|
Kinh tế xã hội
|
|
Đa dạng sinh học và công tác quản lý khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam
|
|
Theo Công ước đa dạng sinh học[1], đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng nguồn gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng các hệ sinh thái).
|
|
|
|
Từ chủ trương đến thực hiện việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng ở Tây Nguyên
|
|
Tây Nguyên là một vùng đất tiềm năng với diện tích tự nhiên 54.538 km2 (bằng 16,3% diện tích cả nước), dân số 4, 87 triệu người (chiếm 5,6% dân số toàn quốc). Riêng rừng và đất rừng - lợi thế đặc biệt của Tây Nguyên là 3.868.400 ha (chiếm 70,66% tổng diện tích tự nhiên), trữ lượng gỗ rừng là 411.301.215 m3[1]. Với đặc trưng riêng, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên từ xưa đến nay chủ yếu sống nhờ vào khai thác đất và rừng. Vì vậy, nhằm tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống của đồng bào, Nhà nước có chính sách thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên (Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ).
|
|
|
|
Thực hiện chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo
|
|
Gần đây, cùng với việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ để đồng bào có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo. Đầu năm 2008, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội đã phối hợp với Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các tỉnh tổ chức giám sát việc thực hiện chính sách này. Thực tiễn giám sát cho thấy những kết quả, hạn chế của việc thực hiện chính sách và những giải pháp cần thực hiện để chính sách phát huy hiệu quả trong thực tế.
|
|
|
|
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xã hội hóa công tác y tế
|
|
Để xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu quả và phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân (BV, CS & NCSKND) trong tình hình mới, Đảng ta đã chỉ rõ việc tăng cường xã hội hóa công tác y tế là một trong những quan điểm, giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu trên. Xã hội hóa công tác y tế chính là phát huy tiềm năng, trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động nguồn lực xã hội để nâng cao hiệu quả của công tác y tế và tạo điều kiện để toàn dân, đặc biệt là đối tượng chính sách, người nghèo được chăm sóc sức khỏe (CSSK) tốt hơn.
|
|
|
|
GS-TSKH Nguyễn Xuân Hãn: Cần phải có ngay chương trình - Sách giáo khoa chuẩn
|
|
Thông tin về học sinh bỏ học vẫn liên tục được báo chí cập nhật trong những ngày qua. Một trong những nguyên nhân sâu xa là chương trình giáo dục (CT) quá tải, sách giáo khoa (SGK) có nhiều sai sót. Gần đây, Bộ Giáo dục và đào tạo (Bộ GD -ĐT) đã có chủ trương đánh giá lại CT - SGK ở bậc học phổ thông (đã kết thúc ngày 15/4 vừa qua -PV). Phóng viên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử đã có cuộc trao đổi với GS-TSKH Nguyễn Xuân Hãn, xung quanh vấn đề này.
|
|
|
|
|
Một số điểm mới trong việc tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài
|
|
Ngày 25/3/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2008/NĐ-CP về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài lao động tại Việt Nam. Nghị định này thay thế cho Nghị định số 105/2003/NĐ-CP ngày 17/ 9/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tuyển dụng và quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Nghị định số 93/2005/NĐ-CP ngày 13/7/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 105 nói trên. Theo đó, một số điểm mới cơ bản được xem như là bước đột phá trong việc mở cửa thị trường lao động Việt Nam cho người lao động nước ngoài.
|
|
|
|
Một số hạn chế trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và giải pháp khắc phục
|
|
Trong hơn mười lăm năm vừa qua, pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nên đã khắc phục được nhiều hạn chế, bất cập trong công tác cổ phần hóa và đã có tác động tích cực đến tiến độ, chất lượng cổ phần hóa công ty nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay cổ phần hóa công ty nhà nước nói chung, nhất là cổ phần hóa các doanh nghiệp quy mô lớn, các tổng công ty nhà nước vẫn tồn tại một số bất cập, hạn chế cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và giải quyết theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 Khóa IX và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.
|
|
| Các tin khác: |
|
|
|
|
|
|
| Trang chủ
| Liên hệ | Sơ đồ website |
Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân |
|
|