|
Quốc hội và việc phòng chống tham nhũng - góc nhìn của một cựu đại biểu Quốc hội
|
||
|
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội pháp lý phức tạp, đa diện trong đời sống xã hội. Từ xa xưa cho đến tận ngày nay, tham nhũng luôn được nhìn nhận như là một tệ nạn hiện diện trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và nhà nước. Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, không phân biệt trình độ phát triển.
Thực trạng và hậu quả của tham nhũng ở nước ta Tham nhũng là một hiện tượng xã hội pháp lý phức tạp, đa diện trong đời sống xã hội. Từ xa xưa cho đến tận ngày nay, tham nhũng luôn được nhìn nhận như là một tệ nạn hiện diện trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và nhà nước. Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, không phân biệt trình độ phát triển. Hộp Theo một số đánh giá, Hoa Kỳ là một trong 10 nước ít tham nhũng nhất thế giới. Nhưng đây chỉ là một hiện tượng mới. Lịch sử nước Mỹ trong thế kỷ 19 cũng tương tự như các nước đang phát triển hiện nay. Chính quyền các thành phố thường tham nhũng trong việc mua các thiết bị máy móc, trong các dịch vụ xây dựng và hối lộ được nhận để đổi lấy việc chi trả cao hơn. Chính quyền thành phố còn tham nhũng trong việc phân phối những tài sản công như đất đai, quyền sử dụng khai thác bến cảng… Tất cả không được bán cho người trả giá cao nhất - vì lợi ích của công chúng - mà bán cho những người có khoản hối lộ hậu hĩnh nhất, vì lợi ích của một số ít người. Nạn tham nhũng còn dựa vào những quy định hành chính, như cấm cờ bạc và gái điếm, nhưng lại nhận hối lộ để các hoạt động trên vẫn diễn ra. Sự gia tăng tham nhũng trong thế kỷ 19 có thể được giải thích do sự tăng trưởng nhanh về quy mô của nền kinh tế và của chính phủ. (Hà Thanh Sơn, Tham nhũng nhìn từ bài học lịch sử nước Mỹ theo Edward Glaeser and Claudia Goldin). Tham nhũng trong mọi nhà nước đều có tác động hủy hoại những chuẩn mực pháp lýT, làm vô hiệu hóa hoạt động của bộ máy nhà nước, giảm sút hiệu lực của quyền lực nhà nước, của pháp luật. Chính vì vậy mà nhà nước và xã hội nào cũng không thể không quan tâm đến việc tìm kiếm, ban hành những giải pháp đấu tranh, hạn chế, đẩy lùi tệ nạn tham nhũng và những tác hại của nó. Sự khác nhau giữa các nhà nước trong đấu tranh chống tham nhũng chủ yếu là sự khác nhau về quyết tâm chính trị trong việc chống tham nhũng và khả năng chống tham nhũng có triệt để hay không mà thôi. Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu tiên hình thành và tồn tại của Nhà nước kiểu mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về tệ nạn tham nhũng lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức và coi trộm cắp tiền bạc của nhân dân, tổn hại kinh tế của Chính phủ cũng là mật thám, phản quốc, nếu không phải là tệ hơn nữa. Lịch sử hơn 60 năm qua đã đã cho thấy, đấu tranh chống tệ nạn tham nhũng luôn gắn liền với quá trình xây dựng, hoàn thiện và củng cố Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính sách hình sự của Nhà nước ta trong đấu tranh phòng chống tội phạm cũng thể hiện quan điểm xác định tội phạm tham nhũng là một trong những nhóm tội phạm nghiêm trọng có tính nguy hiểm cao cho xã hội, cần phải nghiêm trị. Trong những năm gần đây khi nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới của mình, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Nghị quyết Hội nghị TƯ 3 khoá X của Đảng đã đánh giá tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân.... Chúng ta có thể thấy tác hại của tham nhũng ở các mặt sau đây: Về kinh tế: Tham nhũng gây nên những tổn hại lớn đối với nền kinh tế, những thất thoát lớn về tiền của, tài sản, thời gian, công sức của Nhà nước và xã hội. Tham nhũng làm vẩn đục môi trường kinh doanh, bóp nghẹt sự cạnh tranh lành mạnh bằng những thủ đoạn làm ăn gian xảo. Tham những cản trở sự phát triển, làm giảm tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế (những thất thoát từ nguồn vốn đầu tư, có thể là 10, 15, 20%, cá biệt có khi tới 30 - 40% tổng vốn đầu tùy theo từng dự án). Theo kết quả điều tra ban đầu, trong năm 2006, tổng giá trị thiệt hại do tham nhũng gây ra trong 404 vụ án tham nhũng với 826 bị can được các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, khởi tố là 286 tỷ. Còn thiệt hại do các sai phạm kinh tế khác chưa đến mức phải xử lý hình sự được phát hiện qua 14.034 cuộc thanh tra, kiểm tra hành chính - theo báo cáo của các cơ quan thanh tra ở 64 tỉnh, thành phố và 18 Bộ, ngành - là 4.822 tỷ 616 triệu đồng, hơn 11.346 ha đất, đã kiến nghị thu hồi 3.386 tỷ 101 triệu đồng, hơn 9.933 ha đất (mới thu hồi được tại thời điểm báo cáo là 283 tỷ 367 triệu đồng và 183 ha đất). Về chính trị: Tham nhũng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây bất bình, bức xúc, thậm chí là các phản ứng gay gắt của một bộ phận nhân dân với chính quyền. Nhân dân bất bình không chỉ vì lợi ích trực tiếp của mình bị xâm phạm bởi những kẻ tham nhũng, mà còn bất bình vì kỷ cương phép nước, đạo đức xã hội bị vi phạm, sự tha hóa phẩm chất, sự giàu có nhanh chóng bằng thu nhập bất chính của những cán bộ, đảng viên tham nhũng... Tham nhũng còn làm xấu đi hình ảnh của nước ta trong mắt của bạn bè quốc tế, vốn rất ngưỡng mộ, khâm phục nhân dân ta về kỳ tích trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược và những thành tựu trong thời kỳ đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Về xã hội: Tham nhũng làm băng hoại giá trị đạo đức, chuẩn mực pháp lý, làm tha hóa một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Hệ quả chung nhất của tham nhũng là làm suy yếu nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta (Nghị quyết Hội nghị Tư 3 khóa X). Đánh giá về thực trạng tham nhũng trong Nghị quyết của Đảng cũng phù hợp với kết quả khảo sát, điều tra về nạn tham nhũng do Ban quản lý Dự án nghiên cứu đấu tranh chống tham nhũng - Ban Nội chính trung ương - thực hiện. Trong số 17 vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc của xã hội hiện nay mà nhóm nghiên cứu nêu ra (các vấn đề về giao thông, tệ nạn xã hội, thiếu việc làm, lãng phí, giá xăng, giá điện tăng) thì có tới 92,8% công chức, 83,7% người dân và 92,1% cán bộ doanh nghiệp được hỏi đều khẳng định: "Tham nhũng hiện là vấn đề nghiêm trọng nhất của đất nước". Tham nhũng đã ăn sâu vào nhiều tầng lớp, ở mọi cấp (56,6% cán bộ, công chức cho là cấp trên trực tiếp của mình tham nhũng ở các mức độ khác nhau), ở mọi lĩnh vực, thậm chí còn đang diễn ra ở cả các hoạt động cứu trợ đồng bào bị nạn, xóa đói, giảm nghèo. Kết quả đấu tranh phòng chống tham nhũng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X và đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Tư 3 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí đã thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng trong giai đoạn mới. Đấu tranh phòng chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh vừa cấp bách vừa lâu dài, phải vừa kiên quyết vừa kiên trì với những bước đi vững chắc, tích cực, có trọng tâm, trọng điểm. Mục tiêu đấu tranh phòng chống tham nhũng ở giai đoạn này là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng để có bước chuyển rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế -xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân, xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch vững mạnh, đội ngũ cán bộ công chức kỷ cương liêm chính. Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở nước ta đã được tiếp thêm sinh khí mới. Nhiều giải pháp đã và đang được triển khai, trong đó có giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý cho đấu tranh phòng chống tham nhũng như việc ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Nghị định 120 ngày 20/10/2006, Nghị định 47 ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 107 ngày 22/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, đơn vị, tổ chức do mình quản lý, phụ trách, các quy định về kê khai về tài sản, thu nhập của cán bộ công chức, viên chức, quy định về danh mục 21 vị trí công tác, ngành nghề phải định kỳ chuyển đổi. Những giải pháp về tổ chức như thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở trung ương và ở địa phương, thành lập cơ quan điều tra về tội phạm tham nhũng trong hệ thống cơ quan điều tra, Cục chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ đã và đang được triển khai. Các vụ án trọng điểm về tham nhũng được tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố và xét xử. Những giải pháp này đã tạo những chuyển biến tích cực, bước đầu tạo lòng tin của nhân dân và của cộng đồng quốc tế về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đạt được điểm tiến bộ hơn khi từ hạng 13 năm ngoái (7, 91 điểm nhảy) lên hạng 10 với 7, 54 điểm (với điểm 0 là tốt nhất và điểm 10 là tham nhũng nhất theo kết quả xếp hạng mức tham nhũng của Trung tâm Tư vấn rủi ro về chính trị và kinh tế PERC, trụ sở tại Hồng Kông, công bố ngày 13/3/2007, http://www.cpv.org.vn). Tham dự cuộc đối thoại đầu tiên với các cơ quan phòng chống tham nhũng của Việt Nam được tổ chức vào ngày 18/5/2007 tại Hà Nội theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đại diện các đối tác phát triển như Nhật Bản, Thụy Điển, Australia, Canađa, Na Uy... đã bày tỏ ấn tượng tốt về sự quan tâm nghiêm túc của Chính phủ Việt Nam với cuộc chiến chống tham nhũng và khẳng định sẽ "đứng bên Chính phủ Việt Nam, chuẩn bị sẵn sàng hỗ trợ thiết thực cho công cuộc phòng, chống tham nhũng" (http://vietnamnet.vn). Theo Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội về thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, thì mặc dù quyết tâm rất cao, nhưng kết quả thực tế còn có những hạn chế nhất định. Báo cáo của Chính phủ cho thấy, 12 tỉnh thành trực thuộc trung ương, 3 Bộ và các cơ quan ngang Bộ chưa ban hành được chương trình hành động phòng chống tham nhũng. Thực trạng tham nhũng diễn biến phức tạp. Không có trường hợp tham nhũng nào do cơ quan đơn vị tự phát hiện và đề nghị xử lý. Theo ý kiến của những người lãnh đạo Thanh tra Chính phủ thì thanh tra đụng vào dự án nào, đơn vị nào đều thấy sai phạm ở mức độ khác nhau, tham nhũng trong thực tế còn ẩn hiện nhiều hơn cái đã lộ ra (http://www.tuoitre.com.vn). Còn theo đánh giá của ủy ban Tư pháp của Quốc hội, tình hình tham nhũng vẫn diễn ra hết sức nghiêm trọng, phức tạp ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương nhưng số vụ việc được phát hiện, xử lý chưa tương xứng. Thanh tra đã kiến nghị xử lý kỷ luật 1.464 đối tượng nhưng chỉ chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý về mặt hình sự 52 vụ với 89 đối tượng. Họat động lập pháp của Quốc hội với mục tiêu phòng chống tham nhũng Trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng đôi khi người ta chỉ nhấn mạnh hoặc trông chờ vào vai trò, trách nhiệm của một cơ quan chuyên trách chống tham nhũng nào đó hoặc chỉ nói đến trách nhiệm của Chính phủ. Trong cuộc đối thoại giữa các cơ quan phòng chống tham nhũng của Việt Nam với các đối tác nước ngoài tổ chức tại Hà Nội nói ở trên, bà Lynne Racine, đại diện cho CIDA - Tổ chức phát triển quốc tế Canađa có nhận xét là trong cuộc đối thoại này chỉ thấy phía Việt Nam nhắc đến vai trò của Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, chưa thấy nhắc đến vai trò của Quốc hội, mà cụ thể là của ủy ban Pháp luật của Quốc hội. Vậy Quốc hội Việt Nam có vai trò như thế nào trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng? Nghị quyết Hội nghị Tư 3 khóa X khẳng định: "Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong những năm tới, phải đẩy mạnh toàn diện và kiên quyết cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí". Với cách đặt vấn đề về tầm quan trọng và quy mô của đấu tranh phòng, chống tham nhũng như vậy, thì đấu tranh phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cả bộ máy nhà nước. Trong hệ thống bộ máy nhà nước, Quốc hội với vị trí và chức năng được quy định tại Điều 83 của Hiến pháp đương nhiên phải có vai trò hết sức to lớn và quyết định trong sự nghiệp trọng đại này. ở góc nhìn của người đã tham gia ủy ban Pháp luật của Quốc hội, chúng tôi cho rằng, vai trò này thể hiện trước hết ở chức năng lập pháp. Nếu chúng ta nhìn nhận tham nhũng ở khía cạnh là một tệ nạn xã hội có nguồn gốc từ các nguyên nhân kinh tế - xã hội hay tham nhũng từ khía cạnh là các hành vi của người có chức vụ quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn đó để vụ lợi, thì pháp luật - với những đặc thù vốn có của nó và với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội - có vai trò to lớn trong đấu tranh phòng chống tham nhũng. Bên cạnh những công cụ về hành chính, quản lý, tổ chức, cán bộ, kinh tế thì công cụ pháp luật có những ưu điểm không thể phủ nhận trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Pháp luật có khả năng thể chế hóa các chủ trương đường lối của Đảng về đấu tranh chống tham nhũng thành các quy phạm, các mô hình xử thế có tính chất phổ biến, có tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi cá nhân, mọi tổ chức - mọi chủ thể tham gia vào các lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau và các quy định này luôn được bảo đảm tuân thủ bằng sự cưỡng chế nhà nước, có khả năng răn đe, phòng ngừa cao. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà một trong những giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn trước mắt được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị Tư 3 là hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nhiều lĩnh vực, mà trước hết là lĩnh vực tài chính, đất đai, đăng ký bất động sản, ban hành Luật Bảo đảm quyền thông tin của công dân, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1999 (BLHS), hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan tố tụng. Xây dựng hệ thống pháp luật phòng, chống tham nhũng thống nhất và đồng bộ Nguyên nhân, điều kiện, phạm vi, lĩnh vực tham nhũng rất đa dạng, có cội nguồn từ nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, đời sống nhà nước, do vậy, nền tảng pháp lý cho đấu tranh phòng chống tham nhũng phải thống nhất và đồng bộ. Chúng ta không thể hạn chế đẩy lùi tham nhũng chỉ bằng việc ban hành BLHS và Luật Phòng, chống tham nhũng. Chúng ta không thể chỉ nghiêng về xây dựng pháp luật trừng phạt, mặc dù bản thân trừng phạt đã có yếu tố phòng ngừa, răn đe, mà còn phải quan tâm xây dựng mảng pháp luật có chức năng ngăn chặn để không thể tham nhũng. Kinh nghiệm chống tham nhũng thành công ở Hàn Quốc cho thấy, quốc gia này đã tiến hành đồng bộ các biện pháp về xây dựng hệ thống pháp luật chống tham nhũng, cải cách thể chế hành chính, cải thiện mức sống của cán bộ công chức, tăng cường quan hệ đối ngoại và phối hợp chống tham nhũng trên cả bình diện quốc gia và quốc tế... trong đó, xây dựng pháp luật về phòng chống tham nhũng được xem là biện pháp nền tảng, là cơ sở hạ tầng cho công cuộc chống tham nhũng. Pháp luật Hàn Quốc về phòng, chống tham nhũng là một hệ thống bao gồm nhiều văn bản luật, như: Luật Chống tham nhũng; Nghị định về quy tắc ứng xử của công chức; pháp luật về kiểm toán và kiểm tra Hàn Quốc; pháp luật về lương và điều kiện xã hội, các chương trình chống tham nhũng trên toàn quốc, trong đó Luật Chống tham nhũng là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Kế hoạch lập pháp của Quốc hội phải xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ này. Những luật nào cần thiết ban hành, cần thiết phải điều chỉnh sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu của đấu tranh phòng chống tham nhũng phải được xác định rõ ràng về nhu cầu lập pháp và thứ tự ưu tiên. Chúng ta có thể chậm ban hành một số đạo luật như Luật Mặt trận, Luật Thanh niên... nhưng chúng ta không thể chậm trễ trong việc ban hành các văn bản luật về công khai tài sản, công khai và kiểm soát các nguồn thu nhập của công chức. Chừng nào chúng ta chưa có luật kiểm soát được các nguồn thu nhập của công chức thì chừng đó, việc xét xử những vụ án được gọi là án tham nhũng lớn nhất của năm 2006 như vụ án của con bạc triệu đô Bùi Tiến Dũng không thể đáp ứng mong đợi của người dân khi Tòa án không thể làm rõ được số tiền đánh bạc gần một triệu đô và năm căn nhà của bị cáo có từ đâu, từ nguồn thu nhập nào? Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, ông Klaus Rohland, cũng cho rằng, cá độ bóng đá tới hàng triệu USD thì rõ ràng đây là việc không bình thường ở bất cứ đâu trên thế giới, nhưng việc không bình thường này đã không được giải mã khi Tòa tuyên án (trong vụ án này, ở giai đoạn 1, bị cáo Bùi Tiến Dũng bị truy tố xét xử và bị kết án về hai tội: đánh bạc và đưa hối lộ chứ chưa phải tội về hành vi tham nhũng). Bài học về sự thất thu cho ngân sách nhà nước và tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng cũng là một kinh nghiệm đáng chú ý về tính đồng bộ trong hoạt động lập pháp. Đảm bảo tính khả thi và minh bạch của hệ thống pháp luật Hoạt động lập pháp của Quốc hội trong mấy nhiệm kỳ qua đã có những bước tiến vượt bậc. Bên cạnh đó, vấn đề khả thi của các luật được ban hành trong những năm qua cũng cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Luật là sự phản ánh các yêu cầu, các vấn đề, các quy luật khách quan của tồn tại xã hội, nhưng khi luật không đi vào cuộc sống được thì có nghĩa là, nhà làm luật đã không nắm bắt được, không phản ánh được những vấn đề đích thực, những quy luật khách quan của cuộc sống. Do vậy, luật được ban hành nhưng những vấn đề của cuộc sống thì vẫn tồn tại, không thể giải quyết. Có thể lấy thí dụ từ Luật Đất đai. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa X, Luật Đất đai đã được sửa đổi bổ sung hai lần và Quốc hội nhiệm kỳ XI sửa đổi cơ bản, nhưng hiện nay, lĩnh vực đất đai vẫn là lĩnh vực đứng đầu trong 10 lĩnh vực được bầu chọn là lĩnh vực tham nhũng nhất - theo kết quả điều tra tham nhũng ở Việt Nam do Ban Nội chính TƯ thực hiện năm 2005. Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường gửi Ban chỉ đạo TƯ về phòng, chống tham nhũng, thì tình trạng tham nhũng trong việc thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng diễn ra khá phổ biến. Đây cũng chính là lĩnh vực tham nhũng gây nhiều thiệt hại cho nhà nước, gây mâu thuẫn trong nhân dân và dẫn đến khiếu nại, tố cáo đông người, kéo dài, gây mất trật tự xã hội. Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến đất đai được ban hành khá nhiều nhưng lại có nhiều điểm chưa thống nhất, tạo kẽ hở để lợi dụng tham nhũng. Giải pháp hiệu quả nhất để chống tham nhũng bằng hệ thống pháp luật đồng bộ là đảm bảo luật pháp được ban hành phải cụ thể hơn, minh bạch hơn, có tính khả thi trong cuộc sống hơn. Trong khoa học pháp lý của nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận thuật ngữ chuẩn mực chống tham nhũng: anti-corruption standards, có nghĩa là tổng hợp các quy tắc cơ bản được ban hành chính thức trong hình thức văn bản luật điều chỉnh những lĩnh vực hoạt động quyền lực nhà nước nhất định, nhằm hạn chế các khả năng tham nhũng trong các lĩnh vực đó và cho phép phát hiện kịp thời các hành vi tham nhũng, ngăn chặn các hậu quả tiêu cực của nó. Chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động tư pháp Trong hệ thống pháp luật phòng chống tham nhũng thì lĩnh vực mà Quốc hội cần quan tâm là lĩnh vực pháp luật liên quan đến hoạt động của các cơ quan tư pháp, bao gồm Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), Luật Thi hành án, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các Pháp lệnh về Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, về kiểm sát viên, về thẩm phán, hội thẩm và cơ quan thanh tra. Trước hết là hoàn thiện BLHS 1999, bổ sung các hành vi tham nhũng mới xuất hiện trên thực tiễn. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, gần đây cơ quan lập pháp của Trung Quốc đã phải định nghĩa lại hành vi tham nhũng, bổ sung thêm 14 hành vi mới hoàn toàn như hành vi của hiệu trưởng trường tư thục nhận tiền hối lộ để tiếp nhận sinh viên, ban giám khảo các cuộc thi nghệ thuật nhận tiền lót tay để ưu ái trong chấm điểm cho một số thí sinh, trọng tài nhận tiền lót tay để làm sai lệch kết quả trận đấu nhằm giúp cho đội bóng trụ hạng và bổ sung, điều chỉnh 8 hành vi tham nhũng đã được quy định từ trước (http:// www.tuoitre.com.vn. “Trung Qu?c d?nh nghia l?i tham nhung”ngày 09/11/2007). Các hành vi tham nhũng là các hành vi tội phạm có động cơ trục lợi, do vậy, chính sách hình sự của chúng ta phải có những chuyển đổi theo hướng trừng phạt hành vi tham nhũng sao cho hành vi tham nhũng thực sự không còn có lợi ở khía cạnh lợi ích vật chất đối với kẻ tham nhũng, phải xóa bỏ được triết lý tham nhũng “hy sinh đời bố củng cố đời con”. Các biện pháp hình phạt bổ sung về tịch thu tài sản phải được áp dụng trong các vụ án về tham nhũng, không phụ thuộc về mức độ giá trị tham nhũng. Lĩnh vực pháp luật tiếp theo mà Quốc hội cần quan tâm là lĩnh vực tố tụng hình sự. BLTTHS 2003 mặc dù được chuẩn bị soạn thảo hơn 10 năm với nhiều lần dự thảo, nhưng khi được ban hành lại dường như chưa tạo ra sự đột phá trong đấu tranh chống tội phạm và bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự như chúng ta mong đợi. Đứng ở góc độ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, BLTTHS 2003 cần sửa đổi theo hướng: - Hoàn thiện các quy định về tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra, xác minh, thống kê các tin báo về tội phạm. Các quy định tại Điều103 BLTTHS 2003 còn quá sơ sài, thiếu cụ thể và thiếu sự ràng buộc về nghĩa vụ của cơ quan tiến hành trong các họat động này. Hệ quả là nhiều thông tin tố giác về tham nhũng của nhân dân có thể bị bỏ qua. - Hoàn thiện các quy định về bảo vệ người tố giác hành vi tham nhũng, người làm chứng trong các vụ án hình sự. BLTTHS 2003 chỉ mới quy định rất chung, không cụ thể và không có những bảo đảm kèm theo nên không có tính hiện thực. Ví dụ, Điều 55 BLTTHS 2003 ghi nhận người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng, nhưng lại không quy định những biện pháp cụ thể nào cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng và áp dụng thế nào. - Tội phạm tham nhũng xét ở góc độ đặc điểm tội phạm học thường có tính tổ chức và khép kín, nên rất khó phát hiện, tỷ lệ tội phạm ẩn cao. Điển hình là nhóm hành vi tham ô, đưa và nhận hối lộ theo Khoản 1, 2 và 8 của Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng. Giải pháp tương ứng là tính chuyên nghiệp cao của cơ quan điều tra chống tham nhũng. Chúng ta đã thành lập các cơ quan điều tra chuyên trách này. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, trong điều tra chúng ta “thua” nhiều vì đối tượng khôn ngoan hơn, che giấu được chứng cứ. Những người tham nhũng là những người khôn ngoan, có thể nói là thông minh. Khôn ngoan, thông minh mới nắm được chức vụ, mới ăn được tiền một cách ngon lành, mới che giấu được hành vi tội phạm. Ý kiến này còn đề xuất, khi sửa đổi BLTTHS 2003 nên quy định một số biện pháp điều tra điều tra đặc biệt mà thế giới đang sử dụng. Ngoài ra, tổ chức cơ quan điều tra lại theo hướng trong chừng mực nào đó, cơ quan điều tra được độc lập hơn, điều tra viên độc lập hơn. Theo hướng như thế thì may ra chúng ta mới đẩy mạnh hơn được hoạt động điều tra tội phạm tham nhũng (http://www.tuoitre.com.vn) . Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên về khả năng hạn chế của cơ quan điều tra trong điều tra tội phạm tham nhũng. Điều này thể hiện ở tỷ lệ phát hiện và phá án không cao, tỷ lệ thu hồi tài sản bị tham nhũng thấp, thời hạn điều tra thường bị kéo dài. Tuy nhiên, chúng tôi không hoàn toàn chia sẻ sự cần thiết phải bổ sung BLTTHS 2003 biện pháp điều tra đặc biệt. Với những biện pháp điều tra trong BLTTHS hiện nay, chúng tôi cho rằng, đủ để phát hiện khám phá tội phạm tham nhũng. Vấn đề là ở khả năng về chuyên môn nghề nghiệp của các điều tra viên, tức là vấn đề con người, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng điều tra chuyên nghiệp về tội phạm tham nhũng cho điều tra viên. Cái mà BLTTHS của chúng ta không theo kinh nghiệm của thế giới là chưa có những quy định về việc sử dụng kết quả, thông tin của họat động trinh sát đặc tình làm chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự. Nhu cầu phối hợp giữa hai hoạt động trinh sát đặc tình và họat động điều tra tố tụng là nhu cầu khách quan trong đấu tranh chống tội phạm ở bất kỳ quốc gia nào. Hạn chế này của BLTTHS 2003 đã giảm thiểu hiệu quả phá án tham nhũng rất nhiều. - Các quy định của trình tự tố tụng phải được quy định chặt chẽ hơn nữa để ngăn chặn khả năng tham nhũng ngay trong hoạt động của các cơ quan tư pháp và đặc biệt là trong hoạt động xét xử của Tòa án. Tình trạng tham nhũng trong hoạt động xét xử của Tòa án là mối đe dọa thực sự cho xã hội dân chủ và công bằng, cho niềm tin của người dân vào công lý. Mức độ tham nhũng trong hoạt động xét xử của Tòa án là chỉ số phản ánh trung thực tham nhũng trong xã hội. Tham nhũng bên ngoài xã hội chắc chắn phải tìm cách thâm nhập vào họat động xét xử và tham nhũng bên trong hoạt động xét xử của Tòa án sẽ vô hiệu hóa mọi cố gắng nỗ lực của nhà nước trong đấu tranh chống tham nhũng bằng các biện pháp hình sự. Tham nhũng trong hoạt động xét xử là hiện tượng không tránh khỏi, có cội nguồn xã hội tương đối phổ biến ở những quốc gia có hệ thống pháp luật không phát triển trong giai đoạn chuyển tiếp trong lịch sử của mình. Tham nhũng trong hoạt động tư pháp hình sự còn có cội nguồn từ yêu cầu bí mật kết quả điều tra, từ tính khép kín, tính hệ thống trên dưới phụ thuộc về tổ chức của Tòa án. Đặc thù này là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng trong hoạt động tư pháp hình sự. Kinh nghiệm lịch sử của nhiều nước cho thấy, theo sự phát triển của pháp luật nói chung, theo sự đồng bộ hài hòa của hệ thống tư pháp hình sự, thì mức độ tham nhũng trong họat động tư pháp giảm xuống. Điều này chỉ có thể xảy ra nếu như BLTTHS không có những quy định để người tiến hành tố tụng lạm dụng quyền lực nhà nước của mình vì động cơ vụ lợi. Chừng nào BLTTHS còn những quy định chưa rõ ràng, mâu thuẫn cho phép sử dụng quyền lực mà không bị kiểm soát thì chừng đó, còn cơ sở cho sự lạm quyền và điều này cũng đồng nghĩa với tham nhũng. Kinh nghiệm của Mông Cổ - một quốc gia cũng đang ở trong quá trình chuyển đổi - cho thấy, theo đánh giá của dư luận xã hội thì tham nhũng trong lĩnh vực tư pháp đứng thứ tư sau các lĩnh vực hải quan, đất đai, khai thác mỏ. Nguyên nhân tham nhũng chủ yếu do bộ máy tư pháp thiếu minh bạch, lương thấp, lề lối quản lý yếu kém, quy định của pháp luật còn mập mờ, muốn giải thích sao cũng được, nên thẩm phán mặc sức giải thích luật theo nhiều cách khác nhau. Giải pháp ở đây là Quốc hội phải thực hiện nhiệm vụ giải thích pháp luật khi có những quy định không rõ ràng. BLTTHS cần sửa đổi theo hướng mở rộng sự tham gia của người bào chữa, mở rộng quyền bào chữa như là một đối trọng cần thiết đối với quyền hạn to lớn của người tiến hành tố tụng, mở rộng trách nhiệm của Viện kiểm sát trong họat động kiểm sát tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra, mở rộng tính độc lập của người tiến hành tố tụng đi đôi với tính chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong tố tụng hình sự, thay đổi về tổ chức của hệ thống tòa án theo hướng tòa án cấp dưới chỉ bị ràng buộc về quan hệ tố tụng với tòa án cấp trên, không bị lệ thuộc về quan hệ tài chính và tổ chức nhân sự vào tòa án cấp trên. Công khai, minh bạch các bản án quyết định của tòa án cũng là một giải pháp chống tham nhũng trong họat động tư pháp.
|
|
|||










