Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 25/05/2017, 19:51(GMT+7)
 
Kinh nghiệm quốc tế

Thu hồi tài sản dân sự trong pháp luật các nước và yêu cầu của thực tiễn nước ta

 Để phòng, chống tội phạm, ngoài việc ban hành các hình phạt có tính răn đe đối tượng có ý định phạm tội, pháp luật các quốc gia còn quy định một biện pháp khác nữa là thu hồi tài sản do hành vi phạm tội mà có. Hiện nay, pháp luật quốc tế tồn tại hai biện pháp chủ yếu về việc thu hồi tài sản, đó là thu hồi tài sản hình sự và thu hồi tài sản dân sự [1](hay còn gọi là  thu hồi tài sản không dựa vào bản án hình sự). Bài viết đề cập đến việc thu hồi tài sản dân sự trong pháp luật quốc tế và pháp luật nước ta.

1. Khái niệm và đặc điểm về thu hồi tài sản dân sự

  Theo chúng tôi, thu hồi tài sản dân sự (THTSDS) có cách hiểu phổ biến là một quá trình tố tụng dân sự (TTDS) đặc biệt của cơ quan nhà nước nhằm thu hồi những tài sản được tạo nên hoặc có liên quan đến hành vi của tội phạm, ví dụ như trong bản án United States v. James Daniel Good Real Property (1993)[2].

Là quá trình TTDS đặc biệt của cơ quan nhà nước, nên các vấn đề như chứng cứ, trình tự tố tụng, các biện pháp bảo đảm, nghĩa vụ chứng minh… đều phải tuân theo trình tự pháp luật nhất định. Ví dụ về nghĩa vụ chứng minh trong THTSDS thì nghiêng về phía bị đơn hay nói cách khác, bị đơn có nghĩa vụ chứng minh tài sản của mình là không có nguồn gốc hoặc có liên quan đối với hành vi phạm tội (HVPT)[3], hay như các quyết định về thu hồi tài sản (THTS), đóng băng tài sản, giải thích nguồn gốc tài sản đều phải tuân theo trình tự. Và vì là TTDS nên Nhà nước có thể sẽ đóng vai trò là nguyên đơn trong vụ kiện dân sự (như trong bản án United States V. Ursery, 518 U.S. 267 (1996)[4] hay đóng vai trò là bị đơn (như trong bản án Degen V. United States, 517 U.S. 820 (1996)[5].

Quá trình này nhằm THTS của người phạm tội và mục đích là hướng đến tài sản của người phạm tội chứ không phải hướng vào người phạm tội. Đây là điểm để phân biệt giữa THTSDS và thu hồi tài sản hình sự (THTSHS). Mặc dù kết quả cuối cùng của cả hai loại hình này đều là THTS của người phạm tội, nhưng đối với THTSDS thì cái được hướng đến là tài sản của người phạm tội (như United States v. $160,000 in U.S. Currency)[6], còn THTSHS thì việc THTS như là một hình phạt đối với người phạm tội và mục đích là hướng đến người phạm tội chứ không phải tài sản. Quyết định THTSDS “hoàn toàn không mang một ý nghĩa trừng phạt đối với những người phạm tội”[7]. Vì thế, nên quyết định thu hồi có thể được tuyên bố một cách độc lập không phụ thuộc vào việc người vi phạm pháp luật có bị kết án hay không (như trong bản án National Director of Public Prosecutions v. Prophet, [2006] ZACC 17)[8]: Prophet đã được Toà án tuyên bố trắng án trong cáo buộc về việc ông có hành vi sản xuất trái phép chất ma tuý, nhưng đối với vụ kiện về THTS, ông đã bị Toà án tuyên bố tịch thu các tài sản phục vụ cho HVPT của mình. Như vậy, quyết định THTS này hoàn toàn độc lập với việc bị cáo có bị kết án hay không.

Tài sản bị thu hồi phải là tài sản có liên quan hoặc có nguồn gốc từ hành vi tội phạm của người phạm tội. Theo khái niệm về tài sản tại Điều 338 Luật về THTS của Australia thì “tài sản bao gồm bất động sản, động sản dưới bất kỳ hình thức nào cho dù ở trong hay ngoài lãnh thổ Australia; hữu hình hay vô hình và bao gồm cả những lợi ích có được từ bất động sản và động sản đó” hay Điều 2 Luật THTS của Singapore “tài sản gồm tiền bạc và những tài sản khác, bất động sản hay động sản, tài sản hữu hình hay vô hình”. Trong bản án NDPP v. Parker, [2005] ZASCA 124[9], Toà án Nam Phi cho rằng, Henry Parker đã sử dụng nhà của mình cho HVPT nên đã ra quyết định tịch thu căn nhà, nhưng Henry cho rằng, căn nhà là tài sản được hình thành một cách hợp pháp nên Toà án không thể tịch thu được. Trong phán quyết của mình, Toà án Nam Phi giải thích: mặc dù nhà là tài sản được hình thành một cách hợp pháp nhưng do có liên quan đến HVPT của Henry, khi Henry đã dùng căn nhà cho việc sản xuất và nơi bán chất ma tuý, nên căn nhà được coi là tài sản có liên quan đến HVPT. Vì vậy, Toà án Nam Phi đã ra quyết định THTS này.

2. Ưu điểm của việc thu hồi tài sản dân sự 

Thủ tục THTSDS  có tác dụng ngay cả trong trường hợp bị đơn là người không bị tuyên bố là có tội theo bản án của Toà án. Có thể xảy ra trường hợp là người đó đã chết[10] trước khi có bản án của Toà án hoặc trường hợp đã được xét xử nhưng bản án tuyên người đó vô tội. Xuất phát từ đặc điểm là THTSDS nhằm hướng vào tài sản của người phạm tội, nên người phạm tội chỉ đóng vai trò là bên thứ ba nắm giữ tài sản, do đó, đối với việc người đã chết hoặc được tuyên bố trắng án vẫn không ảnh hưởng đến việc thực hiện thủ tục THTSDS. Đối với thủ tục THTSHS, khi người phạm tội chết trước khi có bản án hoặc được tuyên trắng án bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thủ tục THTS sẽ chấm dứt (theo nguyên tắc cơ bản của luật hình sự, nếu một cá nhân khi không được bản án của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố họ là người phạm tội thì họ vẫn được xem là vô tội như quy định tại khoản 2 Điều 6 Hiệp định về quyền con người của Châu Âu “mỗi người đều được xem là vô tội cho đến khi pháp luật chứng minh được rằng họ có tội”. Khi người phạm tội chết trước lúc có bản án hoặc được tuyên trắng án bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thủ tục tố tụng hình sự sẽ chấm dứt vì lúc này đối tượng của quyết định đã không còn tồn tại hoặc đã được tuyên vô tội). Ví dụ, bản án United States v. Lay, 456 F. Supp. 2d 86. Kenneth Lay đã bị cáo buộc về 11 tội danh, nhưng sau đó, ông đã chết trước khi bị tuyên án nên Toà án buộc ra quyết định tuyên bố huỷ bỏ các cáo buộc đối với ông. Sau đó vài tháng, Toà án đã ra quyết định thu hồi 12 triệu đô la tài sản do HVPT của Lay gây ra[11], mặc dù Lay đã chết nhưng tài sản do HVPT của ông là đối tượng mà thủ tục thu hồi dân sự hướng đến vẫn còn tồn tại nên Toà án đã thông qua thủ tục này để THTS phạm tội. Đây được coi là một ưu điểm mà THTSHS không có được.

THTS ngay cả trong trường hợp không phát hiện ra được tội phạm. Ví dụ trong trường hợp một khoản tiền được một nhân viên chuyển phát chuyển đi, nhưng sau đó bị cảnh sát thu giữ vì cho rằng đây là tiền có liên quan đến HVPT. Trong trường hợp này, nếu không có ai đứng ra nhận lại khoản tiền này, Toà sẽ áp dụng thủ tục TTDS để thu hồi khoản tiền trên. Vì đối với THTSDS thì người nắm giữ tài sản luôn có nghĩa vụ chứng minh rằng tài sản của mình là hợp pháp, nếu họ không chứng minh thì tài sản sẽ được coi là bất hợp pháp và Toà án sẽ thu hồi khoản tiền đó. Có thể xem thêm trong bản án United States. V. $37,780 in U.S. Currency 920 f.2d 159 (1990)[12], trong vụ việc này, Hernandez đã đem theo số tiền 37.780 đô la Mỹ khi qua hải quan (vượt quá số tiền được phép mang ra khỏi lãnh thổ Hoa Kỳ), nên đã bị hải quan tịch thu. Sau đó, vụ việc đã được Toà án Hoa Kỳ đem ra xét xử theo thủ tục THTSDS. Tại Toà, Hernandez đã không thể đưa ra bằng chứng cùng những lời giải thích hợp lý về nguồn gốc khoản tiền 37.780 đô la, nên Toà án Hoa Kỳ đã ra quyết định thu hồi số tiền trên.  

Việc THTS có hiệu lực hồi tố. Điều này có nghĩa, đối với tài sản được hình thành vào thời điểm mà hành vi không được xem là tội phạm thì vẫn sẽ bị áp dụng thủ tục THTSDS để thu hồi, trong khi việc áp dụng THTSHS trong trường hợp này là không thể thực hiện được. Một nguyên tắc được pháp luật hình sự của nhiều quốc gia công nhận là việc một người sẽ không bị coi là tội phạm vào thời điểm mà HVPT của người đó không được quy định trong pháp luật. Nếu một người đã không chịu trách nhiệm hình sự vào thời điểm xảy ra hành động thì Toà án sẽ không thể ra bản án để tuyên bố là người đó có tội. Do đó, quyết định THTS cũng sẽ không được ban hành. Đối với THTS theo thủ tục dân sự, xuất phát từ đặc điểm là đối tượng mà thủ tục này hướng đến là tài sản mà không phải là con người, nên việc có hiệu lực hồi tố trong thủ tục THTSDS không vi phạm nguyên tắc của pháp luật quốc tế “không bị trừng phạt khi không có luật”.  

Việc ra quyết định THTSDS không phụ thuộc vào việc người nắm giữ tài sản có bị Toà án tuyên bố là đã vi phạm một tội nào hay không. Nghĩa vụ chứng minh trong THTSDS đều nghiêng về phía người nắm giữ tài sản, họ có nghĩa vụ chứng minh tài sản của mình là không liên quan đến việc phạm tội. Từ đó, sẽ giảm bớt gánh nặng của cơ quan nhà nước trong việc chứng minh tài sản đó là tài sản do HVPT mà có, việc này khác với THTS hình sự. Việc THTS ở nước ngoài cũng sẽ thuận lợi hơn, vì lúc này Nhà nước có thể đóng vai trò là nguyên đơn trong vụ kiện dân sự kiện đòi người phạm tội phải trả lại tài sản mà họ đã có được do HVPT trên lãnh thổ của mình.

3. Pháp luật Việt Nam về thu hồi tài sản dân sự 

Pháp luật Việt Nam chưa có các quy định về THTSDS, trong khi thực tiễn đang đòi hỏi phải có các quy định này. Có thể đưa ra ví dụ: Trong trường hợp khi người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì Toà án phải ngưng việc xét xử (quy định tại khoản 7 Điều 107 Bộ luật Tố tụng Hình sự), nhưng khi đó, số tài sản do việc phạm tội mà có của người phạm tội sẽ trở thành tài sản hợp pháp, vì xét cho cùng, người này vẫn không vi phạm pháp luật do không bị Toà án tuyên bố bởi một bản án về bất kỳ tội nào. Đối với các nước áp dụng THTSDS thì họ sẽ áp dụng thủ tục này để THTS như trong vụ án United States v. Lay.

Ngoài việc ban hành các quy định về THTSDS, Nhà nước cần bổ sung các văn bản pháp luật khác khi thực hiện các luật về ngân hàng, tổ chức tín dụng, tài chính… nhằm phục vụ cho việc THTS, ví dụ như điều khoản về việc các tổ chức ngân hàng hay các tổ chức tài chính phải có nghĩa vụ cung cấp các báo cáo tài chính của các cơ quan, tổ chức, cá nhân mà được cho là có sự nghi ngờ về nguồn gốc của tài sản hay sự không minh bạch trong tài sản. Hay như điều khoản miễn trách cho ngân hàng, tổ chức tài chính khi họ thực hiện nghĩa vụ này. Hiện nay, pháp luật của nước ta chỉ mới dừng lại ở việc là buộc các tổ chức ngân hàng cung cấp thông tin khi tiến hành điều tra, như vậy không tạo ra được tính chủ động trong việc phát hiện tội phạm cũng như tài sản.

Cũng cần thiết phải ban hành văn bản quy định về việc thực hiện các giao dịch có giá trị nhất định từ bao nhiêu phải thông qua ngân hàng, sau đó là mọi giao dịch đều phải thông qua ngân hàng. Các giao dịch trực tiếp của người dân hiện nay thường gây khó khăn cho việc kiểm soát cũng như phát hiện các giao dịch mờ ám, nên nếu không thực hiện được quy định các giao dịch đều thông qua hệ thống ngân hàng thì việc phát hiện các hành vi vi phạm của cơ quan có thẩm quyền sẽ luôn bị động.  

 Đồng thời, chúng ta phải thành lập thêm những bộ phận chuyên môn nhằm áp dụng biện pháp THTSDS, như Cơ quan tình báo về tài chính (FIU) của Pháp, hay Cục Điều tra thương mại (CAD) của Singapore. Các cơ quan này được thành lập nhằm mục đích thu thập các dữ liệu, phân tích, lập báo cáo để phát hiện những tài sản không rõ ràng, hoặc tài sản có liên quan đến người phạm tội. Bên cạnh đó là đội ngũ cảnh sát giúp cho các cơ quan này với nhiệm vụ tổng hợp các báo cáo tài chính, các đơn tố cáo, các bảng số liệu có liên quan đến hoạt động tài chính nhằm phục vụ cho công tác điều tra và phát hiện tài sản của người phạm tội. Tiếp đến là nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, vì mặc dù THTSDS được áp dụng thủ tục TTDS nhưng cần phải có sự chứng minh có sự xuất hiện của HVPT, do đó có sự xen kẽ giữa TTDS và các vấn đề về hình sự./.  



 

[1] http://www.patc.com/courses/drugs-forfeiture.shtml.

[2]http://caselaw.lp.findlaw.com/cgi-bin/getcase.pl?court=us&vol=000&invol=u10440.

[3] http://www.forbes.com/2011/06/08/property-civil-forfeiture.html.

[4]http://www.law.cornell.edu/supct/search/display.html?terms=civil%20forfeiture&url=/supct/html/95-345.ZO.html.

[5] http://supreme.justia.com/us/517/820/case.html.

[6] http://works.bepress.com/stefan_cassella/20.

[7] http://www.fed-soc.org/publications/detail/supreme-court-rules-that-civil-forfeiture-is-not-punishment-for-double-jeopardy-purposes.

[8] http://www.saflii.org/za/cases/ZACC/2006/17.html#fn14.

[9] http://www.saflii.org/za/cases/ZASCA/2005/124.html.

[10] International Bank for Reconstruction and Development, (2009), Stolen Asset Recovery: A Good Practices Guide For Non-Conviction Based Asset Forfeiture, Washington, The World Bank, 14.

[11] http://www.justice.gov/usao/eousa/foia_reading_room/foiamanuals.html.

[12]http://174.123.24.242/leagle/xmlResult.aspx?page=1&xmldoc=19901079920F2d159_11051.xml&docbase=CSLWAR2-1986-2006&SizeDisp=7.

Đinh Trương Anh Phương - Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Vài nét về giải thích hiến pháp ở Hoa Kỳ (31/10/2016)
Kiểm soát của hành pháp đối với lập pháp ở Hoa Kỳ (11/10/2016)
Chế độ tài sản thỏa thuận trong pháp luật một số nước và đề xuất cho Việt Nam (26/09/2016)
Trình tự, thủ tục tố tụng về lao động theo pháp luật Cộng hòa Pháp và những đề xuất cho pháp luật Việt Nam (30/08/2016)
Các nội dung về bảo mật trong hòa giải thương mại ngoài tòa án theo Luật mẫu UNCITRAL và Luật Hòa giải thống nhất của Hoa Kỳ (04/08/2016)
Pháp luật về biểu tình của Cộng hòa Pháp (26/07/2016)
Hoàn thiện hệ thống tư pháp cho người chưa thành niên ở một số nước và những nội dung có thể tham khảo (06/07/2016)
Pháp luật về biểu tình của Cộng hòa Pháp (26/07/2016)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân