|
Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính cho phát triển giáo dục ngoài công lập
|
||
|
Loại hình trường ngoài công lập (NCL) trong nền giáo dục các quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển đa dạng. Tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội và cách thức nhìn nhận của mỗi quốc gia mà các trường NCL hình thành và phát triển nhờ những nguồn vốn khác nhau, như trường do tư nhân đầu tư xây dựng và quản lý, điều hành, trường do Nhà nước đầu tư xây dựng, nhưng Nhà nước giao cho tư nhân quản lý và điều hành, trường do Nhà nước và tư nhân cùng đầu tư xây dựng và cùng quản lý điều hành, trường tôn giáo (trường dòng) do nhà thờ đầu tư xây dựng và quản lý ít chịu sự quản lý của Nhà nước, trường do cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài đầu tư xây dựng và quản lý, trường do các nhà đầu tư trong và ngoài nước liên kết đầu tư xây dựng và quản lý… Trong lịch sử ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, những trường học đầu tiên xuất hiện đều do cá nhân hoặc do một tổ chức tôn giáo (nhà thờ, nhà chùa) thành lập và quản lý. ở giai đoạn này, nhà nước dường như chưa có vai trò gì trong việc hình thành trường học, mà thường chỉ tổ chức các kỳ thi tuyển chọn nhân tài, cấp văn bằng chứng chỉ, nhằm lựa chọn đội ngũ để củng cố bộ máy cai trị các cấp. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội công nghiệp, hệ thống trường học do Nhà nước đầu tư xây dựng phát triển nhanh chóng và dần chiếm ưu thế, các trường NCL hầu như không còn tồn tại. Nhưng từ cuối thế kỷ XX đến nay, mô hình trường NCL lại phát triển khá rộng khắp, nhất là ở những nước công nghiệp phát triển, do người ta ý thức được rằng, muốn cho nền giáo dục phát triển phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau trong xã hội. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, năm 2004, ở nước Pháp có khoảng 20% học sinh phổ thông học ở các trường do cá nhân hoặc tổ chức đầu tư và điều hành, còn ở bậc đại học, có tới 14% sinh viên học trong khoảng 30% số trường NCL. Tại Mỹ, mãi tới những năm cuối cùng của thế kỷ XI mới xuất hiện những trường công lập đầu tiên tại bang New York. Mặc dù sau đó, hệ thống giáo dục công lập của nước này đã phát triển với tốc độ nhanh, và giáo dục trung học được coi là bắt buộc với mọi người, mọi chi phí đào tạo đều do Nhà nước chi trả, nhưng đến thập niên đầu của thế kỷ XX, ước tính có khoảng 40% học sinh trung học của toàn nước Mỹ học ở các trường không phải do nhà nước xây dựng và điều hành. Còn đến năm 2000, đã có khoảng 25% số trường tiểu học và trung học, với khoảng 11% học sinh học tại các trường này. Cần nhấn mạnh là ở Mỹ, học phí ở trường NCL rất cao. Số học sinh trung học ở các trường NCL phần đông là con nhà khá giả, có những đòi hỏi riêng về điều kiện học tập và chỉ các trường NCL mới có thể đáp ứng được. Tại Trung Quốc, loại hình trường NCL phát triển muộn, nhưng với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Năm 2001, tỷ lệ học sinh NCL ở Trung Quốc chỉ khoảng 3% (tiểu học khoảng 1,5 %, đại học khoảng 1,2%), nhưng đến nay, kinh phí chi cho giáo dục ở Trung Quốc phần lớn đều không phải do Nhà nước chịu trách nhiệm. Mỗi địa phương ở Trung Quốc đều có những cách thức khác nhau về giáo dục nói chung và phát triển giáo dục NCL nói riêng. Hầu hết các tỉnh đều phát triển hệ thống các trường NCL với tốc độ nhanh trong khoảng 5 năm gần đây. Tại Hàn Quốc, loại hình NCL phát trển mạnh mẽ ở cả tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học. Và một điều đáng lưu ý là ở quốc gia này, các trường NCL cũng được Nhà nước đầu tư một phần đáng kể về kinh phí.Đồng thời các trường này cũng được Nhà nước quản lý, chỉ đạo khá thống nhất và chặt chẽ. Năm 2004, Hàn Quốc có khoảng 50% học sinh trung học phổ thông học tại những trường NCL (ở cao đẳng khoảng 80%, đại học là 75%).ở Thái Lan, Nhà nước chi trả hoàn toàn kinh phí học bậc phổ thông cho mọi học sinh. Chính vì thế số học sinh NCL đã giảm mạnh vào thập niên cuối của thế kỷ XX. Nếu như năm 1990 ở quốc gia này có tới hơn 20% số học sinh trung học NCL, thì đến năm 2000 chỉ còn không đầy một nửa. Trong khi đó, số sinh viên cao đẳng và đại học NCL lại gia tăng nhanh chóng. Đến những năm gần đây, họ đã chiếm tới gần một nửa số sinh viên trong toàn quốc. Tại Singapore năm 1987 thành lập các trường độc lập, đến năm 1999 xuất hiện các trường tự trị. Các trường công được phép chuyển thành các trường tư hoạt động bằng ngân sách của Nhà nước, nhưng nhà trường vẫn được thu học phí theo quy định của Chính phủ. Tại Tanzania, mấy năm gần đây cũng có sự gia tăng nhanh chóng các trường NCL. Tuy vậy, trên quy mô toàn thế giới, tỉ lệ các trường NCL vẫn thấp hơn trường công lập rất nhiều. Đến những năm đầu tiên của thế kỉ XXI, trong 154 nước trên thế giới, có 46% số nước có tỉ lệ dưới 10% học sinh, 43% số nước có tỉ lệ từ 10-40% và 7,3% số nước có 4-48% học sinh theo học tại các trường NCL. Để phát triển các trường NCL, đa số các quốc gia đều coi trọng các giải pháp tài chính sau: Một là, tăng chi ngân sách nhà nước (NSNN) với các mục tiêu ưu tiên rõ ràng trong chiến lược phát triển giáo dục quốc dân và thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Các quốc gia đều nhận thực rất rõ tầm quan trọng đặc biệt của phát triển giáo dục trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, coi phát triển giáo dục là chìa khoá để bảo đảm sự thành công trong cạnh tranh trên mọi phương diện của quá trình hội nhập quốc tế. Với nhận thức đó, các quốc gia đã và đang thực hiện những biện pháp để tăng chi NSNN cho giáo dục gắn liền với các mục tiêu ưu tiên rõ ràng, nhằm thúc đẩy sự phát triển của giáo dục quốc gia đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đủ sức hội nhập với nền giáo dục của các nước trên thế giới. Tuỳ theo thực trạng của nền kinh tế - xã hội và thực trạng của nền giáo dục quốc gia trong từng thời kỳ mà các quốc gia xác định những mục tiêu ưu tiên chi NSNN cho phát triển giáo dục khác nhau. Chính phủ các nước đều chú trọng ưu tiên chi NSNN cho các cấp học phổ cập, đồng thời ưu tiên chi cho đào tạo đại học ở các trường trọng điểm quốc gia. Ưu tiên chi NSNN cho giáo dục tiểu học và trung học cơ sở nhằm thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ học tập của mọi người dân, tạo điều kiện để người dân có được trình độ giáo dục phổ cập tối thiểu có thể tiếp tục học lên các cấp học cao hơn, tự học, học thường xuyên và học suốt đời. Ưu tiên chi NSNN cho đào tạo đại học ở các trường trọng điểm quốc gia nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năm 2005, chi NSNN của Hungary cho giáo dục phổ thông chiếm tới 81,5% tổng chi NSNN cho giáo dục. Năm 1997, chi NSNN cho giáo dục tiểu học và trung học ở Mỹ chiếm khoảng 60% tổng chi NSNN cho giáo dục và trong đào tạo thì NSNN chủ yếu chi tập trung cho các trường đại học trọng điểm quốc gia. Đối với Hàn Quốc, khi mà hầu hết thế hệ trẻ tham gia vào thị trường lao động đều học hết trung học phổ thông, thì chi tiêu công tăng thêm hàng năm được ưu tiên cho đào tạo đại học, đặc biệt là đầu tư cho các trường trọng điểm quốc gia. Năm 1985, NSNN Hàn Quốc dành cho các trường đại học chiếm tới 24,8% tổng chi NSNN cho giáo dục. Trong chiến lược phát triển giáo dục, các quốc gia rất chú trọng ưu tiên chi NSNN để hỗ trợ cho các vùng có hoàn cảnh kinh tế, xã hội khó khăn, người nghèo, người khuyết tật nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong nền giáo dục, thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ được học tập của mọi công dân. Năm 1997, Hàn Quốc có 114 trường dành cho trẻ em khuyết tật với 22.789 học sinh. Các sinh viên ở Mỹ theo học các trường công lập hay tư nhân đều được hưởng quyền lợi từ các chương trình liên bang như học bổng, vay tín dụng Nhà nước... và năm 1996, có đến 39% sinh viên được nhận học bổng và 29% sinh viên được vay tín dụng Nhà nước. Phát triển giáo dục dân tộc thiểu số luôn được chú trọng ưu tiên trong chính sách và chi NSNN cho giáo dục ở Trung Quốc, năm 1997, Trung Quốc có tới 25.635 trường phổ thông dân tộc độc lập, 13 trường đại học dân tộc. Ngoài ra, Trung Quốc còn rất chú trọng đào tạo nghề cho thanh niên ở nông thôn để phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hai là, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương trong quản lý và bảo đảm ngân sách cho phát triển giáo dục ở địa phương. Năm 1997, trong tổng chi NSNN Hàn Quốc cho giáo dục, có tới 83% là chi từ ngân sách địa phương. Trung Quốc có tỷ lệ chi ngân sách trung ương trong tổng chi NSNN cho giáo dục có xu hướng giảm và chủ yếu để giải quyết các vấn đề trong việc thu hẹp khoảng cách phát triển giáo dục giữa các địa phương với nhau, trợ giúp các đối tượng chính sách xã hội. Mỹ có tỷ lệ 90% kinh phí giáo dục là từ nguồn của các bang và các quận, chi giáo dục của liên bang chi chiếm 10% tổng chi phí cho giáo dục và chủ yếu được dành để phục vụ cho các đối tượng khó khăn. Ba là, tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục. Việc cấp kinh phí ngân sách cho các trường chủ yếu dựa vào kết quả đầu ra là số lượng và kết quả học tập của học sinh, sinh viên. Nhiều nước đã thực hiện cơ chế đấu thầu hoặc ký hợp đồng giữa Nhà nước với các cơ sở giáo dục trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo cho xã hội. Hungary cấp kinh phí NSNN cho các cơ sở giáo dục được thực hiện hàng năm theo số học sinh thực tế (giáo dục phổ thông) và theo chỉ tiêu được giao đào tạo về đại học và cao đẳng. Ngoài nguồn NSNN cấp, các cơ sở giáo dục tự khai thác các nguồn tài chính khác đảm bảo cho hoạt động như đóng góp của các tổ chức và cá nhân, thu từ nghiên cứu khoa học, thu từ các hoạt động tư vấn (tư vấn thiết kế xây dựng, tư vấn pháp luật, tư vấn kinh doanh...) hoặc thu từ cho thuê tài sản. Mỹ là là nước có kinh phí NSNN cấp cho các trường chủ yếu là gắn liền với kết quả đầu ra của giáo dục, căn cứ vào số lượng và kết quả học tập của học sinh và thực hiện theo nhiều mô hình như cấp phiếu học tập (voucher program), hợp đồng (charter school). Bốn là, thực thi cơ chế khuyến khích và hỗ trợ tài chính thích hợp để thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở giáo dục tư nhân. Trung Quốc ngoài những văn bản pháp quy quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục thành lập và quy chế hoạt động của các cơ sở giáo dục tư nhân, Chính phủ còn có chính sách ưu đãi miễn thuế liên quan đến trường sở, đất đai... Chính phủ Hàn Quốc thực hiện chính sách hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất cho bất cứ ai mở trường mầm non; miễn thuế cho các trường tư nhân trong khoản tiền thu được và hỗ trợ một phần để chi trả tiền thù lao cho giáo viên và chi phí để điều hành. Ngoài ra Chính phủ còn cho các trường tư vay tiền để giúp họ mở rộng quy mô và đổi mới trang thiết bị. Hàng năm, NSNN phân bổ cho khu vực giáo dục tư nhân đều tăng lên dưới hình thức trợ cấp nghiên cứu, trợ cấp hoạt động cho sinh viên, học bổng. Nhà nước Hungary hỗ trợ kinh phí từ NSNN thông qua ký hợp đồng với các trường tư về chất lượng giảng dạy và kinh phí ngân sách chi cho trường hàng năm căn cứ theo đầu học sinh. Mỹ có chính sách hỗ trợ kinh phí từ ngân sách cho các trường tư ở tất cả các cấp học, trình độ đào tạo. Năm 1997, chi NSNN hỗ trợ cho các trường tư ở bậc tiểu học và trung học chiếm 8% tổng chi NSNN cho các cấp học. Đồng thời, nhiều nước có cơ chế tài chính thích hợp để huy động sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân cho với từng cấp học, từng trình độ đào tạo, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân hảo tâm tạo lập các quỹ trao học bổng cho học sinh.
|
|
|||










