có hợp hiến hay không thì phải thông qua kiểm soát quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước cần được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật, nhà nước hoạt động công khai và cho phép công dân giám sát những người đương chức và bày tỏ được ý kiến của mình, buộc những công bộc của dân phải có trách nhiệm.

Mặc dầu yếu tố sự thừa nhận xã hội bằng đa số trong bầu cử các cơ quan  nhà nước, và cho dù việc bầu cử được tuân thủ đúng theo pháp luật là tiêu chí rất quan trọng để đánh giá tính chính đáng của cơ quan quyền lực nhà nước, thì bản thân tiêu chí này vẫn chỉ là tiêu chí tối thiểu của tính chính đáng, hay của nền dân chủ[1], đó mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để khẳng định tính chính đáng của một cơ quan công quyền. Một nhà nước quản lý lý xã hội bằng pháp luật là một nhà nước hiệu lực.

Ngay như về yêu cầu đầu tiên này, bên cạnh những mặt được, tích cực có giá trị nâng cao tính chính đáng của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta trong những năm qua, cũng còn không ít vấn đề làm cho tính chính đáng của cơ quan quyền lực này chưa cao. Chẳng hạn như danh sách đề cử vào các cơ quan dân cử chưa hoàn toàn do dân quyết; tuyệt đại đa số đại biểu được chốt lại trong danh sách bầu cử do Mặt trận hiệp thương công bố không phải là những người tự nguyện ứng cử, mà là là do Đảng cử, Đảng quyết, đoàn thể giới thiệu; việc trúng cử hay không trúng cử các đại biểu để tự nó diễn ra, không có cạnh tranh; người bầu cử, mặc dù có tỷ lệ đi bầu cao, nhưng ít quan tâm đến kết quả từ chính lá phiếu của mình, điều này diễn ra không chỉ với người dân bình thường mà cả đối với những cán bộ có chức quyền; không mấy ai đối chiếu lá phiếu của mình với kết quả bầu cử; cũng ít người quan tâm theo dõi người mình tín nhiệm hoạt động như thế nào! Nhiều quyết định đưa ra lấy ý kiến hoặc biểu quyết ở cơ quan dân cử không hẳn đã là ý kiến của cơ quan dân cử...

Cơ quan quyền lực do dân trực tiếp bầu ra, hoặc gián tiếp bầu (bổ nhiệm) thông qua các cơ quan dân cử đã mang trong mình nó những tiền đề của tính chính đáng trong vai trò thực hiện các chức năng của cơ quan nhà nước trước dân. Điều đó có nghĩa là các cơ quan nhà nước hình thành thông qua bầu cử hay bổ nhiệm không có quyền hoạt động, quản lý xã hội một cách tùy tiện, mà phải tuân thủ pháp luật. Điều này đúng với mọi tổ chức quyền lực, không chỉ với cơ quan công quyền. Thiếu luật, luật không hoàn chỉnh là khe hở dẫn đến quản lý tùy tiện, lách luật, không có sở sở, căn cứ để kiểm tra, giám sát. Hệ thống pháp luật ngày một hoàn chỉnh, các cơ quan công quyền quản lý xã hội trên cơ sở của luật pháp là một trong những điều kiện đủ thể hiện tính chính đáng.

Những năm qua, Quốc hội Việt Nam đã có những bước tiến dài trong hoạt động lập pháp. Hệ thống pháp luật được xây dựng và ngày một bổ sung, hoàn chỉnh, ngày một đi sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều vấn đề của đời sống được các cơ quan lập pháp xây dựng, điều chỉnh theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, giúp các cơ quan nhà nước trong vai trò thực thi pháp luật, bảo vệ pháp luật thực hiện tốt chức năng của mình.

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn không ít các biểu hiện lãnh đạo, quản lý không tuân thủ luật pháp. Cũng vì pháp luật chưa hoàn chỉnh nên ngay cả Quốc hội và Hội đồng nhân dân - cơ quan quyền lực của dân - trên nhiều vấn đề của tổ chức này, tổ chức khác, vấn đề này, vấn đề khác không dám thay mặt dân để có ý kiến, nên đã tạo ra một khoảng trống quyền lực. Không ít các hiện tượng lợi dụng chức quyền để vụ lợi. Tình trạng lợi dụng chức quyền không chính đáng là biểu hiện của một thực trạng quyền lực đặt sai vị trí, là một trong những căn nguyên của tình trạng tham nhũng hiện nay.

Thứ ba, các quyết sách chính trị từ các cơ quan quyền lực nhà nước phải có sự tham gia và sự đồng tình rộng rãi của nhân dân, phải phát huy dược dân chủ trong hoạch định chính sách.

Một nhà nước hợp với lòng dân phải là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển. Đó cũng là một nhà nước hiệu quả.

Nhà nước có hiệu quả là nhà nước đưa ra được các quyết sách hợp lý, cân đối được nhiều lợi ích và các nhu cầu đa dạng của đại đa số, giải được bài toán về các mâu thuẫn trong các mối quan hệ lợi ích xã hội. Quyết sách được lựa chọn là tối ưu. Do đó, phát huy vai trò của các cơ quan hoạch định chính sách, các chuyên gia hoạc định chính sách là quan trọng, nhưng phải thông qua tranh luận rộng rãi, đối thoại công khai của nhân dân mới có thể tìm ra được các giải pháp tốt nhất (tối ưu), đáp ứng các yêu cầu, nguyện vọng của đại đa số nhân dân. Không đáp ứng được những yêu cầu đó có thể dẫn đến sự kém hiệu quả của nhà nước và các nguy cơ khác đối với sự tồn tại của hệ thống quyền lực công.

Cần khắc phục quan điểm cho rằng, không phải càng mở rộng dân chủ trong hình thành các quyết sách chính trị là tốt cả, rằng nếu việc tham gia quá rộng rãi và không bị kìm hãm, cản trở của dân vào đời sống chính trị, vào việc hình thành các quyết sách của nhà nước, thì không những làm tê liệt các lực lượng thị trường và cản trở sự vận hành của một xã hội dân sự mà còn dẫn tới dân chủ không thể kiểm soát được. Các nhà chính trị đã khẳng định rằng, không thể không xem xét khía cạnh hiệu quả trong quá trình hoạch định các chính sách công mà không thông qua việc xem xét khía cạnh dân chủ trong quy trình hình thành các quyết sách của nhà nước, yếu tố nâng cao tính chính đáng từ các quyết định có tính nhà nước. Khía cạnh dân chủ trong quy trình hình thành các quyết sách thể hiện ở chỗ tất cả mọi công dân có quyền bình đẳng trong tham gia vào việc hình thành các quyết sách có ảnh hưởng đến tương lai của xã hội, và tất cả mọi công dân phải chấp nhận quyền của các công dân khác được có quan điểm khác với quan điểm của họ về các chính sách công.

Có thể nói, trên vấn đề hoạch định chính sách công, từ các cơ quan dân cử đến các cơ quan hành pháp, tư pháp, những năm qua đã có những dấu hiệu chuyển đổi tích cực. Điều đó thể hiện ở quy trình nâng cao chất lượng xây dựng luật cũng như các hoạt động chất vấn ở các kỳ họp Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nhiều địa phương, các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương. Nhiều chủ trương, giải pháp kể cả ở cấp trung ương và địa phương được đưa ra lấy ý kiến nhân dân nhiều lần trước khi quyết định.

Bên cạnh những mặt tích cực đó, hiệu quả phát huy dân chủ trong xây dựng và thực hiện chính sách còn có những hạn chế trên tất cả các công đoạn hoạch định chính sách (xác lập nghị trình chính sách; xây dựng và lựa chọn chính sách; tổ chức thực hiện chính sách và rút kính nghiệm, điều chính chính sách). Điều đó do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là còn thiếu cơ chế chưa phù hợp, các mối quan hệ lợi ích phức tạp trong khi cơ quan hoạch định chính sách chưa được trao quyền và trách nhiệm đầy đủ, năng lực và tầm nhìn của người làm chính sách có những hạn chế, việc cung cấp thông tin liên quan đến chính sách chưa thật công khai, minh bạch trong khi công chúng chưa được quyền tìm đến thông tin và chưa được thông tin đầy đủ. Đó cũng là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến những phức tạp về vấn đề tài chính - tiền tệ, giá cả tăng cao, lạm phát... 

Một vấn đề đặt ra là làm thế nào có thể phát huy dân chủ quá trình hình thành quyết sách, khi mà tính chuyên môn hoá ở đây thể hiện rất rõ? Nếu trong quan hệ giữa những người lãnh đạo và dân, người lãnh đạo thì đầy quyền uy, nhưng công dân yếu kém thì khó có thể thực thi dân chủ trong quá trình hình thành quyết sách. Nhưng nếu nhà lãnh đạo đầy quyền uy và quần chúng nhân dân cũng đầy quyền lực thì có khả năng tạo nên sự kiềm chế, ràng buộc các nhà hoạch định chính sách. Do đó, một mặt phải nâng cao năng lực những chuyên gia hoạch định chính sách, nhưng mặt khác, phải quan tâm nâng cao năng lực chính trị, văn hóa chính trị cho công dân.

*

Nâng cao vị thế chính đáng của nhà nước nói chung và của mỗi cơ quan quyền lực công nói riêng là một vấn đề hệ trọng. Nó không chỉ liên quan đến tính hợp hiến, hợp pháp và hiệu quả trong tổ chức và vận hành của nhà nước nói chung mà  mặt khác, là sự phù hợp với các mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; phù hợp với tiến trình dân chủ hóa ở nước ta hiện nay. Đây là một vấn đề cần tiếp tục hướng tới trong tiến trình đổi mới ở nước ta.

 

 



[1] Đặng Đình Tân: Phát huy dân chủ trong hoạch định chính sách công. Tạp chí Lý luận chính trị, số 10-2006, tr 56.

Đặng Đình Tân
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Mối quan hệ của thiết chế Chủ tịch nướcvới các cơ quan quyền lực Nhà nước ở Trung ương và cấu trúc bộ máy của thiết chế Chủ tịch nước theo Hiến pháp (09/10/2014)
Vai trò của hoạt động xét xử của Tòa án trong quá trình phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam (09/10/2014)
Thực thi công ước quyền trẻ em ở Việt Nam: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự và chế tài đối với người chưa thành niên phạm tội (09/10/2014)
Một số vấn đề lý luận về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (02/10/2014)
Quá trình nhận thức và thực tiễn vận hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong ba mươi năm đổi mới (02/10/2014)
Quyền hành pháp của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013 (02/10/2014)
Hiến pháp 2013 và sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức chính quyền địa phương (02/10/2014)
Quyền hành pháp của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013 (02/10/2014)
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân