Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 19/09/2018, 11:56(GMT+7)
 
Kinh nghiệm quốc tế

Hình phạt không phải là hình phạt tù trong pháp luật hình sự pháp và những kiến nghị cho pháp luật hình sự Việt Nam
Hình phạt không phải là hình phạt tù trong pháp luật hình sự pháp và những kiến nghị cho pháp luật hình sự Việt Nam
Ảnh minh họa/nguồn internet

Tóm tắt: Hình phạt không phải là hình phạt tù (peines non privatives de liberté) là các hình phạt không tước quyền tự do của người phạm tội và không phải là hình phạt tử hình và nhục hình. Bài viết nêu các hình phạt không phải là hình phạt tù áp dụng đối với cá nhân phạm tội trong pháp luật hình sự Pháp, qua đó gợi mở đối với Việt Nam.

Từ khoá: Hình phạt không phải là hình phạt tù; quyền tự do; hình phạt tử hình; nhục hình   

Astract: Non-custodial sentences (peines non privatives de liberté) are the penalties that do not deprive the offenders of freedom rights and are not capital punishment and corporal punishment. This article provides discussions of the non-prison sentences imposed on individuals committing criminal offenses under French criminal law, thereby also suggestions to Vietnam.

Key words: Non-custodial sentences; freedom rights; capital punishment; corporal punishment

 

1. Quy định về hình phạt không phải là hình phạt tù trong pháp luật hình sự Pháp

Theo Bộ luật Hình sự năm 1992 của Pháp (BLHS 1992)[1] thì các hình phạt không phải hình phạt tù bao gồm: (1) phạt tiền; (2) phạt tiền theo ngày; (3) thực tập tư cách công dân; (4) lao động công ích; (5) tước hoặc hạn chế một số quyền; (6) hình phạt bồi thường thiệt hại; (7) hình phạt giám sát tư pháp xã hội.

Tội phạm trong pháp luật hình sự Pháp được phân chia thành trọng tội, khinh tội và tội vi cảnh, nên các hình phạt không phải hình phạt tù cũng được quy định áp dụng khác nhau tương ứng với phân nhóm hình phạt trọng tội, hình phạt khinh tội và hình phạt vi cảnh. Đối với trọng tội, các hình phạt chính gồm hình phạt tù và hình phạt tiền, trong đó hình phạt tiền có thể được tuyên kèm hình phạt tù nhưng vẫn với tư cách là hình phạt chính chứ không phải là hình phạt bổ sung như trong pháp luật hình sự Việt Nam. Đối với khinh tội, hình phạt chính bao gồm phạt tù, phạt tiền, phạt tiền theo ngày, hình phạt thực tập tư cách công dân, hình phạt lao động công ích, hình phạt tước hoặc hạn chế quyền, hình phạt bồi thường thiệt hại. Đối với tội vi cảnh, hình phạt chính bao gồm phạt tiền và hình phạt tước hoặc hạn chế một số quyền, hình phạt bồi thường thiệt hại. Trọng tội, khinh tội đều có thể áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại các Điều 131-10 BLHS 1992 và tội vi cảnh có thể áp dụng các hình phạt bổ sung quy định tại Điều 131-16 BLHS 1992[2].

1.1 Hình phạt tiền và hình phạt tiền theo ngày

Pháp luật hình sự Pháp không liệt kê hình phạt tiền vào nhóm hình phạt bổ sung. Các nhà làm luật Pháp coi hình phạt tiền là hình phạt chính và nó có thể tồn tại với tư cách là một hình phạt độc lập trong một số tội hoặc là hình phạt chính đi kèm hình phạt tù trong phần lớn các tội.

Trong phần chung BLHS 1992 không quy định mức tối thiểu hay tối đa của hình phạt tiền. Tại các điều luật cụ thể về tội phạm, các nhà làm luật Pháp cũng không đưa ra khung hình phạt tiền mà quy định mức phạt tiền cụ thể (tối đa). Ví dụ Điều 225-2 BLHS 1992 quy định: “Hành vi phân biệt đối xử được định nghĩa tại Điều 225-1 đối với cá nhân hoặc pháp nhân sẽ bị phạt tù ba năm và phạt tiền 45.000 euro: (1) Từ chối cung cấp hàng hóa, dịch vụ; (2) Ngăn cản hoạt động kinh doanh thông thường;…”.

