Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 20/02/2017, 20:19(GMT+7)
 
Tap chi Nghien cuu Lap phap - Van phong Quoc hoi

Luật Tố cáo: một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung
Luật Tố cáo: một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung
Nguồn: internet

Luật Tố cáo được Quốc hội thông qua ngày 11/11/2011 là bước phát triển mới trong việc đảm bảo quyền tố cáo của công dân. Luật Tố cáo đã có những sửa đổi, bổ sung cơ bản các quy định về quyền tố cáo trong Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi từ thực tiễn, quy định của pháp luật hiện hành về tố cáo, bảo vệ người tố cáo còn bộc lộ những hạn chế cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung.

 

1. Làm rõ khái niệm tố cáo và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật

Tố cáo là một hiện tượng xảy ra trong xã hội, thể hiện sự bận tâm của con người trước một hành vi, việc làm của người khác. Hành vi, việc làm này bị coi là trái đạo đức, luân thường, đạo lý hay vi phạm pháp luật (VPPL); vi phạm cam kết, điều lệ, nội quy, quy chế của tập thể, cơ quan, tổ chức… đã làm ảnh hưởng đến thanh danh hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của cá nhân, của tập thể, cơ quan, tổ chức, đơn vị. Nói chung, tố cáo là hành vi hết sức đa dạng và phức tạp, có phạm vi rộng, “nó hướng tới bất kỳ hành vi vi phạm nào”[1] và phát sinh trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như trong các hoạt động quản lý nhà nước. Đối tượng bị tố cáo “có thể là mọi hành vi VPPL, nhưng ngoài ra còn có các hành vi khác không nhất thiết là VPPL như quản lý yếu kém, lãng phí ngân khố, lạm dụng quyền lực, và các hành vi tham nhũng khác cũng như trong một số trường hợp là vi phạm quyền con người”[2].

Luật Tố cáo chưa đưa ra một định nghĩa toàn diện về tố cáo nói chung và tố cáo hành vi VPPL nói riêng. Nguyên nhân có thể là do sự đồng nhất giữa tố cáo nói chung với tố cáo hành vi VPPL (tố cáo có tính pháp lý), mà cụ thể hơn là đồng nhất giữa tố cáo với tố cáo hành chính, bởi lẽ trong Luật Tố cáo chỉ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi VPPL của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi VPPL của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực (Điều 1). Việc t cáo hành vi VPPL có dấu hiệu tội phạm (tố giác tội phạm) và tin báo về tội phạm được chỉ dẫn theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Trường hợp luật khác có quy định khác về tố cáo và giải quyết tố cáo thì áp dụng quy định của luật đó (khoản 2, 3 Điều 3 Luật Tố cáo).

Như vậy, khái niệm tố cáo trong Luật Tố cáo chỉ giới hạn trong phạm vi tố cáo hành vi VPPL. Nội dung của nó chỉ điều chỉnh đối với những hành vi VPPL hành chính. Vì thế, Luật Tố cáo cần có điều khoản giải thích rõ một số thuật ngữ như: “tố cáo”, “tố cáo hành vi VPPL”, “tố cáo hành vi VPPL hành chính” (tố cáo hành chính), “tố cáo hành vi VPPL hình sự” (tố giác tội phạm)… đồng thời có những chỉ dẫn về việc áp dụng các quy định của pháp luật hoặc làm cơ sở để xây dựng cơ chế giải quyết tố cáo cho phù hợp với từng loại tố cáo.

2. Sửa đổi, bổ sung quy định về chủ thể của quyền tố cáo

Người tố cáo (NTC) được hiểu theo nghĩa thông dụng nhất là người - trên cơ sở những chứng lý hoặc căn cứ - đã vạch trần hành vi sai phạm, vô đạo đức hay vi phạm pháp luật (gọi chung là sai phạm) của một cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào đó với cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền, trách nhiệm (gọi chung là nhà chức trách) để xem xét, xử lý.

NTC trước hết phải là người biết được hành vi của một chủ thể nào đó và có căn cứ cho rằng hoặc tin rằng, hành vi đó là sai phạm, đồng thời phải báo, hoặc tiết lộ với nhà chức trách để điều tra, kết luận và xử lý theo pháp luật của Nhà nước hay nội quy, quy chế, điều lệ riêng của cơ quan, tổ chức. NTC có thể là người trong cùng cơ quan, đơn vị, tổ chức với chủ thể bị tố cáo hoặc người không thuộc nội bộ cơ quan, đơn vị, tổ chức đó. NTC có thể mang quốc tịch Việt Nam hoặc không mang quốc tịch Việt Nam. Vì thế, Luật Tố cáo cần sửa đổi chủ thể của quyền tố cáo là “mọi người” hoặc “mọi cá nhân” thay cho “công dân” cho phù hợp với thực tiễn và quy định của Hiến pháp năm 2013.

Ngoài ra, có hai nhóm chủ thể mà chúng ta cần phải quan tâm nghiên cứu, xem xét có cần thiết phải cụ thể hóa và đưa vào trong Luật Tố cáo hay không, đó là quyền tố cáo của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức, đơn vị công lập và doanh nghiệp; và quyền tố cáo của cơ quan, tổ chức, đơn vị (gọi chung là tổ chức).

3. Sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục và các kênh tiếp nhận tố cáo

Pháp luật tố cáo hiện hành không quy định cụ thể cơ quan nào có nghĩa vụ tiếp nhận giải quyết tố cáo, cũng không quy định NTC phải gửi đơn đến những cá nhân, cơ quan nào. Công dân có quyền gửi đơn đến bất kỳ cơ quan nào mà công dân tin tưởng hoặc cho là cần thiết. Các cơ quan nhà nước (CQNN), cá nhân có thẩm quyền trong CQNN đều có trách nhiệm tiếp nhận đơn tố cáo “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp NTC, tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 5 Luật Tố cáo). Quy định hiện hành về việc tiếp nhận và xử lý đơn tố cáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho NTC. Tuy nhiên, điều này cũng có những hạn chế.

Thứ nhất, tâm lý của NTC bao giờ cũng mong muốn nội dung tố cáo của họ được giải quyết và xử lý theo đúng quy định của pháp luật, vì thế họ thường gửi đến những cá nhân, CQNN mà họ tin tưởng. Điều này dẫn đến tình trạng công dân gửi đơn vượt cấp, gửi không đúng cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết diễn ra phổ biến. Khi đó, vì nhiều lý do khác nhau đơn sẽ được chuyển vòng vo, chuyển không đúng địa chỉ, thậm chí là nằm tại chỗ. Trường hợp đơn được chuyển đến đúng cá nhân, cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tính “thời sự” của nội dung tố cáo không còn, danh tính NTC, nội dung tố cáo bị tiết lộ. Hành vi phạm pháp sẽ bị che giấu, bưng bít hoặc sửa chữa; NTC có thể bị đe dọa, trả thù hoặc mua chuộc.

Thứ hai, đối với cán bộ, công chức, người lao động, họ có quyền tố cáo tới cơ quan nào mà họ thấy cần thiết? Hay họ có nghĩa vụ phải báo cáo nội bộ trước khi gửi đơn đến đúng cấp có thẩm quyền hay đến cơ quan, cá nhân mà họ muốn? Điều này không được quy định rõ trong Luật Tố cáo. Đối với cán bộ, công chức, người lao động là đảng viên thì theo quy định của Đảng, họ không có quyền tố cáo tới người không có thẩm quyền giải quyết. Đối với cán bộ, công chức, người lao động tố cáo hành vi tham nhũng thì họ cũng không được phép. Bởi theo Luật Phòng, chống tham nhũng thì: “Khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình làm việc thì cán bộ, công chức, viên chức phải báo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó; trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có dấu hiệu liên quan đến tham nhũng đó thì báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp” (Điều 39 Luật Phòng, chống tham nhũng).

Như vậy, quy định hiện hành về việc tiếp nhận tố cáo chỉ rõ ràng đối với một số bộ phận cá nhân. Còn đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong CQNN thì còn nửa vời. Điều này không những không khuyến khích được họ tham gia vào việc vạch trần hành vi sai phạm, tham nhũng mà còn làm tăng nguy cơ bị trả thù, trù dập, phân biệt đối xử bất bình đẳng khi thực hiện quyền tố cáo. NTC sẽ dễ bị quy là “không có tính xây dựng”, “vạch áo cho người xem lưng”, “mất đoàn kết nội bộ”, hay vi phạm nội quy, quy chế cơ quan.

Thiết nghĩ, việc tiếp nhận đơn tố cáo nên quy về một vài đầu mối, không nên dàn trải như hiện nay. Đồng thời quy định rõ trình tự, thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong CQNN, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội theo hướng khuyến khích công chức, viên chức, người lao động báo cáo/tố cáo nội bộ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị trước khi tố cáo ra bên ngoài tới các cơ quan thực thi pháp luật. Khuyến khích các bộ, ngành quản lý các lĩnh vực cụ thể; các địa phương; các tập đoàn, doanh nghiệp ban hành và niêm yết công khai bộ thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo nội bộ phù hợp với cơ quan, đơn vị, tổ chức mình, dựa trên cơ sở các quy định chung của Luật Tố cáo. Quy định như vậy sẽ nhằm giúp cơ quan, tổ chức, đơn vị giải quyết nội bộ, tránh được những tai tiếng không cần thiết mà vẫn giữ được uy tín, không ảnh hưởng đến thanh danh của cơ quan, đơn vị, cá nhân.

Quy định tố cáo nội bộ chỉ là điều khoản mang tính khuyến khích. Cán bộ, công chức, viên chức vẫn có quyền tố cáo ra bên ngoài tới cá nhân, cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp có căn cứ cho rằng, việc tố cáo của mình không được giải quyết, giải quyết không đúng quy định, có dấu hiệu bao che thì mọi người có quyền tố cáo tới các CQNN có thẩm quyền khác, thậm chí tố cáo tới các cơ quan truyền thông, báo chí. Việc quy định quyền tố cáo (nội bộ hoặc ra bên ngoài) như vậy sẽ tránh những rủi ro mà NTC có thể phải đối mặt như trách nhiệm kỷ luật cơ quan, trù dập cá nhân, sự nhìn nhận tiêu cực từ phía lãnh đạo, đồng nghiệp trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

4. Sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng được bảo vệ  

Theo Luật Tố cáo, đối tượng được bảo vệ bao gồm NTC và người thân thích của NTC (khoản 2 Điều 34). Thực tiễn cho thấy,  đối tượng bảo vệ như quy định trên vừa rộng, vừa hẹp.

- Phạm vi rộng: Pháp luật hiện hành không phân biệt hay đưa ra những điều kiện để một tố cáo được bảo vệ. Theo quy định thì mọi NTC đều có thể được bảo vệ. Xét về nguyên tắc và về lâu dài, việc quy định mọi NTC đều có quyền nhận được sự bảo vệ là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, hiện tại chúng ta chưa có đủ điều kiện về nhân lực, tài chính để thực hiện có hiệu quả quy định này, vì thế tính khả thi sẽ thấp. Pháp luật nên “khoanh vùng” hay “ưu tiên” việc bảo vệ đối với người tố giác tội phạm, NTC hành vi tham nhũng, sau đó chúng ta tiếp tục triển khai việc bảo vệ đến các đối tượng tố cáo khác như NTC vì lợi ích và sức khỏe cộng đồng, trật tự quản lý hành chính… Đồng thời, pháp luật cũng cần quy định rõ một số đối tượng không nhận được sự bảo vệ của pháp luật, chẳng hạn như NTC vì động cơ cá nhân mang tính nhỏ nhặt, tố cáo xuất phát từ việc khiếu nại không đạt theo ý muốn chủ quan; NTC mà những thông tin của họ thuộc phạm vi an ninh quốc gia, bí mật nhà nước không được phép tiết lộ hoặc được phép tiết lộ nhưng không tuân thủ theo một quy trình nhất định.

- Phạm vi hẹp: Thực tiễn cho thấy, ngoài nhóm đối tượng nêu trên còn có một số đối tượng cũng cần nhận được sự bảo vệ. Đó là người bị nghi ngờ là NTC, người cung cấp chứng cứ, thông tin cho NTC thực hiện hành vi tố cáo (có thể gọi là người đồng tố cáo), người cung cấp thông tin, hỗ trợ tích cực cho các cơ quan thực thi pháp luật trong đấu tranh chống tội phạm và NTC nặc danh, nhà báo.

+ Người bị nghi ngờ là NTC cũng có thể trở thành đối tượng bị trù dập, cô lập hay trả thù. Trong một cơ quan, tổ chức hay trong xã hội nói chung, việc một cá nhân có thể không phải là NTC nhưng do người đó có tính cương trực, thẳng thắn hay phê bình hoặc phê bình không khéo hoặc hay bất đồng chính kiến, mâu thuẫn cá nhân với người bị tố cáo hoặc những lý do khác, rất có thể trở thành người bị nghi ngờ là NTC trong trường hợp không lộ danh tính của NTC. Do vậy, những người này cần nhận được sự bảo vệ.

+ NTC nặc danh: Pháp luật không thừa nhận tố cáo nặc danh, trừ những trường hợp tố cáo nặc danh nhưng có bằng chứng rõ ràng, cụ thể có thể được người có thẩm quyền xem xét, giải quyết (tùy thuộc vào ý chí chủ quan của trưởng cơ quan, đơn vị). Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, mặc dù những nội dung tố cáo nặc danh không được xem xét, nhưng nội dung thông tin sau đó được tiết lộ tới người bị tố cáo và NTC nặc danh bị phát giác, hoặc bị lộ danh tính hoặc bị nghi ngờ và rất có thể họ trở thành đối tượng bị trả thù, trù dập.

+ Người cộng tác cung cấp chứng cứ, thông tin sai phạm cho NTC: Những người này tuy không trực tiếp đứng tên tố cáo nhưng đã hỗ trợ, cung cấp những bằng chứng cụ thể, rõ ràng chứng minh hành vi sai phạm bị tố cáo cho NTC. Thực tiễn cho thấy, trong những vụ việc mà NTC đưa ra được những bằng chứng rõ ràng phần lớn là do những người “bên trong” cung cấp cho NTC. Những vụ việc như vậy đều được phơi bày và đưa ra ánh sáng. Thực chất họ cũng là NTC (đồng tố cáo hoặc tố cáo nặc danh). Và vì thế, họ cũng cần nhận được sự bảo vệ.

+ Người cộng tác, cung cấp những thông tin cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra vụ án hình sự hay trong quá trình thẩm tra, xác minh nội dung tố cáo hành chính: Họ là những người có những đóng góp tích cực, quan trọng giúp cơ quan thực thi pháp luật (cơ quan điều tra) nhanh chóng làm sáng tỏ vụ việc cần phải bảo vệ.

+ Nhà báo: Nhà báo và cơ quan báo chí có vai trò quan trọng trong việc điều tra, vạch trần và đăng tải các hiện tượng tiêu cực, phạm pháp, tham nhũng. Vì thế, cơ quan báo chí là một kênh quan trọng và tin tưởng mà công dân tố cáo tới. Thực tiễn cho thấy, nhiều nhà báo điều tra đã bị hành hung khi họ phanh phui tiêu cực. Để đảm bảo an toàn cho sự tác nghiệp của nhà báo, rõ ràng pháp luật phải bảo vệ họ.

Những đối tượng trên được gọi chung là “người được bảo vệ” và cần được bổ sung vào quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Tố cáo.

Ngoài việc bổ sung thêm đối tượng được bảo vệ, cần có sự phân biệt và quy định thống nhất các thuật ngữ “NTC” quy định tại Điều 9 và “NTC” quy định tại khoản 1, 2 Điều 35 Luật Tố cáo. Quyền, nghĩa vụ của NTC và quyền, nghĩa vụ của NTC được bảo vệ hay người được bảo vệ là khác nhau. Vì thế, thuật ngữ “NTC” quy định tại khoản 1, 2 Điều 35 cần sửa đổi thành “người được bảo vệ” để phân biệt NTC và NTC được bảo vệ. Tương tự như vậy, các thuật ngữ “bảo vệ NTC tại nơi công tác, làm việc” (Điều 37); “bảo vệ NTC tại nơi cư trú” (Điều 38); “bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của NTC” (Điều 39) cần lược bỏ danh từ “NTC” để đảm bảo độ chính xác.

5. Bổ sung quy định điều kiện, phạm vi được bảo vệ

Pháp luật tố cáo hiện hành không quy định điều kiện, phạm vi NTC có quyền nhận được sự bảo vệ, hoặc không nhận được sự bảo vệ từ pháp luật. Việc NTC có nhận được sự bảo vệ hay không phụ thuộc vào:

- Tính chất, mức độ của hành vi bị tố cáo: Cần có sự cân nhắc và xác định rõ NTC như thế nào, tố cáo những nội dung gì thì CQNN có nghĩa vụ phải bảo vệ hay tất cả mọi NTC đều được bảo vệ? Thí dụ, một NTC hành vi làm sai lệch hồ sơ trong một cuộc thanh tra để trục lợi bằng việc tiết lộ các hồ sơ, tài liệu nhưng hồ sơ, tài liệu này lại không được phép tiết lộ vì thuộc bí mật công tác, thì NTC có được bảo vệ? Hay trường hợp công dân khiếu nại, nhưng kết quả giải quyết khiếu nại không đáp ứng yêu cầu của công dân đó, họ quay sang tố cáo thì họ có được bảo vệ?

- Căn cứ tố cáo: NTC khi tố cáo nhưng không có căn cứ xác thực để chứng minh nội dung mà mình đã tố cáo (mặc dù biết rõ hành vi đó là sai phạm) và được cơ quan giải quyết kết luận là tố cáo không có căn cứ thì có được bảo vệ không? NTC tố cáo nhiều nội dung và được người giải quyết kết luận là “có đúng, có sai” thì có được bảo vệ không?

Luật Tố cáo cần bổ sung quy định về điều kiện để “người được bảo vệ” nhận hoặc không được nhận sự bảo vệ từ pháp luật. Theo đó, Luật Tố cáo cần bổ sung quy định phạm vi giới hạn không được phép tố cáo; bổ sung điều khoản giải thích thuật ngữ “cố tình tố cáo sai sự thật” nhằm mục đích bôi nhọ thanh danh của người khác để làm cơ sở phân biệt với NTC trung thực, thiện ý nhưng không có chứng lý cụ thể hoặc do hiểu nhầm là hành vi vi phạm. Đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý để xử lý hành vi lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.

6. Bổ sung quy định quyền khiếu kiện và việc giải quyết khiếu kiện hành vi trả thù, trù dập và phân biệt đối xử không công bằng đối với người tố cáo

NTC khi có căn cứ cho rằng mình hoặc người thân của mình đã bị trả thù, trù dập sau khi thực hiện hành vi tố cáo gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc điều kiện làm việc hoặc đã bị cản trở khi thực hiện các quyền công dân, có quyền khiếu kiện đến cá nhân, CQNN có thẩm quyền để xem xét, giải quyết. Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ NTC phải có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết đối với khiếu kiện về việc trả thù, trù dập NTC.

7. “Thiết kế” lại các biện pháp bảo vệ người tố cáo

Pháp luật tố cáo hiện hành quy định không thống nhất về các biện pháp bảo vệ NTC. Luật Tố cáo quy định 04 biện pháp bảo vệ NTC, gồm: (i) bảo vệ bí mật thông tin về NTC; (ii) bảo vệ NTC tại nơi công tác, làm việc; (iii) bảo vệ NTC tại nơi cư trú; (iv) bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của NTC. Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo (gọi tắt là Nghị định số 76/2012/NĐ-CP) quy định 05 biện pháp bảo vệ NTC, gồm: (i) bảo vệ bí mật thông tin về NTC trong quá trình tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố cáo; (ii) bảo vệ tính mạng, sức khỏe của NTC và người thân thích của NTC; (iii) bảo vệ tài sản của NTC, người thân thích của NTC; (iv) bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của NTC, người thân thích của NTC; (v) bảo vệ vị trí công tác, việc làm của NTC, người thân thích của NTC.

Thực tiễn cho thấy, NTC thường bị xâm hại hoặc có thể bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe; danh dự, nhân phẩm; tài sản; bị lâm vào tình trạng bất lợi về việc làm và vị trí công tác như: bị sa thải, bị buộc từ chức, bị giáng chức, bị kỷ luật, kiểm điểm, không được quy hoạch, bị bình xét, xếp loại thấp, bị thiệt hại các quyền lợi về tiền lương, tiền thưởng…; bị cản trở hoặc gây khó khăn trong quá trình thực hiện các quyền công dân khác. Mục đích của việc phân loại các hình thức bảo vệ là để xây dựng và thực hiện các biện pháp bảo vệ phù hợp, hiệu quả. Mỗi một hình thức bảo vệ cần phải đảm bảo các tiêu chí: bảo vệ cái gì, ai là người được bảo vệ, bảo vệ như thế nào? Và việc bảo vệ phải được thực hiện mọi lúc, mọi nơi (nơi cứ trú, nơi công tác, cơ quan công quyền, khu vực công cộng...).

Việc phân loại các biện pháp bảo vệ dựa vào địa điểm (bảo vệ NTC tại nơi công tác, làm việc; bảo vệ NTC tại nơi cư trú) theo Luật Tố cáo là không hợp lý, bởi nó chưa bao quát hết được những nội dung cần được bảo vệ, đồng thời gây ra cách hiểu không thống nhất. Các biện pháp bảo vệ quy định trong Luật Tố cáo và các biện pháp bảo vệ trong Nghị định số 76/2012/NĐ-CP không thống nhất với nhau về cả hình thức lẫn tính chất của mỗi biện pháp bảo vệ. Cách phân loại các biện pháp bảo vệ theo Nghị định số 76/2012/NĐ-CP là hợp lý hơn, nhưng cần phải nghiên cứu và “thiết kế” lại.

Để bảo vệ một cách toàn diện cho NTC và thiết lập cơ chế bảo vệ phù hợp với tính chất của mỗi khách thể bị xâm hại hiệu quả, đồng thời để đảm bảo sự thống nhất, khoa học, cần quy định 06 hình thức bảo vệ NTC, người thân thích của NTC (gọi chung là người được bảo vệ) và một quyền miễn trừ như sau: (1) bảo vệ thông tin NTC (hay bảo vệ danh tính NTC); (2) bảo vệ việc làm và vị trí công tác (thay cho bảo vệ tại nơi công tác, làm việc); (3) bảo vệ tài sản; (4) bảo vệ tính mạng và sức khỏe; (5) bảo vệ danh dự, nhân phẩm; (6) bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và việc thực hiện các quyền công dân khác (thay cho bảo vệ tại cơ cư trú); (7) quyền miễn trừ (hay bảo vệ về trách nhiệm pháp lý như: dân sự, hình sự, hành chính).

Hoặc, các biện pháp bảo vệ NTC có thể được “thiết kế” lại cho phù hợp với tính chất của từng khách thể cần bảo vệ. Theo đó, sẽ có 04 “hình thức bảo vệ”; 01 “quyền miễn trừ” và 03 quy định “cấm”, cụ thể là:

- Hình thức bảo vệ: (1) bảo vệ về danh tính NTC (bao gồm các thông tin về tên, tuổi, địa chỉ, bút tích của NTC); (2) bảo vệ về việc làm (trong trường hợp bị kỷ luật, sa thải hoặc chấm dứt hợp đồng); (3) bảo vệ về tài sản; (4) bảo vệ về thân thể (bao gồm tính mạng, sức khỏe).

- Quy định cấm: (1) cấm xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm NTC và những người thân của họ; (2) cấm phân biệt, đối xử bất lợi đối với NTC và người thân của họ trong quá trình làm việc; (3) cấm cản trở, hoặc gây khó khăn đối với NTC và người thân của họ trong việc thực hiện các quyền công dân tại các cơ quan công quyền và các quyền tự do cá nhân khác; (4) cấm cô lập, miệt thị NTC.

- Quyền miễn trừ trách nhiệm pháp lý (dân sự, hành chính, hình sự).

8. Bổ sung quy định về hình thức bảo vệ khỏi rủi ro về trách nhiệm pháp lý hay quyền miễn trừ trách nhiệm pháp lý

Pháp luật hiện hành chưa đề cập đến vấn đề này. NTC có thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý khi họ tố cáo mà không đưa được ra bằng chứng cụ thể hoặc vì những lý do nào đó mà nội dung tố cáo được kết luận là không đủ căn cứ, mặc dù biết rõ hành vi đó là phạm pháp. NTC cũng có thể bị chịu trách nhiệm nếu tiết lộ những thông tin thuộc phạm vi bí mật cơ quan, bí mật nhà nước mặc dù hành vi bị tố cáo, bị tiết lộ rõ ràng là phạm pháp; hoặc NTC có thể bị kiện ngược do nội dung tố cáo của mình không được kết luận là có căn cứ. Đây cũng là những lý do khiến NTC không dám đứng lên tố cáo.

Đứng trước những rủi ro đó, pháp luật cần phải bảo vệ họ. Bởi việc tố cáo đó là ngay tình, trung thực, hoàn toàn trái ngược với hành vi lợi dụng quyền tố cáo để cố tình tố cáo sai sự thật nhằm mục đích cá nhân.

Hình thức bảo vệ đối với NTC ngay tình nhưng không đủ căn cứ buộc tội; hoặc tố cáo nội dung thuộc phạm vi bí mật cơ quan, bí mật nhà nước là miễn hoặc giảm trách nhiệm pháp lý. Hình thức này đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng.

Thí dụ, tại Mỹ, nếu một NTC tố cáo một nội dung cụ thể mà theo quy định của pháp luật hoặc mệnh lệnh hành pháp phải giữ bí mật vì lợi ích quốc phòng hoặc tiến hành các hoạt động đối ngoại, hoặc tiết lộ nội dung "bị cấm theo luật" sẽ không thể áp dụng bảo vệ NTC, trừ khi nó được thực hiện tới cơ quan Tổng Thanh tra, Văn phòng Tư vấn đặc biệt[3].

Tại Hàn Quốc, Điều 14 Đạo luật Bảo vệ NTC vì lợi ích công quy định, nếu việc tố cáo vì lợi ích công cộng mà dẫn đến một hành vi phạm tội thì hình phạt của những người này được giảm nhẹ hoặc tha thứ. Trong trường hợp NTC chịu các biện pháp kỷ luật đối với hành vi bất hợp pháp của mình phát sinh từ việc tố cáo, Ủy ban độc lập Chống tham nhũng và nhân quyền có thể đề nghị cơ quan kỷ luật có liên quan để giảm nhẹ hoặc tha bổng; các quy định cấm hoặc hạn chế tố cáo vì lợi ích công cộng trong các thỏa thuận tập thể, hợp đồng lao động, hợp đồng cung ứng sẽ bị coi là không hợp lệ[4].

Vì thế, để khuyến khích mọi cá nhân có thể tích cực vạch trần hành vi sai trái tại nơi làm việc hoặc trong đời sống xã hội, chúng ta cần có quy định miễn trừ trách nhiệm pháp lý cho họ. NTC có quyền được miễn trừ trách nhiệm pháp lý khi rơi vào một trong các trường hợp sau đây:

+ Tố cáo một cách trung thực, nhưng không có bằng chứng cụ thể để chứng minh, cơ quan giải quyết tố cáo cũng không kết luận được hành vi sai phạm, đã được tuyên truyền, giải thích và chấm dứt hành vi tố cáo;

+ Tố cáo do lầm tưởng đó là hành vi VPPL;

+ Tố cáo hành vi VPPL nhưng lại phạm phải một hành vi VPPL khác (tố cáo hành vi đưa hối lộ, tố cáo hành vi thuộc phạm vi bảo mật không được tiết lộ).

9. Sửa đổi, bổ sung các quy định về căn cứ yêu cầu bảo vệ và nghĩa vụ chứng minh hành động trả thù người tố cáo

Các hành động trả thù NTC có thể được thực hiện công khai, trắng trợn (hành động gây tổn hại đến tài sản, sức khỏe, tính mạng) nhưng cũng có hành động trả thù được thực hiện một cách hết sức tinh vi (hành động gây tổn hại đến nghề nghiệp hoặc hành động gây khó khăn khi thực hiện các quyền nhân thân). Hậu quả của hành động trả thù có thể rõ ràng nhưng cũng có thể là rất khó để nhìn thấy, hoặc chứng minh nó có xuất phát từ việc thực hiện hành động tố cáo, đặc biệt đối với những tổn hại về nghề nghiệp, tổn hại về tinh thần. Vì thế, Luật cần tập trung bảo vệ chống lại hành động phân biệt, đối xử không công bằng trong công việc bằng việc quy định những “căn cứ” mà NTC có thể dựa vào đó để khiếu kiện về hành động trả thù NTC. Hay nói cách khác, pháp luật quy định những “hình thức”, “biểu hiện” bị coi là hành động trả thù cá nhân đối với NTC. Theo đó, cần phải bổ sung thêm một số khoản giải thích thuật ngữ vào Điều 2 Luật Tố cáo như “đe dọa NTC”, “trả thù NTC”, “trù dập NTC”, “gây tổn hại đến nghề nghiệp, việc làm của NTC”.

Luật Tố cáo cũng cần quy định rõ nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết đối với các khiếu nại, cáo buộc về việc đe dọa, trả thù, trù dập NTC trước hết là người có yêu cầu bảo vệ, nhưng chủ yếu thuộc về người bị cáo buộc có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập. Người khiếu nại, tố cáo về hành vi đe dọa, trả thù, trù dập trước tiên phải có nghĩa vụ đưa ra những thông tin có liên quan để chứng minh những cáo buộc của mình. Người bị cáo buộc đe dọa, trả thù, trù dập phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi bất lợi áp dụng với NTC không liên quan hoặc bắt nguồn từ hành vi tố cáo.

*

Với ý nghĩa và vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng, chống các biểu hiện VPPL, tố cáo được pháp luật ghi nhận là quyền cơ bản của công dân. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tố cáo, bảo vệ an toàn cho NTC là các đòi hỏi khách quan. Pháp luật về tố cáo và bảo vệ NTC phải ngày càng trở nên hoàn thiện, tạo thành một khuôn khổ pháp lý mang tính nền tảng và định hình nên cơ chế tố cáo, giải quyết tố cáo và bảo vệ NTC.

Qua thực tiễn thực hiện quyền tố cáo và yêu cầu bảo vệ NTC, các quy định của pháp luật về tố cáo và bảo vệ NTC đã bộc lộ những thiếu sót và hạn chế. Điều đó đã làm cho các quy định của pháp luật về tố cáo, bảo vệ NTC chưa thực sự phát huy được hiệu quả cao. Công dân, đặc biệt là cán bộ, công chức, người lao động trong bộ máy cơ quan công quyền không cảm thấy an toàn và lo sợ bị trả thù, bị cô lập, bị đánh giá tiêu cực nên không dám đứng lên tố cáo, mặc dù biết rõ hành vi sai phạm đang xâm hại đến nguyên tắc quản lý, thậm chí xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích pháp của mình.

Để khuyến khích tố cáo và sử dụng tố cáo như một công cụ hữu hiệu nhất, tiết kiệm nhất thì những hạn chế, tồn tại của pháp luật về tố cáo và bảo vệ NTC cần phải được nhìn nhận một khách quan và phân tích kỹ lưỡng làm cơ sở để chúng ta tiếp tục hoàn thiện, củng cố, đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền trong sạch, vững mạnh./.



[1] PGS,TS. Phạm Hồng Thái, chủ biên, Pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2003.

[2]Transparency international (2013), Whistleblower protection and the UN Convention against corruption, www.transparency.org, cập nhật tháng 11/2014.

[3] G20, Study on Whishtleblower Protecrion Frameworks, Compendium of best practices and guiding principles for legislation, www.oecd.org.

[4]http://www.moleg.go.kr/english/korLawEng; jsessionid=a2zj7uU7dPIhONw81sftUP2E3EWwr8RCih1l7O1GI5amDswiew2h8H1n5B1kvqM3.moleg_a1_servlet_engine2?pstSeq==58460&pageIndex=2.

 

Mai Văn Duẩn, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Xây dựng pháp luật về hoạt động gọi vốn cộng đồng (17/02/2017)
Các lý thuyết làm cơ sở hình thành hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế (16/02/2017)
Thực trạng lạm dụng rượu, bia và nhu cầu ban hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (15/02/2017)
công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài (14/02/2017)
Kiểm soát xung đột lợi ích nhằm phòng ngừa tham nhũng (13/02/2017)
Các yếu tố kinh tế - xã hội tác động tới tỷ lệ tội phạm: một cách tiếp cận so sánh (13/02/2017)
Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật phá sản năm 2014 (09/02/2017)
Các yếu tố kinh tế - xã hội tác động tới tỷ lệ tội phạm: một cách tiếp cận so sánh (13/02/2017)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân