|
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xã hội hóa công tác y tế
|
||
|
Để xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu quả và phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân (BV, CS & NCSKND) trong tình hình mới, Đảng ta đã chỉ rõ việc tăng cường xã hội hóa công tác y tế là một trong những quan điểm, giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu trên. Xã hội hóa công tác y tế chính là phát huy tiềm năng, trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động nguồn lực xã hội để nâng cao hiệu quả của công tác y tế và tạo điều kiện để toàn dân, đặc biệt là đối tượng chính sách, người nghèo được chăm sóc sức khỏe (CSSK) tốt hơn.
1. Đặt vấn đề Để xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu quả và phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân (BV, CS & NCSKND) trong tình hình mới, Đảng ta đã chỉ rõ việc tăng cường xã hội hóa công tác y tế là một trong những quan điểm, giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu trên. Xã hội hóa công tác y tế chính là phát huy tiềm năng, trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động nguồn lực xã hội để nâng cao hiệu quả của công tác y tế và tạo điều kiện để toàn dân, đặc biệt là đối tượng chính sách, người nghèo được chăm sóc sức khỏe (CSSK) tốt hơn. Trên cơ sở các văn kiện của Đảng về xã hội hóa công tác y tế và Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ (Nghị quyết số 05) về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, cho thấy nội dung của xã hội hóa công tác y tế bao gồm: 1) Tăng nguồn lực đầu tư của Nhà nước cho công tác y tế, thể hiện vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc BV, CS & NCSKND; thực hiện tốt việc trợ giúp cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong CSSK; 2) Tăng cường huy động xã hội trong CSSK, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong CSSK, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật; 3) Từng bước thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, có sự trợ giúp của Nhà nước và các nguồn tài trợ khác, đồng thời đổi mới chế độ viện phí trên cơ sở từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí trực tiếp phục vụ người bệnh. Từng bước chuyển đổi việc cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các cơ sở khám chữa bệnh sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế do Nhà nước cung cấp thông qua hình thức BHYT; 4) Khuyến khích phát triển hệ thống y tế tư nhân, khuyến khích các hoạt động nhân đạo vì sức khỏe; 5) Nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các cơ sở y tế của Nhà nước. Sau hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 05, việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước (QLNN) về xã hội hóa công tác y tế là hết sức cần thiết. 2. Thực trạng về xã hội hóa công tác y tế hiện nay 2.1. Nguồn lực đầu tư của Nhà nước cho công tác y tế và trợ giúp cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong CSSK 2.1.1 Nguồn lực đầu tư của Nhà nước cho công tác y tế Trong những năm qua, Nhà nước đã quan tâm dành nhiều ngân sách cho công tác y tế. Cụ thể, năm 2006, chi ngân sách nhà nước (NSNN) về y tế (bao gồm cả chi đầu tư phát triển) là 16.582 tỷ đồng, đạt 5,63% tổng chi NSNN; tương tự, năm 2007 là 23.280 tỷ đồng, đạt 6,3% và năm 2008 là 26.183 tỷ đồng, đạt 6,5%[1]. Nhìn chung, đầu tư cho lĩnh vực y tế có xu hướng tăng nhưng tỷ trọng vốn đầu tư từ NSNN lại có xu hướng giảm (ngành y tế chiếm từ 93% năm 2001 giảm xuống còn 72,1% năm 2005)[2]. Tuy nhiên, tỷ lệ chi cho y tế trong tổng chi NSNN hầu như không tăng, dẫn đến chi NSNN cho y tế thấp và chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của công tác CSSK nhân dân. Hiện nay, chi tiêu công trong tổng chi tiêu y tế ước tính khoảng 30 - 35%, thấp hơn nhiều so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới là 50% trở lên (Tổ chức Y tế thế giới đã xếp Việt Nam đứng thứ 187/191 nước thành viên về chi NSNN cho CSSK quá ít)[3], trong khi "phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hợp lý, kém hiệu quả"[4] vì theo Luật Ngân sách nhà nước, tỷ lệ ngân sách chi cho y tế thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, còn Bộ Tài chính, Bộ Y tế không có quyền can thiệp nên dẫn tới tỷ lệ ngân sách chi cho y tế rất khác nhau, tỉnh quan tâm thì chi nhiều, tỉnh không quan tâm thì chi ít. Trong tổng ngân sách chi cho công tác y tế thì việc phân bổ để chi cho hoạt động y tế dự phòng cũng thấp hơn rất nhiều so với hoạt động khám, chữa bệnh (KCB) đã dẫn đến hoạt động y tế dự phòng còn chưa hiệu quả (tỷ lệ ngân sách đầu tư cho y tế dự phòng ở hầu hết các tỉnh chỉ đạt khoảng từ 10 - 20%, trong khi theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ này ít nhất phải là 30%)[5]. 2.1.2 Trợ giúp cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong CSSK Chính sách KCB cho người nghèo theo Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã được triển khai tốt ở các địa phương. Mỗi năm, Nhà nước phân bổ trên 700 tỷ đồng cho Quỹ KCB cho người nghèo, gần 20 triệu người nghèo đã được hưởng chế độ KCB thông qua chế độ BHYT (năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định điều chỉnh mức hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người nghèo từ 80.000 đồng /thẻ/năm lên 130.000 đồng và hỗ trợ 50% mệnh giá thẻ BHYT cho người cận nghèo). Chính sách trên đã góp phần bảo đảm công bằng trong CSSK và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việc KCB không phải trả tiền cho trẻ em dưới 6 tuổi theo Nghị định số 36/2005/NĐ-CP của Chính phủ được thực hiện trên nguyên tắc, Nhà nước cấp ngân sách thông qua các cơ sở KCB công lập với mức chi từ năm 2007 là 108.000 đồng /trẻ/năm với phương thức thanh toán thực thanh, thực chi. Tuy nhiên, chính sách này vẫn còn nhiều bất cập, như việc bố trí ngân sách theo từng địa phương nên việc KCB ngoại tỉnh của trẻ em gặp khó khăn; việc thanh toán thực thanh, thực chi chỉ áp dụng đối với các cơ sở KCB công lập, trong khi các cơ sở KCB tư nhân lại không được thực hiện, nên ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của trẻ em. Do vậy, cần thiết phải chuyển hình thức mua thẻ BHYT cho các đối tượng này để giải quyết căn nguyên các bất cập trên. 2.2. Huy động xã hội về giáo dục, truyền thông trong CSSK, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong CSSK 2.2.1 Giáo dục, truyền thông về sức khỏe, khuyến khích lối sống vệ sinh lành mạnh Trong suốt thời gian dài vừa qua, ngành y tế đã kiên trì triển khai nhiều hoạt động giáo dục, truyền thông vận động nhân dân tham gia vệ sinh phòng bệnh, giữ gìn sức khỏe như khuyến khích nếp sống vệ sinh, xây dựng gia đình, cộng đồng văn hóa - sức khỏe, diệt ruồi, muỗi, xây dựng nhà tắm, hố tiêu, giếng nước... Tuy nhiên, qua điều tra, nhận thức của người dân về phòng bệnh, giữ gìn và nâng cao sức khỏe vẫn còn thấp (80% dân số Việt Nam chưa có nước sạch, 30-40% gia đình có hố xí hợp vệ sinh)[6]; chế độ ăn uống, sinh hoạt còn bất hợp lý; tình trạng lạm dụng rượu, bia, thuốc lá vẫn phổ biến … đã ảnh hưởng đến chất lượng sức khỏe, gia tăng dịch và bệnh tật. Do đó, cần phải tiếp tục tuyên truyền, giáo dục để nâng cao hiểu biết trong nhân dân về phòng bệnh, giữ gìn sức khỏe, nghiên cứu xây dựng và ban hành các luật về phòng, chống các bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam. 2.2.2. Phối hợp liên ngành và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong CSSK Nhận thức đúng đắn quan điểm BV, CS & NCSKND là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật. Trong thời gian qua, các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền và các đoàn thể nhân dân đã tích cực phối hợp tham gia cùng với ngành y tế vào công tác y tế, đặc biệt là khi có dịch bệnh xảy ra. Tuy nhiên, công tác phòng bệnh, giữ gìn môi trường sống, chủ động phòng ngừa bệnh tật vẫn chưa được sự quan tâm thích đáng của các cấp chính quyền, nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ vẫn chưa được phân định rõ ràng, tình trạng trông chờ vào kinh phí do Nhà nước cấp vẫn còn khá phổ biến. Do đó, đòi hỏi phải xác định cơ chế huy động toàn hệ thống chính trị, phối hợp liên ngành và huy động xã hội tham gia vào công tác CSSK. 2.3. Thực hiện chính sách BHYT và viện phí 2.3.1 Về BHYT BHYT là cơ chế chi trả trước cho KCB (chi trả gián tiếp), là giải pháp quan trọng của XHH nhằm huy động các tầng lớp dân cư tham gia trên cơ sở lấy số đông bù số ít, chia sẻ rủi ro. Hiện nay, diện bao phủ BHYT chiếm 42% dân số, quỹ BHYT đã đóng góp gần 40% cho hoạt động của các cơ sở KCB, 1.800 cơ sở KCB của Nhà nước và tư nhân đã tham gia KCB cho người có thẻ BHYT, 60% số trạm y tế cấp xã có hợp đồng KCB BHYT cho thấy, quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng[7], kể cả các dịch vụ kỹ thuật cao. Tuy nhiên, diện bao phủ BHYT mặc dù đã tăng, nhưng vẫn còn ở mức thấp. Mức phí đóng BHYT thấp trong khi chi phí y tế ngày càng tăng cao. Tình trạng lựa chọn ngược trong BHYT tự nguyện xảy ra khá trầm trọng. Khả năng cân bằng Quỹ BHYT yếu. Những tồn tại này khiến khả năng chia sẻ nguy cơ của BHYT còn hạn chế. Dự án Luật BHYT đang được trình Quốc hội đã xác định trong 4 - 5 năm tới sẽ thực hiện BHYT bắt buộc toàn dân để từng bước thay thế cơ chế thu viện phí hiện nay. 2.3.2 Về viện phí Viện phí là cơ chế chi trả trực tiếp được thực hiện từ năm 1995 đến nay. Chính sách viện phí đã góp phần tăng nguồn thu cho các cơ sở KCB để nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và cải thiện đời sống của đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế. Tuy nhiên, mức viện phí hiện hành được xây dựng đã trên 10 năm và chỉ thu một phần viện phí nên có rất nhiều bất cập, mức thu quá thấp so với mặt bằng giá cả hiện nay (khám bệnh là 1.000 - 3.000 đồng /lần khám bệnh; thu giường bệnh là 5.000 đồng /giường /ngày, chỉ bằng 1/10 so với chi phí cần thiết)[8]. Trong khi đó, cơ sở KCB vẫn phải sử dụng 35% nguồn thu không kể thuốc, máu, dịch truyền để chi tiền lương tăng thêm theo lộ trình cải cách tiền lương của Chính phủ. Điều này đã gây khó khăn lớn cho các cơ sở KCB trong việc hạch toán, hoạt động KCB và ảnh hưởng rất lớn đến thực hiện chính sách BHYT. Do đó, cần phải sớm sửa đổi, bổ sung chính sách viện phí cho phù hợp với mặt bằng kinh tế - xã hội hiện nay. 2.4. Phát triển hệ thống y tế tư nhân và các hoạt động nhân đạo vì sức khỏe 2.4.1 Phát triển hệ thống y tế tư nhân Thực hiện Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân năm 2003 và Luật Dược năm 2005, đến nay, cả nước đã có trên 30.000 cơ sở hành nghề y tư nhân, kể cả y dược học cổ truyền, trong đó có 68 bệnh viện tư, 01 bệnh viện y học cổ truyền, hơn 300 phòng khám đa khoa tư và gần 90 nhà hộ sinh tư…[9]. Theo Điều tra y tế quốc gia năm 2006, các cơ sở y tế tư nhân đã cấp cứu, KCB cho trên 3 triệu lượt người bệnh, làm thủ thuật, phẫu thuật cho trên 100.000 người bệnh và làm xét nghiệm cận lâm sàng cho trên 2, 5 triệu lượt người. Rõ ràng, y tế tư nhân đã góp phần rất lớn trong điều trị ngoại trú (60,2% số lượt KCB ngoại trú), đồng thời giúp giảm tải về điều trị nội trú cho các cơ sở KCB của Nhà nước. Tuy nhiên, các cơ sở y tế tư nhân, mặc dù nhiều, nhưng quy mô còn thấp, số lượng các bệnh viện tư nhân vẫn chưa nhiều và hầu hết là các bệnh viện nhỏ (30-50 giường bệnh), chất lượng cung cấp các dịch vụ KCB còn hạn chế (chủ yếu mới chỉ cung cấp các dịch vụ KCB ngoại trú), tỷ lệ bệnh viện tư nhân chỉ chiếm 6% và giường bệnh chiếm 3% so với tổng số bệnh viện và giường bệnh của Nhà nước. Nguyên nhân của hiện trạng trên, bên cạnh yếu tố chủ quan của nhà đầu tư, còn có yếu tố khách quan là các chính sách khuyến khích đầu tư còn hạn chế. Chính sách ưu đãi đất của Nhà nước thì có, nhưng thực tế lại hầu như không thực hiện được do quỹ đất ở các khu trung tâm đều rất ít, đất xa thành phố, xa khu dân cư không thu hút được các nhà đầu tư do lo ngại hoạt động không đạt hiệu quả. Các nhà đầu tư cho y tế tư nhân khó tiếp cận được với các nguồn tín dụng ưu đãi, huy động vốn còn hạn chế, chủ yếu mới từ vay vốn lãi suất cao, vốn của các cá nhân và tổ chức. Chính sách thuế cũng chưa công bằng và không khuyến khích các hoạt động xã hội hóa (các bệnh viện tư hoạt động dưới dạng doanh nghiệp thì phải đóng thuế thu nhập 28%, chứ không được hưởng mức thuế 10% như quy định tại Nghị định số 53 của Chính phủ)[10]. 2.4.2 Các hoạt động nhân đạo vì sức khỏe Các hoạt động từ thiện, nhân đạo trong CSSK đã và đang phát triển mạnh, đa dạng với nhiều cá nhân, hội, đoàn thể, tôn giáo, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế … tham gia như đóng góp như quỹ Vòng tay nhân ái, hiến máu nhân đạo, tổ chức các đoàn KCB nhân đạo, cung cấp bữa ăn miễn phí cho bệnh nhân nghèo, hỗ trợ mổ mắt, sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh … đã góp phần đem lại cơ hội sống, chữa trị bệnh tật cho hàng vạn người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, hoạt động này phần lớn còn mang tính tự phát, chưa thường xuyên và chưa có cơ chế pháp lý để tổ chức thực hiện đồng bộ. Mặt khác, các cơ sở KCB nhân đạo được thành lập và hoạt động để KCB miễn phí nhưng lại liên quan đến điều kiện hành nghề vì liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người bệnh nhưng lại chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh, nên rất khó khăn trong việc quản lý đối với các cơ sở này. 2.5. Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các cơ sở y tế của Nhà nước Sau 2 năm thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 23/4/2006 của Chính phủ (Nghị định số 43) quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và gần 3 năm thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ trong ngành y tế, tính đến ngày 31/10/2007, theo báo cáo chưa đầy đủ của 56 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có hơn 2.000 cơ sở y tế được giao quyền tự chủ theo quy định tại Nghị định số 43, trong đó có 90 bệnh viện, trung tâm y tế (1 bệnh viện tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, 35 bệnh viện tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên và 54 bệnh viện do NSNN bảo đảm) và 24 cơ sở y tế dự phòng (3 cơ sở tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, 19 cơ sở tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên và 2 cơ sở do NSNN bảo đảm)[11]. Nhìn chung, vấn đề tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp y tế được thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, do chính sách viện phí chưa được điều chỉnh nên gây khó khăn rất nhiều cho các bệnh viện trong việc tự hạch toán, cân đối thu - chi; vấn đề tự chủ về tổ chức bộ máy và biên chế vẫn còn lúng túng và chưa được hướng dẫn cụ thể nên tính chủ động chưa cao; một số tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu, định mức kinh phí trên đầu giường bệnh, định mức chi phí KCB đã lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế; việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chất lượng hoạt động còn chậm, chưa có hệ thống đánh giá kết quả hoạt động thích hợp … 3. Một số kiến nghị để tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN về xã hội hóa công tác y tế 3.1. Từng bước hoàn thiện thể chế về xã hội hóa công tác y tế 3.1.1 Đề nghị Quốc hội khóa XII và XIII sớm thông qua: - Luật BHYT với lộ trình cụ thể để thực hiện BHYT toàn dân. - Luật Khám bệnh, chữa bệnh để quy định thống nhất hoạt động của các cơ sở KCB của Nhà nước cũng như tư nhân, đặc biệt là thành lập Hội đồng y khoa để cấp chứng chỉ và đào tạo liên tục cho tất cả người hành nghề, không phân biệt người hành nghề tại cơ sở Nhà nước hay tư nhân. - Luật An toàn thực phẩm để đề cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng động trong bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, tăng cường phối hợp liên ngành trong chuỗi quản lý từ trang trại đến bàn ăn. - Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá, Luật Phòng chống lạm dụng rượu, bia; Luật Chăm sóc sức khoẻ tâm thần … để phòng, chống các bệnh không lây nhiễm, phòng ngừa bệnh tật từ cộng đồng và xã hội. - Luật Hoạt động từ thiện, nhân đạo để tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy hoạt động từ thiện, nhân đạo trong CSSK, đặc biệt là KCB miễn phí cho người nghèo và các đối tượng đặc biệt khác. 3.1.2 Đề nghị Chính phủ sớm ban hành các văn bản: - Nghị định về chính sách viện phí mới theo hướng từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí cơ bản, phù hợp với khả năng huy động các nguồn lực của xã hội và tạo mặt bằng giá thống nhất để thực hiện có hiệu quả chính sách BHYT. - Quy hoạch mạng lưới KCB đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, theo đó tăng tốc độ phát triển giường bệnh tư nhân từ 3% hiện nay lên 10% vào năm 2010. - Các chính sách liên quan đến tư nhân góp vốn, liên doanh, vốn đầu tư nước ngoài; BOT (đầu tư - khai thác - chuyển giao), BT (đầu tư – chuyển giao), BTO (đầu tư – chuyển giao - khai thác); Nhà nước xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng cho các cơ sở KCB tư nhân thuê dài hạn với giá ưu đãi; thực hiện thí điểm cổ phần hoá một số bệnh viện của Nhà nước; sửa đổi, bổ sung các cơ chế hỗ trợ đầu tư, tài chính, tín dụng, thuế, ưu đãi về đất đai … 3.1.3 Đề nghị các Bộ sớm ban hành các văn bản: - Bộ Y tế: Danh mục hoạt động được phép triển khai XHH và những hoạt động không được phép triển khai XHH; cơ chế pháp lý để kiểm soát việc chống lạm dụng các dịch vụ kỹ thuật, thuốc, vật tư tiêu hao trong KCB; tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành và chất lượng hoạt động sự nghiệp của cơ sở y tế khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm. - Bộ Nội vụ và Bộ Y tế: Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể cơ chế tự chủ tổ chức, bộ máy và biên chế theo Nghị định số 43. - Bộ Tài chính và Bộ Y tế: Thông tư liên tịch hướng dẫn việc liên doanh lắp đặt trang thiết bị y tế tại các cơ sở KCB của Nhà nước, Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể việc chuyển đổi các cơ sở bán công sang Nhà nước hoặc tư nhân. 3.2. Tăng cường tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về xã hội hóa công tác y tế 3.2.1 Đề nghị Quốc hội: - Ban hành Nghị quyết riêng về thúc đẩy XHH công tác y tế, trong đó quy định tăng theo lộ trình tỷ lệ ngân sách đầu tư cho y tế; quy định ít nhất dành 30% cho y tế dự phòng và từng bước chuyển đổi việc cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các cơ sở KCB sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế do Nhà nước cung cấp thông qua hình thức BHYT, trên cơ sở đó Chính phủ và HĐND tỉnh căn cứ để phân bổ nguồn lực. - Cùng với các cơ quan dân cử tiếp tục giám sát từng nội dung của xã hội hóa công tác y tế, góp phần thúc đẩy việc kiểm soát bên ngoài đối với các hoạt động này. 3.2.2 Đề nghị Chính phủ: - Tăng cường chỉ đạo hoạt động thông tin, tuyên truyền về chủ trương XHH công tác y tế để tạo sự đồng thuận khi triển khai thực hiện. - Bên cạnh việc quyết định huy động 1.400 tỷ đồng phát hành trái phiếu Chính phủ để nâng cấp các bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện đa khoa liên huyện và một số bệnh viện đa khoa tỉnh thuộc vùng khó khăn, phải tích cực chỉ đạo việc hỗ trợ lãi xuất vay vốn đầu tư để mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị đối với các cơ sở KCB của Nhà nước hiện nay. - Tăng cường chỉ đạo việc phối hợp liên ngành trong tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật về xã hội hóa công tác y tế. 3.2.3 Đề nghị các Bộ: - Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 05, Nghị định số 115, Nghị định số 43, Nghị định số 53 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành về xã hội hóa công tác y tế. - Tăng cường có chất lượng và thực chất công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về xã hội hóa công tác y tế. 3.2.4 Đề nghị ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: - Tiếp tục kiện toàn Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết số 05 để tích cực chỉ đạo việc xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện đề án, kế hoạch về xã hội hóa công tác y tế phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương. - Rà soát lại các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển mạng lưới y tế để sửa đổi, bổ sung các chỉ tiêu về xã hội hóa công tác y tế, đồng thời công khai, minh bạch các quy hoạch này, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tích cực tham gia đầu tư vào việc cung cấp các dịch vụ y tế. - Áp dụng sáng tạo các cơ chế hỗ trợ đầu tư, tài chính, tín dụng, thuế, ưu đãi về đất đai … phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương. - Phối hợp với các Bộ trong việc tăng cường có chất lượng và thực chất công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về xã hội hóa công tác y tế. Như vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về xã hội hóa công tác y tế nhất thiết phải thực hiện đồng bộ, có ưu tiên trọng tâm, trọng điểm các giải pháp như đã đề xuất trên, góp phần tích cực vào việc xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu quả và phát triển hướng tới bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của cơ quan, tổ chức và công dân trong CSSK, thực hiện thành công sự nghiệp BV, CS & NCSKND./. [1]Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị chuyên đề của Chính phủ về xã hội hóa công tác y tế ngày 18/12/2007. [2] Báo cáo của Bộ Kế hoạch - đầu tư tại Hội nghị chuyên đề của Chính phủ về xã hội hóa công tác y tế ngày 18/12/2007. [3] Báo cáo của Bộ Y tế tại Hội nghị chuyên đề của Chính phủ về xã hội hóa công tác y tế ngày 18/12/2007. [4] Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác BV, CS & NCSKND trong tình hình mới. [8] Báo cáo của Bộ Y tế tại Hội nghị chuyên đề của Chính phủ về xã hội hóa công tác y tế ngày 18/12/2007. [9] Báo cáo của Bộ Y tế tại Hội nghị chuyên đề của Chính phủ về xã hội hóa công tác y tế ngày 18/12/2007.
|