Trong BLHS 1992, hầu như tất cả các tội vi cảnh, khinh tội đều có hình phạt tiền, trừ các trọng tội thì hình phạt tiền rất hiếm khi được quy định[3]. Ví dụ, Điều 433-20 BLHS 1992 quy định: “Người nào đang trong thời kỳ hôn nhân mà kết hôn với người khác trước khi chấm dứt quan hệ hôn nhân đang tồn tại thì bị phạt tù một năm và phạt tiền 45.000 euro”. Cũng có trường hợp, phạt tiền là hình phạt duy nhất. Ví dụ, hành vi xúc phạm quốc ca hoặc quốc kỳ trong một cuộc diễu hành bị phạt 7.500 euro (Điều 433-5-1 BLHS 1992), hành vi lưu thông tiền giả mà đã biết là tiền giả bị phạt 7.500 euro (Điều 442-7 BLHS 1992). Tòa án có thể phân chia khoản tiền phạt cho khinh tội hoặc cho tội vi cảnh thành nhiều đợt trên cơ sở tình trạng sức khỏe, gia đình, nghề nghiệp, xã hội trong khoảng thời gian không quá 3 năm (Điều 132-28 BLHS 1992).

Bên cạnh hình phạt tiền, Pháp còn quy định hình phạt tiền theo ngày (le jour-amende). Phạt tiền theo ngày được phát triển đầu tiên ở Phần Lan vào năm 1921. Sau đó, hình phạt này được du nhập vào Pháp kể từ năm 1983. Đến nay, hình phạt tiền theo ngày được quy định trong BLHS 1992. Lý do của sự tồn tại hình phạt tiền theo ngày là do sự thay đổi của giá trị đồng tiền. So với hình phạt tiền, hình phạt tiền theo ngày có thể dễ dàng điều chỉnh khi có sự lạm phát hoặc suy thoái[4].

Hình phạt tiền theo ngày có thể được áp dụng cùng với hình phạt tù đối với khinh tội (Điều 131-5 BLHS 1992). Theo quan điểm của những người ủng hộ hình phạt tiền theo ngày thì hình phạt tiền theo ngày có những lợi ích sau[5]: (1) Hình phạt tiền theo ngày có thể bảo đảm công bằng và phù hợp với hoàn cảnh của người phạm tội ; (2) Khi áp dụng hình phạt tiền theo ngày thì hoàn cảnh, tình hình tài sản của người phạm tội được xem xét; (3) Có thể sử dụng hình phạt tiền theo ngày với phạm vi rộng nên có thể hạn chế việc sử dụng hình phạt tù; (4) Số ngày chịu phạt tiền được xác định trên cơ sở mức độ phạm tội, vì vậy số ngày phạt tiền cũng có mối liện hệ với số ngày phạt tù, cải tạo không giam giữ hay thời gian lao động công ích. Vì vậy, phạt tiền có thể là con số tham chiếu chung cho các hình phạt khác; (5) So với hình phạt tiền thì hình phạt tiền theo ngày tỏ ra công bằng hơn khi số ngày phạt tiền được xác định trên cơ sở mức độ phạm tội, tính nguy hiểm của hành vi…; (6) Sử dụng hình phạt tiền theo ngày sẽ dễ dàng chuyển từ hình phạt tiền theo ngày sang số ngày phạt tù do không thi hành hình phạt tiền theo ngày…

Khi mới du nhập vào Pháp, hình phạt tiền theo ngày có bản chất là hình phạt thay thế cho hình phạt tù. Tuy nhiên, hình phạt tiền theo ngày được tuyên kèm cùng hình phạt tù (Điều 131-5 BLHS 1992). “Các thẩm phán có thể tuyên đồng thời hình phạt tù và phạt tiền theo ngày, hình phạt này đã trở thành "một hình phạt chính chung” (une peine principale générale)[6]. Hình phạt tiền theo ngày được tính bằng khoản thu nhập hàng ngày của người bị kết án nhân với một số ngày nhất định. Số ngày không thể vượt quá ba trăm sáu mươi và số tiền phạt mỗi ngày xác định bằng các khoản thu nhập và trách nhiệm của người bị kết án, không thể vượt quá 1.000 €, kể từ Đạo luật ngày 09/3/2004. “Bằng cách này, thẩm phán có thể vượt quá mức tối đa thông thường của mức tiền phạt áp dụng với các hành vi phạm tội liên quan”[7]. Điều 131-25 BLHS 1992 quy định việc thanh toán thiếu toàn bộ hoặc một phần kéo theo việc bắt giam người bị kết án trong một thời hạn tương ứng với tổng số ngày chưa thanh toán tiền phạt. Khi thực hiện việc giam giữ này sẽ chấm dứt những khoản nợ của người bị kết án. Ngoài ra, hình phạt tiền theo ngày không phải là hình phạt tiền. Vì vậy, không được tổng hợp hình phạt tiền theo ngày với hình phạt tiền (Điều 131-9 BLHS 1992).

Nói tóm lại, theo các nhà làm luật và tòa án Pháp, hình phạt tiền, hình phạt tiền theo ngày được coi là hình phạt chính. Trong đó, hình phạt tiền có thể được áp dụng độc lập hoặc áp dụng kèm theo hình phạt tù theo quy định cụ thể trong các điều luật quy định về tội phạm, hình phạt tiền theo ngày là hình phạt chính chung luôn được áp dụng kèm theo hình phạt tù.

1.2 Hình phạt thực tập tư cách công dân và hình phạt lao động công ích

Ở Pháp, thực tập tư cách công dân và lao động công ích là hai hình phạt mang tính tự nguyện, nghĩa là các hình phạt này được áp dụng để thay thế hình phạt tù và chỉ được áp dụng khi người bị kết án không phản đối.

Đối với hình phạt thực tập tư cách công dân (le stage de citoyenneté): Theo Điều 131-5-1 BLHS 1992, khi một khinh tội phải chịu một hình phạt tù, tòa án có thể thay vì phạt tù, tuyên một khóa thực tập tư cách công dân, với mục đích nhắc lại những giá trị của nền Cộng hòa về sự khoan dung và sự tôn trọng phẩm giá con người, những điều vốn là nền tảng của xã hội. Tòa án sẽ chỉ định hình phạt này với chi phí khóa học do người bị kết án trả nếu tổng chi phí không vượt quá tiền phạt tội tiểu hình cấp độ 3. Hình phạt này không thể tuyên cho bị cáo nếu bị cáo từ chối hoặc không có mặt tại phiên tòa. Toà án khi tuyên hình phạt này (với sự đồng ý của bị cáo) sẽ đồng thời ấn định thời gian của hình phạt tù hoặc mức hình phạt tiền mà thẩm phán thi hành hình phạt sẽ ra quyết định áp dụng nếu như người bị kết án không thi hành hình phạt thực tập tư cách công dân.

Đối với lao động công ích (travail d'intérêt géneral): Học tập theo hình phạt phục vụ cộng đồng (community service order) của Vương quốc Anh[8], Điều 131-8 BLHS 1992 quy định, lao động công ích là hình phạt thay thế hình phạt tù và được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Theo pháp luật Pháp, lao động công ích không thể được tuyên bởi tòa án quân sự. Hình phạt này không thể được quyết định bởi thẩm phán mà không có sự đồng ý của đương sự, người phải có mặt tại phiên tòa (Điều 131-8, đoạn 2 BLHS 1992). Điều này xuất phát từ một quyền hiến định của cá nhân được ghi nhận trong Điều 4 Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950: “Không ai phải thực hiện lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc”.

Hình phạt lao động công ích nhằm thực hiện một công việc lao động công ích không lương, vì lợi ích của một cơ quan nhà nước, một cơ sở công lập hoặc một hiệp hội có thẩm quyền. Thời giờ lao động công ích do tòa án ấn định, nhưng ít nhất là 40 giờ không quá 210 giờ. Thời gian hoàn thành lao động công ích không được quá 18 tháng. Trong mỗi cấp xét xử, thẩm phán thi hành hình phạt thiết lập danh sách các công việc lao động công ích có khả năng được đề nghị thực hiện theo ý kiến của Viện Công tố và tham khảo ý kiến ​của tất cả cơ quan công quyền có thẩm quyền chịu trách nhiệm về phòng chống tội phạm; trong trường hợp kết án vì một vi phạm giao thông đường bộ, công việc phải thực hiện tốt nhất nên diễn ra trong một cơ sở chăm sóc người bị thương đường bộ[9]. Cũng chính thẩm phán thi hành hình phạt ấn định cách thức thực hiện công việc công ích như tổ chức được hưởng thụ, những việc cần phải làm, lịch làm việc... Lao động công ích nói chung tuân theo quy định của pháp luật lao động (Điều 131-23 BLHS 1992). Nếu gây thiệt hại cho bên thứ ba trong quá trình thực hiện, Nhà nước sẽ bồi thường cho các nạn nhân, nhưng sẽ được thay thế nghĩa vụ bởi người bị kết án (Điều 131-24 BLHS 1992). Trong thời hạn thực hiện công việc, người bị kết án phải đáp ứng các biện pháp giám sát theo quy định tại Điều 132-55 BLHS 1992 như đáp ứng lệnh triệu tập của thẩm phán thi hành hình phạt, giải thích lý do thay đổi công việc hoặc nơi cư trú, xin phép trước với bất kỳ việc đi lại nào cản trở việc lao động công ích, tiếp nhận nhân viên xã hội và bàn giao cho người đó toàn bộ tài liệu liên quan đến việc thực hiện hình phạt. Sau khi hoàn thành công việc được quy định, hình phạt được coi như là đã được thi hành và các nghĩa vụ giám sát chấm dứt. Kể từ Đạo luật ngày 09/3/2004, thẩm phán xét xử có thể ấn định hình phạt tù và phạt tiền cho người bị kết án trong trường hợp không thực hiện công việc. Thẩm phán thi hành hình phạt sau đó áp dụng thi hành những hình phạt này. “Lao động công ích liên quan đến khoảng 16.000 người bị kết án. Nó được tuyên thường xuyên hơn. Lao động công ích còn có thể được áp dụng như một hình phạt bổ sung”[10].

1.3 Các hình phạt tước hoặc hạn chế một số quyền và hình phạt bồi thường thiệt hại

            Các hình phạt tước hoặc hạn chế một số quyền tự do (peines privatives ou restrictives de liberté) được quy định tại Điều 131-6 BLHS 1992 bao gồm: (1) Đình chỉ bằng lái xe trong một thời hạn nhiều nhất 05 năm, việc đình chỉ này có thể bị giới hạn đối với việc lái xe nằm ngoài các hoạt động nghề nghiệp (trừ trường hợp khinh tội mà đình chỉ bằng lái xe không bị giới hạn đối với việc lái xe nằm ngoài hoạt động nghề nghiệp); (2) Cấm lái một số phương tiện nhất định trong thời hạn 05 năm; (3) Hủy bằng lái xe cùng với việc cấm xin cấp bằng mới trong thời hạn 05 năm; (4) Tịch thu một hoặc nhiều phương tiện thuộc sở hữu của người bị kết án; (5) Cấm lưu hành một hoặc một số phương tiện của người bị kết án trong thời hạn tối đa 01 năm; (6) Cấm sở hữu hoặc mang vũ khí có giấy phép, thời hạn cấm là tối đa 05 năm; (7) Tịch thu một hoặc nhiều vũ khí thuộc sở hữu của người bị kết án hoặc vũ khí mà người này có thể sử dụng tự do; (8) Thu hồi giấy phép săn bắn cùng với việc cấm xin giấy phép săn bắn trong thời hạn 05 năm; (9) Cấm ký phát hành séc, trừ trường hợp các séc chấp nhận người ký phát séc rút tiền từ người được ký phát hoặc séc có chứng nhận sử dụng như thẻ thanh toán, thời hạn cấm là 05 năm; (10) Tịch thu đặc biệt (confiscation spéciale) thu hồi vật sử dụng để phạm tội hoặc sử dụng vì mục đích phạm tội hoặc là vật là kết quả do phạm tội mà có. Biện pháp này không được áp dụng đối với các tội phạm trong lĩnh vực báo chí[11]; (11) Thẩm phán có thể cấm, trong một thời hạn tối đa 05 năm, việc thực hiện một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội khi mà khả năng thực hiện các hoạt động này đã được cố ý sử dụng để chuẩn bị hoặc thực hiện tội phạm. Việc cấm này không áp dụng đối với việc ủy quyền bầu cử hoặc ủy quyền chịu trách nhiệm công đoàn, không được áp dụng đối với các tội phạm trong lĩnh vực báo chí; (12) Cấm xuất hiện ở những nơi được ấn định trong bản án, cấm xuất hiện ở những nơi đã thực hiện tội phạm. Thời hạn cấm là 03 năm; (13) Cấm giao du với những người bị kết án, đặc biệt là chính phạm và tòng phạm của tội phạm. Thời hạn cấm là 03 năm; (14) Cấm quan hệ với những người cụ thể được xác định bởi tòa án như là nạn nhân của tội phạm. Thời hạn cấm là 03 năm; (15) Cấm trong thời hạn nhiều nhất 05 năm, thực hiện một nghề nghiệp thương mại hoặc công nghiệp, điều hành hoặc quản lý một doanh nghiệp thương mại hoặc công nghiệp.

Cùng với lao động công ích, hình phạt thực tập tư cách công dân cũng được sử dụng để thay thế hình phạt tù hoặc thay thế hình phạt tiền theo quy định tại Điều 131-9 BLHS 1992.  

            Ngoài ra, Pháp còn quy định hình phạt bồi thường (sanction-réparation). Hình phạt này áp dụng đối với các tội vi cảnh cấp độ 5 (Điều 131-15-1 BLHS 1992) và đối với các khinh tội (Điều 131-8-1 BLHS 1992). Hình phạt này bắt buộc người bị kết án tiến hành bồi thường những thiệt hại mà các nạn nhân đã phải gánh chịu trong thời hạn và theo cách thức đã được ấn định bởi thẩm phán. Với sự đồng ý của bị cáo và nạn nhân, hình phạt bồi thường có thể được thực hiện bằng hiện vật. Hình phạt này cũng có thể là phục hồi lại tình trạng tài sản bị hư hỏng trong quá trình thực hiện tội phạm. Khi tuyên hình phạt này, tòa án xét xử ấn định thời hạn tối đa của hình phạt tù (không quá sáu tháng) hoặc số tiền phạt (không quá 15.000 €). Trong trường hợp người bị kết án vi phạm các nghĩa vụ bồi thường, thẩm phán thi hành hình phạt sẽ yêu cầu người bị kết án thực hiện toàn bộ hoặc một phần, với những điều kiện quy định tại Điều 712-6 Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS). Nếu tội phạm ban đầu chỉ có thể bị phạt tiền, tòa án chỉ có thể ấn định một án phạt tiền[12].

Hình phạt này khá lạ lẫm đối với Việt Nam, bởi lẽ, trong quan niệm của chúng ta, bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hình sự của Pháp đã thừa nhận hình phạt này với tư cách là hình phạt thay thế của hình phạt tù hoặc hình phạt tiền. Hình phạt này cũng có thể được áp dụng đồng thời với hình phạt tù hoặc hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung. Sự ra đời của hình phạt mới này trên hết nhấn mạnh đến vai trò của các nạn nhân ở vị trí trung tâm của tư pháp hình sự, thậm chí là đối với cả hình phạt.

1.4 Hình phạt giám sát tư pháp xã hội

Điều 131-36-1 BLHS 1992 của Pháp đề cập đến giám sát tư pháp xã hội (le suivi socio-judiciaire) với tư cách là một hình phạt. Theo Điều 131-36-1 BLHS 1992: “Nếu pháp luật có quy định, tòa án xét xử có thể ra một lệnh giám sát tư pháp xã hội. Giám sát tư pháp xã hội buộc người bị kết án phải báo cáo với thẩm phán thi hành hình phạt và trong một thời hạn được ấn định bởi toà án xét xử phải chịu các biện pháp giám sát và hỗ trợ nhằm ngăn ngừa tái phạm. Thời hạn giám sát tư pháp xã hội không quá 10 năm đối với khinh tội hoặc 20 năm đối với trọng tội. Tuy nhiên, trong trường hợp khinh tội, thời hạn giám sát tư pháp xã hội có thể kéo dài đến 20 năm bằng một quyết định đặc biệt và có cơ sở của tòa án sơ thẩm; đối với trường hợp trọng tội mà hình phạt tù là 30 năm, thời hạn giám sát tư pháp xã hội có thể kéo dài đến 30 năm; đối với trường hợp trọng tội có hình phạt là tù chung thân thì toà đại hình có thể không giới hạn thời hạn giám sát tư pháp xã hội, nhưng phải dành khả năng cho toà án thi hành hình phạt chấm dứt biện pháp này sau 30 năm theo những điều kiện và cách thức quy định tại tại Điều 712-7 Bộ luật TTHS.

Trừ trường hợp có quyết định khác, người bị kết án giám sát tư pháp phải chấp hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh, theo các điều kiện của Điều L. 3711-1 của Bộ luật Sức khỏe cộng đồng, nếu chứng minh rằng họ là đối tượng phải tuân thủ sự điều trị, sau một cuộc giám định y tế được trưng cầu bởi chuyên gia y tế phù hợp với các quy định TTHS[13].

Việc giám sát tư pháp xã hội bao gồm các biện pháp giám sát được quy định tại Điều 132-44 BLHS 1992 của Pháp bao gồm: đáp ứng các giấy triệu tập của thẩm phán thi hành hình phạt; tiếp nhận những lần viếng thăm của nhân viên xã hội, cung cấp cho nhân viên xã hội các thông tin hoặc tài liệu xác nhận về phương thức sống và việc hoàn thành nghĩa vụ của người bị kết án; báo cho nhân viên xã hội về việc thay đổi công việc; báo cho nhân viên xã hội khi thay đổi nơi cư trú hoặc vắng mặt khỏi nơi cư trú trên 15 ngày và thông báo rõ ngày quay lại nơi cư trú; phải được sự chấp thuận của thẩm phán thi hành hình phạt trong trường hợp ra nước ngoài và bất kỳ sự thay đổi nào về việc làm hoặc nơi cưu trú nếu như việc thay đổi này cản trở người bị kết án thực hiện nghĩa vụ.

Trong quá trình thi hành biện pháp giám sát tư pháp xã hội, người bị kết án phải tuân thủ các nghĩa vụ do thẩm phán ấn định theo quy định tại Điều 132-45 BLHS 1992. Có thể liệt kê một số nghĩa vụ: thực hiện một hoạt động nghề nghiệp hoặc theo một khóa học về giáo dục hoặc đào tạo nghề; cư trú tại một nơi được chỉ định; chịu sự kiểm tra y tế, điều trị y tế và khi cần thiết phải điều trị tại bệnh viện; chứng minh rằng anh ta đang đóng góp vào chi phí của gia đình hoặc thường xuyên trả nợ các khoản trợ cấp; bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra trong khả năng của mình kể cả trong trường hợp tòa án không tuyên anh ta phải bồi thường; chứng minh rằng anh ta thanh toán nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách nhà nước là kết quả của việc quyết định hình phạt trong khả năng có thể thanh toán;  không được lái các phương tiện được ghi trong bằng lái xe theo quy định của Bộ luật giao thông; không thực hiện các hoạt động nghề nghiệp mà việc thực hiện hoạt động này hoặc trong hoàn cảnh của hoạt động này, tội phạm đã được thực hiện; không xuất hiện ở những nơi đặc biệt đã được chỉ định; không được thường xuyên gặp gỡ hoặc tham gia vào các mối quan hệ với một số người hoặc loại người nhất định, đặc biệt là nạn nhân của tội phạm; và các nghĩa vụ khác được quy định trong Điều luật này.

  Trong quá trình giám sát tư pháp xã hội, người bị kết án có thể phải mang thiết bị điện tử di động. “Trong trường hợp người được giám sát tư pháp xã hội bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử di động, người bị kết án sẽ phải mang một thiết bị phát cho phép bất cứ lúc nào cũng có thể xác định từ xa vị trí của người này trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia, trong hai năm - được gia hạn một lần với khinh tội, hai lần với trọng tội - (Điều 131-36-12 BLHS 1992). Đương sự sẽ được thông báo rằng việc áp dụng biện pháp này sẽ không diễn ra nếu không có sự đồng ý của đương sự, nhưng việc từ chối hoặc không tuân thủ các nghĩa vụ sẽ kéo theo việc thi hành hình phạt tù được tuyên quy định tại đoạn 3 Điều 131-36-1 BLHS 1992”[14].

Khi biện pháp giám sát tư pháp xã hội đi kèm với một hình phạt tước quyền tự do, nó được áp dụng trong thời hạn được ấn định trong quyết định của bản án, tính từ ngày hình phạt tước quyền tự do kết thúc. Nhưng đương sự có thể bắt đầu việc điều trị trong thời hạn chấp hành hình phạt tù (đoạn 3 Điều 131-36-4 BLHS 1992). Tương tự, người này cũng phải thi hành hình phạt tại một cơ sở chuyên biệt cho phép hình thức giám sát y tế và tâm lý (Điều 717-1, 763-7 Bộ luật TTHS)[15]. Khi không có hình phạt tước quyền tự do, biện pháp này phải được áp dụng ngay sau khi có quyết định cuối cùng của tòa án, trừ trường hợp lệnh yêu cầu thi hành biện pháp này một cách tạm thời đã từng được tuyên áp dụng[16]. Hình phạt tù chỉ là lựa chọn cuối cùng sau khi cân nhắc tính chất và mức độ của tội phạm không thể sử dụng các hình phạt không phải là hình phạt tù khác[17].

Việc thi hành giám sát tư pháp xã hội được đặt dưới sự giám sát của thẩm phán thi hành hình phạt, nơi người bị kết án được chỉ định cư trú. Để bảo đảm người thi hành thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong quá trình giám sát tư pháp xã hội, Điều 131-6-1 BLHS 1992 quy định: tòa án xét xử có quyền quyết định mức hình phạt tù đối với người bị kết án trong trường hợp bị kết án không tuân thủ nghĩa vụ. Hình phạt tù sẽ được áp dụng tối đa là 03 năm nếu thuộc trường hợp khinh tội, 07 năm đối với trường hợp trọng tội.

2. Những kiến nghị đối với pháp luật hình sự Việt Nam

Trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, các cơ quan tư pháp còn lúng túng trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống các tội phạm này, nên việc áp dụng cơ chế hình phạt không phải là hình phạt tù thay thế cho hình phạt tù một cách “thông thoáng” như pháp luật hình sự Pháp có thể gây nguy cơ tòa án áp dụng hình phạt quá nhẹ không bảo đảm tính răn đe. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam chưa thể tiếp thu toàn bộ cơ chế hình phạt không phải là hình phạt tù như Pháp áp dụng. Tuy nhiên, những nhân tố hợp lý trong hệ thống các hình phạt này có thể được tiếp thu và học tập theo hướng đa dạng hóa các hình phạt để tạo cho tòa án nhiều công cụ hơn nữa để lựa chọn.

Một là, cần thừa nhận hình phạt lao động công ích. Qua nghiên cứu việc thi hành hình phạt lao động công ích của Pháp, chúng tôi nhận thấy đây là hình phạt rất hiệu quả và dễ áp dụng. Chi phí bỏ ra để thực hiện lao động công ích không lớn bằng lợi ích mà lao động công ích mang lại. Lao động công ích làm lợi cho cộng đồng xã hội. Ngoài ra, việc tham gia lao động công ích cũng giúp cho người phạm tội nhận thấy những giá trị nhất định của mình khi đóng góp cho cộng đồng để từ đó tự bản thân anh ta hướng mình tới những hành vi tốt. Vì lẽ đó, pháp luật Việt Nam cần ghi nhận lao động công ích là một hình phạt, nó có thể đóng vai trò là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Việc lao động công ích có thể đặt dưới sự tổ chức, sắp xếp, giám sát và đánh giá của chính quyền địa phương (trong trường hợp chính quyền địa phương tổ chức hoạt động lao động công ích) hoặc tổ chức (doanh nghiệp) cung cấp dịch vụ lao động công ích. Hình phạt lao động công ích có thể được tuyên kèm với hình phạt cải tạo không giam giữ. Nếu lao động công ích được coi là hình phạt chính thì nó có thể được tuyên độc lập nhưng người bị kết án bên cạnh việc chịu sự quản lý của cơ quan, tổ chức tiến hành hoạt động công ích thì còn phải chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Hai là, cần đa dạng hóa thêm các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền của cá nhân phạm tội như các hình phạt sau đây: cấm lái một số phương tiện nhất định; thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ và không cho cấp giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ trong một thời hạn nhất định; thu hồi tài sản của người phạm tội tham ô hoặc các tội phạm liên quan đến chức vụ, tội phạm ma túy, tội phạm rửa tiền mà người phạm tội không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp và chính đáng của các tài sản này; cấm ký phát séc hoặc giấy tờ có giá tương đương; cấm sử dụng thẻ thanh toán; cấm xuất hiện tại những nơi nhất định; cấm xác lập những mối quan hệ nhất định. Các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền có thể là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Với tư cách là hình phạt chính, hình phạt tước hoặc hạn chế quyền có thể được tuyên nhằm thay thế hình phạt tiền. Trong trường hợp này, tòa án sẽ cân nhắc việc áp dụng hình phạt tiền hay hình phạt tước hoặc hạn chế quyền trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính của người bị kết án, mối liên quan giữa quyền sẽ bị tước hoặc hạn chế với hành vi phạm tội để ra quyết định phù hợp.

Ba là, pháp luật hình sự Pháp có nhiều quy định cả về mặt nội dung và tố tụng để bảo đảm thi hành được hình phạt tiền trên thực tiễn. Vì vậy, hình phạt tiền được áp dụng rất phổ biến ở Pháp và tỏ ra rất hiệu quả. Pháp luật Việt Nam cần dành cho tòa án quyền phân chia hình phạt tiền thành nhiều đợt thanh toán cho phù hợp với hoàn cảnh của người phạm tội, tuy nhiên thời hạn thanh toán không thể vượt quá thời hạn luật định. Ví dụ, theo pháp luật của Pháp, thời hạn thanh toán không được quá 03 năm. Tiếp theo, cần phải quy định cơ chế chuyển phạt tiền thành phạt tù trong trường hợp người bị kết án không chấp hành hình phạt này. Bản chất của quy định này là bảo đảm việc thi hành bản án của tòa án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Quy định này cũng góp phần bảo đảm tính khả thi của các quy định phạt tiền là hình phạt mà trong tương lai sẽ tiếp tục thay thế các hình phạt tù trong các tội phạm cụ thể. Về cách quy đổi từ hình phạt tiền sang hình phạt tù thì cần xác định trong luật mức phạt tiền/ngày. Đối với trường hợp cụ thể thì xác định mức tổng mức tiền chia cho số tiền phạt/ngày sẽ được tổng số ngày phải trả tiền. Cứ một ngày trả tiền tương ứng với một ngày tù. Quy định này rất cần thiết, bởi mặc dù chúng ta có tội không chấp hành bản án của tòa án, nhưng thủ tục khởi tố, truy tố, xét xử mất rất nhiều thời gian sẽ làm giảm hiệu quả của hình phạt tiền nếu áp dụng quy định này để truy cứu trách nhiệm hình sự của người bị kết án không thi hành án phạt tiền. Tuy nhiên, nếu áp dụng cơ chế chuyển từ hình phạt tiền sang hình phạt tù thì thủ tục rất nhanh gọn, chỉ cần một quyết định của Tòa án tuyên chuyển hình phạt tiền sang hình phạt tù là có thể thi hành ngay hình phạt tù đối với người bị kết án. Sau cùng, trong các quy định về thi hành hình phạt tiền, có thể trao cho Nhà nước quyền ưu tiên trên tài sản của người phải thi hành. Trong trường hợp người thi hành không thi hành hình phạt tiền, cơ quan thi hành án có quyền thu hồi tài sản của người phải thi hành để tiến hành bán nhằm bù đắp vào chi phí cưỡng chế và số tiền phạt. Ngoài ra, pháp luật cũng cần thừa nhận cơ chế người phải thi hành sử dụng tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán tiền phạt bằng các biện pháp dân sự như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh.

Bốn là, cần hoàn thiện các quy định về cấm cư trú và quản chế. Hình phạt giám sát tư pháp xã hội của Pháp tỏ ra rất hiệu quả trong việc ngăn ngừa tái phạm. Pháp luật hình sự của Việt Nam cũng đề cập đến hai hình phạt có bản chất ngăn ngừa tái phạm đó là cấm cư trú và quản chế. Tuy nhiên các hình phạt này chỉ là hình phạt bổ sung và tòa án Việt Nam chỉ áp dụng hai hình phạt này nếu trong điều luật quy định về tội phạm cụ thể có quy định. Như vậy, các trường hợp áp dụng cấm cư trú hoặc quản chế không được rộng như các trường hợp áp dụng giám sát tư pháp xã hội. Mặc dù trong nội dung của cấm cư trú và quản chế cũng đã có những biện pháp nhằm phòng ngừa việc phạm tội mới nhưng so với nội dung của hình phạt giám sát tư pháp xã hội thì cấm cư trú vẫn nặng về thủ tục hành chính mà chưa có nhiều các giải pháp thực chất có hiệu quả nhằm ngăn ngừa phạm tội mới. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần hoàn thiện các quy định về cấm cư trú, quản chế theo hướng nhập cấm cư trú và quản chế thành một để tạo một hình phạt có nội dung tổng quát như hình phạt giám sát tư pháp xã hội. Hình phạt này vẫn có thể lấy tên là quản chế. Hình phạt này sẽ được áp dụng cho mọi trường hợp người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù và cấm cư trú sẽ như là một lệnh đặc biệt mà tòa án áp dụng trong trường hợp áp dụng hình phạt quản chế đối với người bị kết án. Người bị áp dụng quản chế phải tuân theo các biện pháp kiểm tra y tế, chữa bệnh bắt buộc với các chi phí hợp lý được luật hoá do người bị quản chế chịu. Tòa án có quyền tuyên tước hoặc hạn chế một số quyền nhất định của người bị quản chế nhằm ngăn ngừa người bị quản chế tái phạm. Ngoài ra, Tòa án có quyền tuyên buộc người bị quản chế phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ nhất định nhằm giám sát hành vi của người bị quản chế đồng thời ngăn ngừa người bị quản chế tái phạm./.

 


[1] Bộ luật Hình sự năm 1992 của Pháp được thông qua ngày 22/07/1992 và có hiệu lực ngày 01/03/1994. Chúng tôi dch theo nguyên văn tiếng Pháp từ trang https://www.legifrance.gouv.fr (Légifrance là trang web chính thức của Chính phủ Pháp về phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới luật và các quyết định của Tòa án tối cao, Toà phúc thẩm của Pháp). 

[2] Khi tuyên hình phạt, nếu thẩm phán chỉ chọn áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung thì các hình phạt này trở thành hình phạt chính do pháp luật hình sự Pháp không quy định phải có hình phạt chính mới có các hình phạt bổ sn﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽n﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽n﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽ung.

[3]Jean Pradel (2008), Droit pénal comparé, 3e édition, Dalloz, p. 502.

[4]Michael Tonry & Richard S. Frase (Editing) (2001), Sentencing and Sanctions  in Western Countries, Oxford University Press, p. 306.

[5]Michael Tonry & Richard S. Frase (Editing) (2001), Sentencing and Sanctions  in Western Countries, Oxford University Press, p. 308.

[6] Bernard Bouloc (2013), Droit pénal general, 23e édition, Dalloz, p. 454.

[7] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 454.

[8] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 455.

[9] Ngoài thẩm quyền của các cơ quan quản lý trại giam, Pháp còn tố tụng hoá quá trình chấp hành hình phạt của người bị kết án với quy định về thẩm quyền của toà án, thẩm phán thi hành hình phạt trong việc quyết định các biện pháp có tính chất cá thể hoá. Xem thêm, Trần Văn Dũng & Hoàng Ngọc Thành (2012), Hình phạt tù có thời hạn tiếp cận dưới góc độ so sánh giữa Luật hình sự Việt Nam và Cộng hòa Pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II tháng 01/2012 (số 02), tr. 44.

[10] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 457

[11] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 458.

[12] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 460.

[13] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 473.

[14] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 474.

[15] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 474.

[16] Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 475.

[17] Xem thêm Bernard Bouloc (2013), Tlđd., tr. 459.

Nguyễn Thị Hồng Hạnh, ThS., Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Cơ chế các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội một số nước tham gia kiểm soát quyền lực và những nội dung Việt Nam có thể tham khảo (10/09/2018)
Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (22/08/2018)
Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu (08/08/2018)
Khái niệm, nội dung và hình thức của thỏa thuận hòa giải nhìn từ góc độ so sánh giữa luật Việt Nam và Đức (26/07/2018)
Phòng, chống rửa tiền qua các tổ chức tín dụng theo pháp luật của Hoa Kỳ, Singapore và những gợi mở cho Việt Nam (09/07/2018)
Chính sách ưu đãi của một số quốc gia đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và những nội dung có thể tham khảo (29/06/2018)
Pháp luật và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Liên bang Nga và những nội dung Việt Nam có thể tham khảo (20/06/2018)
Chính sách ưu đãi của một số quốc gia đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và những nội dung có thể tham khảo (29/06/2018)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Hoàn thiện các quy định của Luật Thuơng mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ Luật Dân sự năm 2015

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Vai trò của Quốc hội trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc

Quyền được tiếp cận thông tin và quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Một số vấn đề về thời điểm đặc xá

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân