Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 24/05/2017, 00:06(GMT+7)
 
Nghiên cứu Lập pháp/ Chính sách

Hạn chế của công tác xóa đói giảm nghèo và giải pháp đổi mới

Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã tập trung vào XĐGN và thu được những thành quả không nhỏ, đưa nước ta trở thành một nước có thành công ấn tượng trên trường quốc tế về chống đói nghèo, là một trong bốn nước có tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhất thế giới, làm tăng vị thế và uy tín của Việt Nam trên toàn cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước đã giảm xuống nhanh chóng từ 37,4% năm 1998 xuống còn 9,45% năm 20101. Việc xây dựng và thực hiện các chương trình XĐGN như tập trung nguồn lực vào các xã, huyện nghèo nhất; phân cấp cho cơ sở và tăng cường sự tham gia của người dân… là một trong những bài học kinh nghiệm quý báu cho các nước trong cuộc tấn công vào đói nghèo và thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ trên toàn cầu. 

Thực hiện các chương trình XĐGN trong giai đoạn 2006-2010 đã góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Một bộ phận dân cư nghèo đã được cải thiện về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các nguồn lực của phát triển, tạo nhiều việc làm và tăng thêm thu nhập; một số nhu cầu xã hội thiết yếu của người nghèo cơ bản được đáp ứng như nhà ở, nước sinh hoạt, khám chữa bệnh, học tập… Tác động của chương trình đã giúp người nghèo có được cơ hội tự vươn lên, tạo thu nhập để phát triển, vượt qua tình trạng nghèo đói, tự giải quyết những nhu cầu thiết yếu của cá nhân và gia đình. Kết quả giảm nghèo đạt bình quân giảm 2%/năm đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo cũng như việc nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân để chủ động tiếp nhận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng vươn lên thoát nghèo. Điều tra mức sống các hộ gia đình năm 2008 cho thấy, tỷ lệ chi tiêu cho lương thực, thực phẩm đã giảm từ 60% xuống còn 55%; tỷ lệ chi tiêu cho nhu cầu phi lương thực, thực phẩm đã tăng từ 40% lên 45%; chứng tỏ đời sống của người nghèo đã được cải thiện một bước1. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong thời gian qua, chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần được quan tâm và khắc phục trong giai đoạn tiếp theo. Đó là:

Thứ nhất, những bất cập trong chính sách, dự án. Tuy chúng ta đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo từ nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN), nhưng chưa thực sự cân đối với khả năng của NSNN, do đó ít nhiều đã tạo áp lực trong việc bố trí dự toán NSNN hàng năm. Các chính sách, dự án chưa tạo được sự gắn kết chung trong giảm nghèo, thiếu đi sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng và còn có sự chồng chéo như Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và các chương trình hỗ trợ giảm nghèo khác như Chương trình 135 giai đoạn II, Nghị quyết 30a... Các chính sách hỗ trợ người nghèo của các chương trình giảm nghèo chưa coi trọng chính sách hỗ trợ người nghèo việc đa dạng hóa sinh kế. Chưa có chính sách khuyến khích và hỗ trợ người nghèo, cận nghèo, để giúp họ chủ động vươn lên thoát nghèo, làm giàu. Một số chính sách ban hành mang tính ngắn hạn, tình thế, nên chưa tập trung đúng mức vào giải quyết nguyên nhân của đói nghèo. Các chính sách cũng chưa thật sự hướng vào mục tiêu nâng cao năng lực thị trường cho người nghèo và hỗ trợ họ tiếp cận thị trường, mà còn mang nặng tính bao cấp nên phát sinh tư tưởng ỷ lại của các cấp cũng như của người nghèo, tạo ra xu hướng nhiều địa phương, hộ dân muốn được vào danh sách nghèo để được trợ giúp. Các chính sách hỗ trợ nhóm hộ cận nghèo chưa được quan tâm đúng mức, nên có sự mất công bằng giữa những hộ nghèo và cận nghèo, tạo ra tâm lý bức xúc của nhóm hộ cận nghèo khi đời sống của họ lại trở nên khó khăn hơn những hộ nghèo sau khi được chương trình giảm nghèo hỗ trợ.

Ví dụ: Theo số liệu điều tra, khảo sát của chúng tôi đối với 560 hộ dân thuộc 27 xã ở 9 huyện thuộc 4 tỉnh Tây Bắc (Điện Biên, Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình) và 130 người là đại biểu Quốc hội và cán bộ quản lý các cấp ở một số cơ quan của Quốc hội; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và ở 4 tỉnh Tây Bắc cho thấy, chỉ có 12/24 chính sách XĐGN thời gian qua là có tác động mạnh, 12/24 chính sách còn lại có tác động nhưng không nhiều đến sản xuất và đời sống của người nghèo ở Tây Bắc.

Bảng tổng hợp kết quả điều tra 560 hộ gia đình về

Tác động của các chính sách XĐGN đến hoạt động sản xuất

và đời sống ở Tây Bắc

Đơn vị: Tỷ lệ %

 

 

 

Tổng số ý kiến trả lời

Trong đó

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

Kém

1

Chính sách (CS) hỗ trợ tín dụng

560

39,7%

29,9%

23,8%

4,9%

1,6%

2

CS hỗ trợ đồng bào định canh định cư

560

16,7%

 

23,7%

 

45,9%

 

9,6%

 

4,1%

 

3

CS ổn định và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm

 

560

13,0%

 

21,4%

 

33,6%

 

26,6%

 

5,5%

 

4

CS giao đất giao rừng cho hộ gia đình

560

22,4%

26,0%

30,9%

14,0%

6,4%

5

CS hỗ trợ đất sản xuất và đất

560

21,2%

19,1%

37,6%

14,8%

7,0%

6

CS trợ cước, trợ giá 

560

13,6%

26,6%

39,1%

16,1%

4,2%

7

CS khoa học phục vụ người nghèo

560

13,6%

26,6%

39,1%

16,1%

4,2%

8

CS đầu tư xây dựng trung tâm cụm xã

560

17,9%

 

26,0%

 

32,7%

 

19,8%

 

3,4%

 

9

CS. đầu tư xây dựng giao thông, cầu, đường,…

560

23,5%

 

27,0%

 

32,8%

 

11,6%

 

4,8%

 

10

CS đầu tư xây dựng trường, trạm

560

25,1%

28,4%

34,8%

7,8%

4,0%

11

CS cấp thẻ bảo hiểm y tế

560

63,3%

17,8%

14,0%

3,0%

1,9%

12

CS hỗ trợ người nghèo về nhà ở

560

39,5%

27,8%

24,0%

6,8%

2,0%

13

CS cung cấp nước sạch

560

17,6%

18,6%

34,4%

20,2%

9,2%

14

CS hỗ trợ xây dựng nhà vệ sinh

560

14,9%

16,8%

36,4%

24,5%

7,4%

15

CS hỗ trợ xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh

560

12,5%

 

16,7%

 

33,1%

 

28,4%

 

9,4%

 

16

CS kế hoạch hóa gia đình

560

41,2%

36,1%

17,4%

3,9%

1,4%

17

CS giáo dục và đào tạo

560

36,0%

41,9%

19,4%

2,2%

0,4%

18

CS xóa mù

560

26,6%

32,4%

31,5%

5,8%

3,6%

19

CS dạy nghề và giải quyết việc làm

560

17,4%

21,8%

31,5%

21,8%

7,6%

20

CS hỗ trợ tiếp cận dịch vụ điện

560

27,1%

26,9%

29,6%

11,6%

4,8%

21

CS trợ giúp xã hội

560

27,1%

21,9%

40,5%

8,0%

2,5%

22

CS trợ giúp về pháp lý

560

24,0%

30,1%

31,1%

13,8%

1,0%

23

CS. Văn hóa truyền thông

560

23,8%

29,8%

33,7%

11,5%

1,2%

24

CS cán bộ cho các xã, bản

560

24,9%

28,0%

32,9%

13,3%

1,0%

Nguồn: Tổng hợp điều tra khảo sát của tác giả

 

Hơn nữa, do thủ tục hành chính phức tạp, phiền hà, hệ thống cung cấp dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu hoặc phát sinh nhiều chi phí vượt quá khả năng thanh toán của người nghèo... nên người nghèo vẫn khó tiếp cận với các dịch vụ như: y tế, giáo dục, dạy nghề, khuyến nông, nhà ở, trợ giúp pháp lý... cũng như các dịch vụ an sinh xã hội khác.

Mặt khác, trong việc tổ chức thực hiện các chính sách cũng còn nhiều hạn chế, như: vẫn còn tình trạng học sinh nghèo chưa được thực hiện chính sách miễn, giảm học phí, nhất là khi học ở các trường ngoài công lập; người nghèo còn khó tiếp cận với dịch vụ kỹ thuật y tế ở tuyến trên; mức hỗ trợ về nhà ở từ NSNN còn hạn hẹp và chưa huy động thêm được nguồn đóng góp của xã hội, cộng đồng nên chất lượng nhà ở cho người nghèo còn thấp.

Thứ hai, trong phân cấp quản lý, chưa khuyến khích vai trò và tính chủ động của địa phương. Trong việc thực hiện chương trình XĐGN vừa qua, từ trung ương đến địa phương đều rất thiếu cán bộ, đồng thời nguồn lực phân bổ cho chương trình chưa dựa trên kết quả đầu ra và không đáp ứng nhu cầu của thực tế: đầu tư còn phân tán, dàn trải; công tác xã hội hóa để huy động nguồn lực từ cộng đồng còn hạn chế, lại thiếu cơ chế điều tiết nên chưa hướng đúng mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững. Việc phân bổ kinh phí của chương trình phụ thuộc chủ yếu vào khả năng cân đối của NSNN, đa số các địa phương không chủ động được nguồn lực để thực hiện. Mặt khác, việc giao kế hoạch và nguồn lực giảm nghèo cho các địa phương theo kiểu mệnh lệnh hành chính “từ trên xuống” làm hạn chế đi tính chủ động, sáng tạo của địa phương; trong khi đó, các tỉnh có tỷ lệ nghèo cao thường có nguồn thu chủ yếu từ trợ cấp cân đối ngân sách trung ương nên khả năng bố trí vốn cho chương trình giảm nghèo cũng hết sức hạn hẹp.

Tiếp đó là nhiều vấn đề còn bất cập như do trình độ năng lực quản lý của cấp xã hầu như còn hạn chế, nên việc phân cấp quản lý đầu tư cho cấp xã chưa thể triệt để; việc phân bổ dự toán ở nhiều địa phương còn mang tính bình quân, dàn trải và còn chậm; phần lớn công trình đầu tư đưa vào sử dụng không bố trí kinh phí duy tu, bảo dưỡng cũng như thiếu quy chế quản lý, dẫn đến xuống cấp nhanh.

Thứ ba, trong cơ chế điều phối và phối hợp chưa thật sự gắn kết chặt chẽ giữa các đơn vị. Nhiều dự án, chương trình chia thành các hợp phần do các Bộ, ngành thực hiện độc lập và không qui định quy chế phối hợp. Trong khi vai trò và quyền hạn thực tế của cơ quan thường trực Chương trình, sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong xây dựng, ban hành chính sách giảm nghèo, đánh giá và kiểm tra, quản lý đối tượng và xây dựng cơ sở dữ liệu về nghèo đói còn hạn chế. Cơ quan thường trực chương trình chưa có đủ thẩm quyền trong điều phối và giám sát các hợp phần khác, mà chủ yếu chỉ làm nhiệm vụ tổng hợp báo cáo. Một số địa phương chưa có cán bộ chuyên trách để hỗ trợ Ban Chỉ đạo, mà chỉ làm kiêm nhiệm, không bố trí biên chế cho cán bộ giảm nghèo.

Thứ tư, trong cơ chế quản lý và lồng ghép giữa các Chương trình, dự án còn nhiều hạn chế và bất cập. Chương trình giảm nghèo, tuy có nhiều chính sách nhưng cơ chế phân cấp, quản lý không thống nhất, có sự chồng chéo giữa chương trình mục tiêu giảm nghèo và các chương trình hỗ trợ giảm nghèo khác (như Chương trình 135 giai đoạn II và Nghị quyết 30a để hỗ trợ 62 huyện nghèo) dẫn đến hiệu quả không cao trong việc sử dụng các nguồn lực cho giảm nghèo, đồng thời phát sinh vấn đề phức tạp và mất nhiều thời gian cho các cơ quan quản lý cấp huyện, cấp tỉnh đối với việc quản lý các chương trình. 

Thứ năm, công tác theo dõi, giám sát, báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện cũng còn nhiều điểm hạn chế. Công tác giám sát, đánh giá của chương trình rất thiếu thông tin và không được cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác và mới chỉ quan tâm đến các chỉ tiêu định lượng mà chưa quan tâm đến kết quả hoặc tác động của các hoạt động dự án đối với chất lượng công tác XĐGN. Chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý đối tượng; tổ chức kiểm tra, đánh giá chủ yếu là dựa vào báo cáo của các ngành và địa phương, trong khi vẫn còn tình trạng báo cáo thiếu thông tin hoặc địa phương không gửi, gửi chậm báo cáo.

Thứ sáu, hạn chế trong nhận thức của các cấp và người dân về chương trình. Có nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với hộ nghèo nên chưa tạo được ý thức chủ động của các cấp và người dân. Trong khi các hoạt động truyền thông XĐGN còn hạn chế nên người dân chưa có nhận thức đúng nhu cầu trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo. Một bộ phận không nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo. Mặt khác, bệnh thành tích đã khiến một số địa phương khống chế tỷ lệ nghèo thấp hơn so với thực tế, dẫn đến một số người nghèo chưa tiếp cận được các chính sách, gây ra những hiểu biết sai lệch về chính sách của Nhà nước.

Thứ bảy, hạn chế về phát triển nguồn nhân lực để giảm nghèo. Các huyện nghèo hầu như chưa được đầu tư trung tâm dạy nghề. Địa phương nào có rồi thì hiệu quả đào tạo thấp; các hình thức dạy nghề chưa phù hợp, chưa góp phần thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu của người dân. Lao động địa phương chủ yếu là chưa qua đào tạo, không có tay nghề, nên rất khó tạo được việc làm tại chỗ cũng như tham gia thị trường lao động trong và ngoài nước. Đội ngũ cán bộ có chuyên môn kỹ thuật chưa có hoặc chưa đủ để có thể hướng dẫn người dân tiếp thu và áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất, nên chưa đưa được các chương trình hỗ trợ dịch vụ sản xuất, khuyến nông, lâm, thú y, bảo vệ thực vật đến với người dân. Hệ thống giáo dục phổ thông tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao dân trí, chuyển biến nhận thức của người dân; các lớp học mẫu giáo, các điểm trường tiểu học và nhà ở cho học sinh còn rất thiếu thốn. Chưa quan tâm đào tạo giáo viên người dân tộc tại chỗ, đối với giáo viên ở miền xuôi lên vùng khó khăn công tác thì chưa có chính sách khuyến khích thỏa đáng động viên, nên không  đảm bảo sự gắn bó lâu dài. Chương trình đào tạo cử tuyển với mục đích đào tạo con em đồng bào dân tộc, người địa phương để trở về phục vụ địa phương vẫn còn tình trạng ưu tiên con em cán bộ có điều kiện, nên một bộ phận không nhỏ sau khi được đào tạo theo hệ cử tuyển đã không trở lại địa phương công tác.

Ngoài ra việc huy động vốn để thực hiện chương trình cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, phân bổ nguồn lực chưa hợp lý cũng như tính bền vững của các dự án, chương trình chưa cao, tái nghèo còn nhiều... cũng là những vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Để đạt được hiệu quả cao nhất trong chương trình giảm nghèo thời gian tới, chúng ta cần có sự nhìn nhận thẳng vào những vấn đề còn hạn chế, bất cập để khắc phục triệt để và điều chỉnh trong tất cả các khâu từ định hướng, lập kế hoạch, triển khai thực hiện cho đến việc đánh giá, kiểm tra thực hiện chương trình. Để khắc phục những tồn tại trên cần có những giải pháp hữu hiệu về huy động nguồn lực vốn, lao động cũng như các giải pháp hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, khai thác tài nguyên, ứng dụng khoa học công nghệ. Trong đó, giải pháp huy động nguồn lực vốn có thể thực hiện bằng nhiều cách, như:

- Thực hiện quy hoạch lại dân cư các vùng khó khăn, vùng sâu, thôn bản nghèo để việc đầu tư vừa tiết kiệm vừa phát huy tối đa hiệu quả đồng vốn.

- Để các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp cùng gánh vác trách nhiệm với NSNN thì cần phải đẩy mạnh xã hội hóa trong công tác XĐGN. Ngoài việc huy động các nguồn vốn đóng góp tự nguyện của các cá nhân, tập thể, tổ chức, doanh nghiệp..., Nhà nước cần có những quy định cụ thể về trách nhiệm đối với cộng đồng của các doanh nghiệp, các đơn vị, tổ chức, cá nhân... trong toàn xã hội bằng cách hình thành một “Quỹ vì người nghèo” để tạo nguồn vốn cho XĐGN. Cụ thể: đối với các tổ chức kinh doanh, các cá nhân kinh doanh và các doanh nghiệp, nên có chế tài ràng buộc trách nhiệm bằng cách quy định các doanh nghiệp phải thực hiện trích một tỉ lệ nhất định cho Quỹ vì người nghèo từ chênh lệch thu chi, trước khi các doanh nghiệp phân phối lợi nhuận vào các quỹ của doanh nghiệp; đối với các ngân hàng thương mại, do cũng thực hiện chức năng kinh doanh như các doanh nghiệp kinh doanh khác nên các ngân hàng này đều phải có nghĩa vụ trích một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho “Quỹ vì người nghèo” trước khi chia lợi nhuận vào các quỹ của mình. Mặt khác, Nhà nước cần sớm có quy định đối với các ngân hàng thương mại về nghĩa vụ cho vay của các ngân hàng này đối với người nghèo. Các ngân hàng này phải có trách nhiệm cùng với Ngân hàng Chính sách xã hội thẩm định những dự án vay vốn của người nghèo, người cận nghèo để cấp vốn cho họ làm ăn theo mức lãi suất ưu đãi và mức lãi suất thấp nhất mới có thể đảm bảo được nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất của các hộ gia đình. Thực hiện được giải pháp này, các ngân hàng thương mại đã góp phần hỗ trợ người nghèo vươn lên thoát nghèo, người cận nghèo không bị rơi xuống dưới ngưỡng nghèo. Đồng thời giảm bớt gánh nặng cho Ngân hàng Chính sách xã hội, cũng là giảm bớt gánh nặng cho NSNN trong việc bố trí vốn cho các Chương trình XĐGN; mặt khác, để tăng thêm nguồn vốn cho XĐGN cần quy định bắt buộc thực hiện huy động đối với các trường học, nhất là các trường ở những vùng đô thị, vùng phát triển. Quy định các bậc phu huynh, thầy cô giáo và các em học sinh thực hiện quyên góp hàng quý cho Quỹ hỗ trợ học sinh nghèo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến học sinh và gia đình để mọi người đều có thể hiểu rõ hoàn cảnh khó khăn của các em học sinh nghèo và hiểu được sự đóng góp tự nguyện này cũng là nghĩa vụ xã hội của gia đình mình đối với trẻ em nghèo. Mặt khác cũng là để trẻ em con em các gia đình khá giả và cả trẻ em con em các gia đình nghèo có thể hiểu được giá trị của những thứ mà trẻ đang được hưởng thụ và ý nghĩa của sự tương trợ truyền thống của dân tộc ta “lá lành đùm lá rách”, tránh xu hướng phát triển ý thức vô cảm với cộng đồng. Để trong tương lai, đất nước chúng ta có thể có được một thế hệ trẻ phát triển toàn diện hơn, hoàn hảo hơn về nhân cách và trách nhiệm với cộng đồng.

- Lồng ghép các chương trình XĐGN trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác nhằm tăng thêm nguồn lực vốn cho XĐGN từ các nguồn vốn khác. Giải pháp này rất cần phải có sự rà soát để phù hợp với Chương trình tổng thể về XĐGN, không để xảy ra tình trạng chồng chéo với chương trình XĐGN.

- Kêu gọi viện trợ của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các cá nhân, cộng đồng người Việt ở nước ngoài hỗ trợ vốn cho vay, cho không đối với người nghèo nhằm tăng thêm nguồn lực vốn cho XĐGN.

- Ngoài việc huy động các nguồn vốn từ bên ngoài, việc khai thác và phát huy tối đa nguồn vốn nội lực cũng là giải pháp quan trọng. Thực hiện giải pháp này bằng cách tuyên truyền vận động các hộ dân cư trong thôn, bản và trên địa bàn góp vốn xây dựng các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh như mô hình cộng đồng giúp đỡ lẫn nhau ở Ấn Độ. Người có vốn góp vốn, người nghèo góp sức lao động. Đặc biệt là các gia đình nghèo có con em đi xuất khẩu lao động có vốn tích lũy gửi về, không gửi tiết kiệm ở ngân hàng mà tự tổ chức các mô hình sản xuất hoặc góp vốn với mọi người xây dựng các mô hình sản xuất có năng suất, hiệu quả để phát huy tối đa hiệu quả của đồng vốn, góp phần đẩy lùi nhanh nghèo đói và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

(1) Nguồn http:/www.gso.gov.vn.

(2) Nguồn Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

(Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 212-thang-2-2012 ngày 05/02/2012) ThS. Nguyễn Thị Nhung - Vụ Kế hoạch-Tài chính, Văn phòng Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân