Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ ba, 06/01/2009, 13:08(GMT+7)
Kinh tế xã hội

GS-TSKH Nguyễn Xuân Hãn: Cần phải có ngay chương trình - Sách giáo khoa chuẩn
Thông tin về học sinh bỏ học vẫn liên tục được báo chí cập nhật trong những ngày qua. Một trong những nguyên nhân sâu xa là chương trình giáo dục (CT) quá tải, sách giáo khoa (SGK) có nhiều sai sót. Gần đây, Bộ Giáo dục và đào tạo (Bộ GD -ĐT) đã có chủ trương đánh giá lại CT - SGK ở bậc học phổ thông (đã kết thúc ngày 15/4 vừa qua -PV). Phóng viên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử đã có cuộc trao đổi với GS-TSKH Nguyễn Xuân Hãn, xung quanh vấn đề này.

 

Chủ trương của Bộ tuy chậm nhưng cần thiết

PV: Thưa ông, Bộ GD- ĐT nhấn mạnh mục tiêu của đợt tổng kiểm tra này là nhằm tìm ra những ưu, khuyết điểm của CT - SGK hiện hành. Ông có nhận xét gì về chủ trương này?

NXH: Chương trình (CT) là cốt lõi của nền học, SGK là tài liệu mang tính pháp lý trong dạy và học. Sự bất ổn của CT-SGK  trong lịch sử giáo dục trong và ngoài nước sẽ dẫn đến sự bất ổn trong sự nghiệp trồng người. Việc hàng chục vạn học sinh bỏ học vừa qua là một ví dụ. Vấn đề này cũng đã được bàn bạc, thảo luận ở nhiều diễn đàn quốc gia, như tại các Đại hội Đảng, ở Quốc hội và các hội nghị, hội thảo nhiều năm nay, nhưng chưa được giải quyết dứt điểm.

Theo tôi, việc thiết kế lại CT, biên soạn lại SGK và đánh giá CT-SGK phải tuân thủ  một quy trình khoa học chặt chẽ. Nền giáo dục của chúng ta chưa có CT- SGK chuẩn ở bậc phổ thông suốt 27 năm qua (từ 1981 đến nay), là vấn đề bức xúc, bất lợi cho sự nghiệp trồng người.

Chủ trương tổng kiểm tra CT -SGK của bậc học phổ thông trên toàn quốc là một yêu cầu cần phải làm từ lâu, đến nay mới thực hiện đã là chậm, nhưng thà chậm còn hơn không làm.

Thiết kế CT, biên soạn SGK không khoa học, thiếu chuẩn

PV: Ông vừa cho biết, suốt 27 năm qua ta chưa làm được CT-SGK chuẩn. Tại sao vậy, thưa ông?

NXH: Xin điểm lại một số bất cập chủ yếu.

Trước hết, muốn có CT-SGK chuẩn, điều quan trọng là phải tìm ra được chuẩn kiến thức - tương tự như cái thước tầm, mà người nông dân Bắc Bộ sử dụng để làm nhà. Ông Trần Kiều, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục đã từng thừa nhận, ta không tìm được cái thước làm bằng tre ấy! (Báo Lao Động đề cập ngày 1/9/2000). Làm nhà mà không có thước tre, ngôi nhà sẽ dị dạng - điều này ai cũng hình dung được. Trong trường hợp này, cái thước tầm cần phải được hiểu là kinh nghiệm đúc kết từ CT-SGK của nền giáo dục tiên tiến từ các nước, kết hợp với thực tiễn Việt Nam, chứ chỉ tìm ở Việt Nam là không chuẩn. Gần đây, ông Trần Kiều lại cho rằng, phải xây dựng CT-SGK ở thành phố khác với CT-SGK ở vùng sâu vùng xa (!)Đây là một quan điểm có tính đến hoàn cảnh thực tế của nước ta§, tuy nhiên, nó khá lạ lùng với thế giới. Ai cũng biết rằng, học sinh ở các nước châu Á, Phi, Mỹ Latinh, sau khi tốt nghiệp bậc học phổ thông, họ vẫn vào các nước tiên tiến học đại học cùng với học sinh HS Việt Nam hay học sinh từ các quốc gia khác, với cùng một trình độ. Vậy thử hỏi, CT-SGK của họ tương ứng với CT-SGK nào của Việt Nam?    

Đó là chưa kể thành tựu khoa học kỹ thuật chung của nhân loại, được các nước coi là thành tựu của họ, còn ở nước ta lại có hiện tượng mang về “đập ra làm lại”, thay đổi cấu trúc trật tự và cách làm này được coi là sáng tạo. Ví dụ cuốn Hình học Eculide - là tài sản trí tuệ của nhân loại, kinh thánh của toán học - đã tồn tại 2.300 năm nay, chiếm già nửa chương trình toán ở bậc phổ thông trên thế giới. Để đưa vào chương trình giảng dạy phổ thông, các nước chỉ cần mời một giáo sư giỏi với một vài cộng sự biên soạn trong ba tháng là xong. Việt Nam thì cuốn sách này được chia thành mấy chục phần, mỗi người biên soạn lại một phần và làm kéo dài trong nhiều năm. Cuối cùng, Định lý Talet bị đưa xuống phần bài tập (!). Cách làm này không phải là khoa học, chưa nói làm khó người học và người dạy, vì kiến thức không liền mạch.

PV:  Việc đánh giá tổng thể CT -SGK phổ thông của Bộ GD-ĐT chỉ cần thực hiện trong vòng một tháng là siêu tưởng  Đây là ý kiến của nhiều người, trong đó có cả một số tổ chức khoa học ở tầm quốc gia. Nhưng ông lại từng khẳng định việc đánh giá CT-SGK có thể hoàn tất chỉ trong vòng mười ngày. Nói như vậy có phải là chủ quan không và dựa trên cơ sở nào, thưa ông?  

 NXH: Vấn đề là quan niệm về cách đánh giá như thế nào. Trong khoa học không phân biệt thời gian nghiên cứu dài hay ngắn. Tôi xin khẳng định cách làm SGK của chúng ta lâu nay nằm ngoài tư duy khoa học thông thường, và cũng chẳng giống ai.

Chúng ta có đầy đủ CT-SGK chuẩn  của nước ngoài như Anh, Đức, Nga, Mỹ và Pháp, CT-SGK của tú tài quốc tế, cùng với đó là các bộ CT-SGK  trong nước từ trước 1975 của  hai miền Nam, Bắc. Các bộ CT-SGK này đã được thế giới thừa nhận hay đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Hãy đặt chúng cạnh CT-SGK từ lớp 1 đến lớp 12 đang sử dụng hiện nay. Ai am hiểu giáo dục, đều có thể cho các nhận xét vừa định tính và định lượng được, đặc biệt là sự kế thừa truyền thống giáo dục trước đây và tính hội nhập với các nước tiên tiến hiện nay. Theo ước tính  của chúng tôi, chắc chắn trong vòng mười ngày, chúng ta sẽ đánh giá xong CT -SGK hiện hành.

Tuy nhiên, với cách chỉ đạo tổ chức đánh giá của Bộ GD - ĐT hiện nay, thì dù có làm bao lâu cũng khó có thể đi đến được kết luận đúng. Bộ chỉ đạo các trường, các Sở GD-ĐT và một số tổ chức nhận nhiệm vụ đánh giá CT-SGK cho bậc học phổ thông từ Bộ GD-ĐT, song lại không có CT-SGK chuẩn để so sánh đối chiếu với CT-SGK đang sử dụng hiện nay. Vậy, nếu kết luận là CT -SGK là nặng hay nhẹ là so với cái gì, với chuẩn mực nào? Gần đây tôi biết, có một tổ chức khoa học kỹ thuật ở tầm quốc gia, đã từng tiến hành đánh giá, xem xét CT-SGK không phải toàn bộ ở bậc học phổ thông, mà chỉ xét một khúc lửng lơ là CT-SGK của trung học cơ sở. Chi phí cho công việc đó không ít (với hơn 200 triệu đồng), mấy chục người có học hàm học vị làm việc trong vòng một năm, nhưng kết quả lại rất hạn chế. Dư luận lại ồn lên, cho rằng đợt kiểm tra này có nhiều uẩn khúc, thiếu minh bạch. Tất cả là do cách chỉ đạo không đúng nghĩa khoa học. Các cơ quan khoa học ở nước ta - xin lưu ý - không phải lúc nào cũng có cách làm khoa học. Đây là một thực tế.

Thiết kế CT-SGK chuẩn trong thời gian tới chỉ cần vài tháng

PV: Về CT-SGK chuẩn, ông nhiều khẳng định sẽ làm xong trong vài tháng với kinh phí 100 tỷ đồng. Liệu ý kiến này có cơ sở?

NXH: Kể từ năm 1945 đến nay, nước ta đã 5 lần thiết kế lại CT và biên soạn SGK. Đó là, đợt làm từ năm 1945, dưới sự chỉ đạo của GS Hoàng Xuân Hãn, làm trong vòng 2 tháng. miền Bắc CT-SGK sử dụng từ 1945 đến năm 1955, còn miền Nam sử dụng từ 1945 đến 1972. Năm 1955 khi tiếp quản Thủ đô, dưới sự chỉ đạo của GS Nguyễn Văn Chiển, GS Hoàng Tụy, nhà giáo Lê Hải Châu và nhiều người khác, CT-SGK được làm trong 6 tháng và được sử dụng trong suốt 35 năm. Năm 1975, thống nhất đất nước, CT-SGK cũng được làm trong mấy tháng. Lần thứ tư và thứ năm vào năm 1981 và 2002, CT-SGK được làm theo một cách khác, cắt khúc cuốn chiếu, thay dần - kiểu vừa chạy vừa xếp hàng. Kết quả là từ đó đến nay (27 năm)  ta chưa  hề có CT-SGK chuẩn, và chưa có bất cứ người có trách nhiệm nào trả lời trước Quốc hội và nhân dân là bao giờ thì làm xong CT-SGK chuẩn để ổn định giáo dục phổ thông.

Việc thiết kế CT và biên soạn SGK hiện nay đã có nhiều thuận lợi hơn trước. Đó là việc chúng ta không phải bắt đầu từ con số không và so với trước đây, số lượng trí thức được đào tạo bài bản đã đông gấp vạn lần; tài liệu tham khảo đầy đủ và dễ dàng hơn. Với tất cả những lý do trên, nếu đội ngũ các nhà khoa học chúng tôi không làm được bằng và hơn thế hệ cha anh mình, thì đó mới là điều lạ!  

PV: Nhiều môn học trong chương trình giáo dục 1945 và 1955 trước đây, ta lấy, thậm  chí dịch nguyên văn từ  sách của Pháp và Nga, nay đất nước ta phải tự làm  lấy CT-SGK chuẩn  của riêng mình.  Tại sao ông lại phản bác lại quan niệm này?

NXH: Tự làm lấy CT-SGK là đúng, song không tham khảo đầy đủ sách của các nước là sai về khoa học. Nội dung giáo dục trong CT-SGK của các nước có hai khối kiến thức: một là kiến thức chung của nhân loại và hai là kiến thức liên quan đến từng đất nước cụ thể. Kiến thức chung về cơ bản là giống nhau. Các nước có sử dụng chung hay dịch nguyên văn ra tiếng nước mình, là chuyện hết sức bình thường. Cuốn hình học Euclide là thành tựu chung, thì đâu chỉ có một hai nước dịch từ tiếng Hy Lạp ra tiếng nước mình. Khi một sản phẩm khoa học đã được thừa nhận, thì sẽ không có bất kỳ nhà khoa học nào lại mang sản phẩm đó về để làm lại! Thiếu sót trong chỉ đạo của ta khi biên soạn CT-SGK, là hầu như không có sách tham khảo của nước ngoài (có thể, một vài tác giả tự sưu tầm cho mình, song nhìn chung, các sách này chưa đầy đủ, chưa tiêu biểu và thiếu tính hệ thống). Kết quả, CT-SGK của ta không thể coi là sản phẩm khoa học đúng nghĩa của nó. So với các nước, nhiều nội dung trong SGK nặng hơn từ 1 đến 3 năm!

PV: Các môn khoa học tự nhiên có thể giống nhau giữa các nước, song các môn khoa học xã hội, làm sao có thể giống nhau được? Ông đang lấn sân đến lĩnh vực mà ông không biết?

NXH: Không hẳn như vậy. Sự khác nhau ở đây là chất liệu của những môn học này, nhưng hình thức luận giữa các nước là giống nhau. Mọi sự so sánh có thể khập khiễng. Hình thức luận ở đây được hiểu như cái nhà khung. Khung trình độ ở các bậc học phải như nhau, còn chất liệu có thể là nhiều loại gạch: gạch lỗ hay gạch đặc, còn chọn loại gạch nào tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể.

Môn học Ngữ văn có hai phần là phần Ngữ văn và phần Văn. Phần Ngữ văn làm sao cho học sinh nói, viết đúng ngữ pháp, chính tả và viết câu văn chuẩn. Biết cách diễn đạt nhiều kiểu khác nhau để người khác hiểu đúng ý mình. Còn phần Văn là dạy làm người, xây dựng nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn, cảm thụ văn học, biết cách phân tích văn học, sống và cư xử nhân ái. Phần Văn học chỉ học ở trong trường là không đủ. Chuyên môn của tôi liên quan đến khoa học tự nhiên, song tôi đã có nhiều câu hỏi trao đổi với các tác giả môn học này. Ví dụ, về sự khác nhau của nội dung môn học này (đang dạy hiện nay) khác với nội dung mà các thế hệ trước đây học, khác với các nước tiên tiến Anh, Đức, Nga, Mỹ, Pháp (có thể thêm Trung Quốc, n Độ) ở chỗ nào? Tại sao dự kiến dạy Ngữ pháp ở trung học cơ sở, nhưng môn này còn được dạy 45 tiết nữa ở cấp trung học phổ thông, thậm chí có thời kỳ còn được đưa vào chương trình Đại học đại cương (15 tiết)? Câu trả lời cho những câu hỏi trao đổi như vậy, không phải bao giờ cũng thoả đáng, thậm chí có tác giả còn nói, các câu hỏi như vậy chưa bao giờ được đặt ra trong số những người làm CT-SGK ở nước ta.             

PV: Có ý kiến cho rằng, theo Luật Giáo dục, hiện một CT quy định có một bộ SGK. Điều này không hợp với thực tiễn, ta phải sửa luật để một CT có nhiều bộ SGK. Quan điểm của ông ra sao?

 NXH: Khi chương trình giáo dục được thống nhất, thông thường chỉ có 3 hay 4 kiểu viết khác nhau, chứ không phải là vô tận, càng không phải hai người khác nhau mà viết ra hai bộ SGK khác nhau. Trong các bộ SGK này, ta chọn một bộ SGK làm chuẩn quốc gia nếu nó thoả mãn các yêu cầu: tính phổ thông, cơ bản, hiện đại (theo chuẩm mực quốc tế) và phù hợp với Việt Nam. Bộ SGK chuẩn này mang tính pháp lệnh. Các bộ SGK khác sẽ được sử dụng làm SGK tham khảo. Vì vậy, Luật Giáo dục không phải sửa.

Phần Lan là một trong những nước có nền giáo dục ưu việt nhất hiện nay. Pất nước này chỉ duy trì một loại trường, không có trường chuyên lớp chọn, chỉ có một chương trình và một bộ SGK chuẩn quốc gia, nhưng họ lại có nhiều câu lạc bộ khác nhau cho học sinh năng khiếu. Singapore có mô hình giáo dục tương tự, Nhà nước tài trợ và tổ chức khoảng 1001 câu lạc bộ khác nhau, nhà trường bố trí thời khoá biểu để tất cả học sinh có thời gian tham gia. Việt nam, nền giáo dục trong những năm kháng chiến và cho đến trước 1975, học sinh cũng không học phân ban, không trường chuyên lớp chọn tràn lan, nhưng nhiều thế hệ học sinh vẫn thành tài.

PV: Theo ông, chúng ta có thể tiến hành thay CT- SGK hàng loạt ở bậc học phổ thông? Lợi hại như thế nào?

NXH:  Khi người Pháp vào nước ta, họ mang CT -SGK của họ vào dạy ở ta. Khi chúng ta giải phóng Thủ đô (1954) hay thống nhất đất nước năm1975, ta biên soạn lại chương trình theo đường lối giáo dục mới và thay SGK đồng loạt là hoàn toàn có cơ sở thực tiễn và có thể làm được. Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giói và sự hội nhập quốc tế, chúng ta cần và phải xây dựng cho được chương trình giáo dục, biên soạn lại sách giáo khoa.

   Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, năm 2004 người dân đã phải bỏ ra trên 2000 tỷ đồng /năm để mua sách học, chứ không còn là 1600 tỷ đồng /năm (xấp xỉ 100 triệu USD/năm) mà tôi đã từng phát biểu. Như vậy quá lãng phí. Lợi hại về vật chất còn tính được, chứ mấy chục thế hệ học sinh ra trường với kiến thức chưa chuẩn, thì thiệt hại này không tính được. Hạn chế thiệt hại này, trước hết, cần một CT -SGK chuẩn.

Xin cảm ơn ông!

        

Diên Anh (thực hiện)
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 06/01/2009
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân