Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 10/02/2012, 07:53(GMT+7)
 
Kinh tế xã hội

Nguy cơ & một số giải pháp chống tái lạm phát
Thị trường tài chính Việt Nam (TTTC VN), sau hơn 6 tháng đầu năm 2009 đang có xu hướng chủ đạo: Vừa ấm lên theo nghĩa ngày càng thoát ra khỏi thời kỳ lạnh lẽo của năng lực hấp thụ vốn (nhưng năng lực tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ chưa ấm lên tương ứng), vừa tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái lạm phát.

Có thể nhận diện các nhận định trên thông qua những biểu hiện cụ thể như sau:

1. Thị trường tín dụng: Đến cuối tháng 6, lãi suất huy động bằng VND của một số Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đã gần như đồng loạt phải điều chỉnh tăng dần đều ở các kì hạn từ 12 tháng trở lên với mức tăng từ 0,2-0,7%/năm, thậm chí 1%/năm. Động thái trên chứng tỏ sức hấp thụ vốn của nền kinh tế đã xuất hiện, là tín hiệu mừng. Tuy nhiên, điều đó cũng chỉ ra rằng nguồn vốn của nền kinh tế đang tập trung nhiều vào thị trường ngắn hạn qua nhiều kênh khác ngoài kênh chủ lực là ngân hàng, đó là một tín hiệu tạo sức ép lên lạm phát.

2. Nhiều gói kích cầu mới của Chính phủ liên tục bổ sung, khiến cho có những quan ngại rằng "Nếu phần lớn kích cầu chỉ phục vụ việc thực hiện cơ cấu lại nợ của người vay và chạy đua chi tiêu, đầu tư của Nhà nước thì nguy cơ tái lạm phát là hiện hữu". 8 tỷ USD (tương đương 144.000 tỷ VND) cho các gói kích cầu đã và đang lần lượt đưa ra trong năm tài khoá 2009 chủ yếu dồn vào 6 tháng đầu năm và chi cho đồng thời nhiều mục tiêu khác nhau. Theo báo cáo nhanh của các ngân hàng thương mại, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất (HTLS) bằng đồng Việt Nam đến ngày 16/7/2009 là 377.694,61 tỷ đồng và góp phần đẩy tốc độ gia tăng tổng dư nợ toàn nền kinh tế so với đầu năm lên khoảng 17%, gấp 4,4 lần so với tốc độ tăng GDP cùng thời gian ở mức tăng 3,9%. Như vậy, nếu lượng tín dụng bơm ra không tạo ra hiệu quả bằng cách đầu tư thực vào khu vực sản xuất làm ra hàng hoá tiêu thụ được để làm "đối trọng" hấp thụ vốn trong thị trường thì sẽ tạo ra áp lực tái lạm phát rất lớn.

3. Về tỷ giá, sau hơn 6 tháng cơ bản ổn định, trong vài tuần cuối tháng 5, đầu tháng 6, ngoài thị trường, tỷ giá niêm yết mua và bán USD/VND thường ở mức sát và kịch trần ngay cả khi NHNN đã nâng biên độ từ +-3% lên 5%? Đây cũng là một biểu hiện của sự giảm giá trị sức mua đối ngoại của VND so với đồng USD ngay khi cân đối tổng quát không thiếu ngoại tệ và khi chính đồng USD cũng đã giảm sức mua so với hầu hết các đồng tiền tự do chuyển đổi khác.

4. Thị trường vàng có lẽ là khu vực "phức tạp" nhất: Quý 1 xuất siêu hàng tỷ USD, quý 2 lúc đầu "đuổi theo" giá vàng thế giới, sau không những đuổi kịp, mà còn vượt, làm cho dòng chuyển động của vàng vừa đảo chiều, vừa cầm cự ở mức giá cao. Những ngày đầu tháng 6 giá vàng trong nước liên tục phá các kỷ lục, vượt qua con số 21,5 triệu đồng/lượng, tăng mạnh hơn tốc độ tăng của giá vàng thế giới. Giá vàng trong nước luôn phụ thuộc vào: i) Giá vàng thế giới; ii) Tỷ giá tại thời điểm tính đổi ra VND; iii) Mức độ và xu hướng lạm phát trong nước; iv) Hiệu ứng tâm lý do lo sợ đồng USD sụt giá cũng gây thêm áp lực muốn chuyển hướng đầu cơ vào vàng của các nhà kinh doanh trên thị trường tiền tệ và thị trường vàng. Cả 4 nhân tố trên đều đã và đang bất lợi cho việc đẩy giá vàng trong nước tụt xuống. Trong đó, nhân tố thứ 3 là thông điệp đáng quan tâm nhất.

5. Thị trường bất động sản trong suốt nửa năm chỉ phát ra tín hiệu ấm trở lại, nhưng không có nhiều bằng chứng mang tính đột biến về sự lên giá hay lượng tiêu thụ lớn trên thị trường đặc thù này. Giá bình quân tăng chậm, thậm chí tiếp tục đứng và giảm. Chứng tỏ cầu về văn phòng, nhà xưởng và nhà ở chưa cao, báo hiệu sức sản xuất ở các ngành khác trong địa bàn liên quan chưa tăng tương ứng với tổng mức đầu tư và kỳ vọng đầu tư vào khu vực BĐS thu hút nhiều vốn này…

6. Trên thị trường chứng khoán (TTCK), các chỉ số Vn-Index và HaSTC-Index (nay là HNX-Index) trên cả 2 sàn giao dịch chứng khoán tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội trong suốt 2,5 tháng từ tháng 4/2009 đã phát ra biểu đồ về xu hướng tăng nhiều hơn giảm và phản ánh khá trung thực "giá" của các Công ty phát hành chứng khoán. Những ngày giữa tháng 6, TTCK lại có nhiều phiên điều chỉnh giảm, làm cho chỉ số Vn-index đảo chiều tụt khỏi ngưỡng 500 sau khi đã vượt qua con số 519 điểm. Cuối tháng 6, ngày 24 các chỉ số lại tăng khá mạnh, bù đắp từng phần số điểm bị mất của các phiên trước. Xu hướng này có thể tiếp tục giằng co. Sự ảm đạm của TTCK nếu tiếp diễn kéo dài sẽ là một chỉ báo về tình trạng kém hấp thụ vốn của nền kinh tế và cũng là một thông điệp về hiện tượng tái lạm phát do mất cân đối giữa đầu tư gián tiếp cho sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ yếu ở khu vực các nhà phát hành.

Trên TTTC thế giới, cả hành tinh cũng đã và đang phải trải qua những ngày u ám của cuộc khủng hoảng chưa rõ hồi kết. Nhiều cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới đã phải "dốc hầu bao" để giải cứu và kích hoạt kinh tế. Trong đó quy mô các gói kích cầu và giải cứu kinh tế mà Chính phủ một số nước phải chi ra đến thời điểm cuối quy 1/2009 so với GDP như sau: Mỹ: 4,8%; Trung Quốc: 4,4%; Đức: 3,4%; Canada: 2,7%; Nhật: 2,2%; Pháp: 1,7%; Việt Nam: 9,5%...

Từ những thông tin trên, có thể bước đầu rút ra một số phân tích và đề xuất thái độ chủ động ứng xử để có thể đồng thời đạt được hai mục tiêu: vừa kích thích sản xuất, vừa chủ động chống sự bùng nổ tái lạm phát như sau:

1. Thế giới nói chung và thị trường tài chính VN nói riêng cần phải cảnh giác với "chính sách đồng tiền yếu" của Mỹ (Trung Quốc đang là một trong những nạn nhân lớn của chính sách đó). Theo đó, lãi suất điều hành cần chủ động phát ra tín hiệu theo hướng: khuyến khích tín dụng nội tệ, giảm dần và tiến tới khu biệt tín dụng ngoại tệ. Nên ngày càng gắn các nhu cầu ngoại tệ với thị trường ngoại hối thông qua cơ chế tỷ giá thông thoáng, hoán đổi ngoại tệ linh hoạt kết hợp với các biện pháp chống đô la hoá quyết liệt. Chính vì vậy, cần giảm mạnh lãi suất ngoại tệ xuống tương đương với lãi suất ở "quê hương" của ngoại tệ đó và tận dụng mức lạm phát đang còn thấp ở Việt Nam, hiện mới là 3,2% sau 7 tháng đầu năm 2009. Ngoài ra, cần tiếp tục có những biện pháp hành chính mạnh hơn để xử lý bằng luật pháp các hiện tượng găm giữ, thanh toán hay đầu cơ trái phép đồng ngoại tệ trong thị trường nội địa.

 2. Mặt bằng lãi suất nói chung cần điều hành theo xu hướng ổn định, thận trọng và nghiêng về thái độ giảm áp lực gây lạm phát. Đến nay, sau hơn 6 tháng dường như cả thế giới cùng nới lỏng tiền tệ để chống suy giảm kinh tế và kích cầu tiêu dùng. Các mức lãi suất đã giảm thấp tới mức không còn ý nghĩa kích hoạt kinh tế được nữa và lượng tiền mặt lớn đã thực sự tung vào lưu thông, làm cho giá trị sức mua của nhiều đồng tiền chủ chốt trong thanh toán quốc tế đã giảm rất mạnh. Diễn biến tiếp theo do đó chắc chắn sẽ tạo áp lực lạm phát mang tính toàn cầu. Vì vậy, một chu kỳ tăng lãi suất điều hành mới  sẽ phải diễn tiến theo quy luật ở quy mô thế giới và/hoặc một xu hướng thu hút nguồn vốn trong thị trường tài chính thứ cấp để thay thế cho việc bơm tiền qua thị trường sơ cấp cũng sẽ diễn ra trên quy mô toàn cầu. Thị trường tài chính trong nước cũng cần chủ động đón trước xu hướng và các giải pháp tương đồng này để không bị động trong việc chống lạm phát. Tuy lúc này lạm phát chưa bùng nổ, vấn đề hút tiền về chưa cấp bách, nhưng việc đặt ra các giải pháp làm "xì hơi" dần các áp lực gây bùng nổ tái lạm phát thông qua các nghiệp vụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và quản trị kinh doanh tiên tiến của các tổ chức tín dụng thì đã rất cấp bách. Trong đó, các giải pháp chính sách có tính bài bản lúc này là:

- Các tổ chức tín dụng cần tăng cường các hoạt động marketing để tìm thị trường, tìm khách hàng, hy sinh một phần thu nhập để chia sẻ lợi ích giữa Ngân hàng và khách hàng, giữa NHTM với nhau và giữa NHNN với NHTM như: Chọn khách hàng có năng lực hấp thụ vốn có hiệu quả chắc chắn để ưu tiên đầu tư cả về lượng và lãi suất, kiên quyết không cho vay dưới chuẩn, phát triển đồng tài trợ, giảm lãi suất trên thị trường bán buôn để tạo nguồn cho nhau giữa các NH trong thị trường liên ngân hàng, duy trì một tỷ lệ tiền mặt hợp lý đảm bảo thanh toán, giảm mạnh lãi suất ngoại tệ để chuyển dần các nhu cầu tín dụng ngoại tệ sang thị trường ngoại tệ và thị trường trái phiếu ngoại tệ trong nước, kiểm soát chặt chẽ tỷ trọng nhập siêu qua kiểm soát tỷ giá, giảm mạnh lãi suất đối với các khoản dự trữ bắt buộc nhưng không giảm mức dự trữ bắt buộc cũng như lãi suất định hướng thị trường của NHNN;

- Mở cơ chế thông qua quan hệ lợi ích và tính minh bạch để thị trường tín dụng chạy tiếp sức cho TTCK cùng phát triển lành mạnh...

Các giải pháp nói trên vừa nhằm tạo ra các nhân tố để tiết giảm giá vốn, vừa tận dụng tối đa các nguồn vốn có sẵn trên thị trường thứ cấp cho mục tiêu khuyến khích đầu tư vào các địa chỉ có năng lực sử dụng vốn có hiệu quả, thúc đẩy sản xuất tăng trưởng mà vẫn chủ động hạn chế được lượng cung tiền mới, khống chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán không nên để vượt quá 4,5 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế kỳ vọng để chủ động kìm giữ, kiểm soát các nhân tố gây tái lạm phát...

3. Các chính sách vĩ mô không nên can thiệp hành chính một cách thô bạo hoặc trái quy luật vào các cơ chế vận động của thị trường, mà chỉ nên tác động vào tổng cung và tổng cầu.

Trong bối cảnh hiện nay, vừa chống suy giảm kinh tế, vừa chủ động phòng chống lạm phát, Nhà nước cần sớm công bố minh bạch chiến lược phát triển các vùng, ngành kinh tế trọng điểm, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng hiệu quả, hiện đại đủ sức tạo định hướng và niềm tin cho thị trường. Từ đó, cần huy động một lượng lớn vốn trung và dài hạn bằng trái phiếu công trình có bảo lãnh của Chính phủ, tạo thành trái phiếu chất lượng cao có lộ trình, địa chỉ hiệu quả và lãi suất đủ hấp dẫn theo từng giai đoạn. Lượng trái phiếu này là rất cần thiết. Cũng như vậy, cần tích cực phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước để hấp thụ  lượng ngoại tệ trôi nổi, dự trữ để phục vụ ngay cho nhu cầu nhập khẩu thiết bị, đồng thời tạo cơ sở pháp lý và tạo thị trường tiêu thụ ngoại tệ lành mạnh cho nhà xuất khẩu. Trong tương lai gần, phải biến TTCK thực sự là kênh huy động và chuyển tải chủ yếu các nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Một trong những chính sách cho xu hướng này ngoài việc tạo hàng hoá tốt cho TTCK, cần phải có cơ chế rõ ràng để gắn TTCK với thị trường tín dụng theo nguyên tắc độc lập tương đối (thông qua đơn vị chuyên doanh hạch toán phụ thuộc, hoặc hạch toán độc lập), có chính sách minh bạch cho phép các loại trái phiếu được duyệt trong danh mục và một số loại cổ phiếu của các nhà phát hành có thương hiệu có giá trị lớn được phép sử dụng làm vật thế chấp và cầm cố vay vốn tại NHTM để thị trường tín dụng có thể hỗ trợ nâng cao tính thanh khoản cho TTCK. Đồng thời cần kiểm soát chặt chẽ việc dùng tài sản khác hay phương án sản xuất giả để vay tiền Ngân hàng đầu tư vào chứng khoán vốn (cổ phiếu)... nhằm tạo cơ chế cho TTCK phát triển lành mạnh và phản ánh trung thực sức phát triển của nền kinh tế vật chất.

Nguồn: Tạp chí Nhà quản lý

TS Nguyễn Đại Lai
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân