Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/07/2018, 05:28(GMT+7)
 
Kinh nghiệm quốc tế

Chính sách ưu đãi của một số quốc gia đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và những nội dung có thể tham khảo
Chính sách ưu đãi của một số quốc gia đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và những nội dung có thể tham khảo
Ảnh minh họa/nguồn internet

Tóm tắt: Một trong những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 là cho phép thành lập những đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt[1]. Đây là quy định có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, đồng thời, là cơ sở pháp lý để Việt Nam có thể thành lập những đặc khu hành chính - kinh tế với mục tiêu thu hút đầu tư, đặc biệt là từ các nhà đầu tư nước ngoài. Để có thể thu hút đầu tư vào các khu vực này, cần phải xây dựng các chính sách và biện pháp ưu đãi, khuyến khích đặc biệt. Bài viết khảo sát kinh nghiệm về các chính sách ưu đãi của một số quốc gia phát triển thành công mô hình đặc khu kinh tế, nêu những nội dung có thể vận dụng cho Việt Nam trong việc xây dựng pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập, phát triển, quản lý và hoạt động của các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.  

Từ khóa: đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; đặc khu kinh tế; chính sách ưu đãi; biện pháp khuyến khích; tham khảo kinh nghiệm.

Abstract: One of the new features of the Constitution of 2013 is that the special administrative - economic units are legally allowed to be established. This is a significant regulation for the economic development of the country, and at the same time, a legal basis for Vietnam to establish special administrative-economic zones with the objective of attracting private investments, especially from foreign investors. In order to attract the private investment in these areas, a series of special incentive policy and methods should be developed. This article provides the experience of preferential policies of foreign countries that have been successfully developing the free economic zone model, which can be applied to Vietnam in law making as well as legal grounds for establishment, development, management and operation of the special administrative-economic units.

Keywords: special administrative - economic units; free economic zone; incentive policy; experience reference.

 

1. Khái quát về chính sách ưu đãi đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Chính sách ưu đãi được hiểu là việc Nhà nước tạo ra một số điều kiện nhất định cho các đối tượng thực hiện hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ trong các lĩnh vực, địa bàn, loại hình mà Nhà nước khuyến khích phát triển nhằm thu hút đầu tư, hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Để tạo lập mô hình phát triển mới có tính đột phá cho các đơn vị hành chính - kinh tế (HC-KT) đặc biệt nhằm mục đích cạnh tranh trong khu vực và với quốc tế, Nhà nước cần ban hành những cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích vượt trội áp dụng cho các nhà đầu tư. Các chính sách ưu đãi có thể được chia ra làm các nhóm cơ bản, với một số gợi ý cụ thể như sau[2]:

Nhóm chính sách ưu đãi thuế, cho phép miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt tại đơn vị HC-KT đặc biệt trong một khoảng thời gian nhất định để tạo sức hút đối với các nhà đầu tư. 

Nhóm chính sách về tài chính, ngân sách cho phép để lại một phần hoặc toàn bộ số thu của đơn vị HC-KT đặc biệt trong một thời gian cần thiết. Ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho đơn vị HC-KT đặc biệt, điều chỉnh tỷ lệ điều tiết ngân sách địa phương về trung ương để tạo nguồn vốn hỗ trợ đơn vị HC-KT đặc biệt. 

Nhóm chính sách tiền tệ, ngân hàng cho phép thiết lập thể chế tiền tệ, ngân hàng riêng, cho phép sử dụng một số đồng tiền tự do chuyển đổi, thành lập trung tâm tài chính riêng. 

Nhóm chính sách về đất đai và cơ sở hạ tầng cho phép áp dụng thời hạn hoạt động dự án và thời gian cho thuê đất, sử dụng đất, một số nơi cho phép tối đa không quá 99 năm, cho phép thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng nước ngoài.

Nhóm chính sách lao động và thu hút nguồn nhân lực cho phép thay đổi cơ chế tuyển dụng lao động theo hợp đồng lao động dài hạn; cho phép chủ lao động được thuê nhân viên theo các tiêu chuẩn của công ty và sa thải các nhân viên không đạt yêu cầu. Các doanh nghiệp trong đơn vị HC-KT đặc biệt có toàn quyền tuyển dụng lao động trong và ngoài khu vực; có thể tuyển dụng trực tiếp hoặc thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm phát triển nguồn nhân lực hoạt động một cách hợp pháp. Nhà nước cũng có các biện pháp giúp đỡ các doanh nghiệp tại đặc khu trong việc tìm kiếm lao động.

Nhóm chính sách tiền lương cho phép các doanh nghiệp hoạt động trong đơn vị HC-KT có thể trả lương cho người lao động theo phương thức tự thỏa thuận phù hợp với giá cả thị trường. Hệ thống mức lương cơ bản của Nhà nước chỉ đóng vai trò quy định mức lương tối thiểu. Các doanh nghiệp trong đơn vị HC-KT đặc biệt được quyền quy định mức, các hình thức trả lương, chế độ thưởng và trợ cấp, nhưng không thể thấp hơn mức bình quân của các doanh nghiệp bên ngoài đơn vị HC-KT đặc biệt.

Nguyên tắc áp dụng các chính sách ưu đãi đặc thù đối với đơn vị HC-KT đặc biệt được thực hiện trên tinh thần kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Với chính sách mở cửa thị trường, các chính sách ưu đãi phải bảo đảm tiêu chí cạnh tranh quốc tế và khu vực, đi tắt đón đầu, tìm lợi thế so sánh để thu hút, phải tính toán xem quốc gia cần gì trong mục tiêu trước mắt và lâu dài để áp dụng cụ thể cho từng đặc khu. Đồng thời, các chính sách ưu đãi đòi hỏi phải nhằm mục tiêu phát triển bền vững và không trái với tinh thần của các điều ước quốc tế đã được các quốc gia ký kết và tham gia.

2. Chính sách ưu đãi đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt một số quốc gia

2.1 Đặc khu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc)

Thâm Quyến được xem là hình mẫu của các đặc khu kinh tế Trung Quốc và cả trên thế giới, trong quá khứ và cả tương lai. Sự phát triển của Thâm Quyến có thể được coi là một điều kỳ diệu trên thế giới về công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá.

Quyết định liên quan đến việc thành lập đặc khu kinh tế ở Trung Quốc được Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua vào tháng 7/1979 theo ý tưởng của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình. Vào năm 1980, các đặc khu kinh tế Thâm Quyến, Chu Hải và Sán Đầu của tỉnh Quảng Đông và Hạ Môn của tỉnh Phúc Kiến lần lượt được thành lập. Thâm Quyến đã đóng vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách và mở cửa của Trung Quốc, trong khi các đặc khu còn lại chỉ thành công ở mức trung bình hoặc thậm chí không thành công và phải chuyển hướng.

Theo số liệu thống kê năm 2016, tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Thâm Quyến đạt 294 tỷ USD. Tổng sản lượng kinh tế của đặc khu này cao hơn của Bồ Đào Nha, Ireland và Việt Nam. GDP bình quân đầu người là 25.790USD[3]Tăng trưởng kinh tế của Thâm Quyến chỉ xếp sau 3 thành phố lớn (Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu) và đứng đầu Trung Quốc về hiệu quả, chất lượng phát triển kinh tế và kinh tế tri thức.

Chính sách mở cửa và ưu đãi trong thu hút vốn đầu tư là yếu tố đảm bảo cho Thâm Quyến duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao trong thời gian dài. Trong đó, yếu tố sáng giá nhất dẫn đến thành công của Thâm Quyến nằm ở mức thuế thấp, thủ tục hành chính đơn giản và nhân công lao động rẻ.

Thâm Quyến là nơi khởi nguồn của nhiều đột phá chính sách. Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho Thâm Quyến chỉ 15%/năm, trong khi tại các khu vực khác ở thời kỳ đó là 33%/năm[4]. Thâm Quyến thực hiện hệ thống hợp đồng lao động và lương mới, hệ thống đấu thầu mới, chính sách nhà ở cho công nhân. Thâm Quyến là nơi đầu tiên thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất (năm 1987) và tiên phong thực hiện thị trường hóa quyền sử dụng đất. Đây cũng là nơi xây dựng sàn giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Trung Quốc (năm 1990), phát hành tấm cổ phiếu đầu tiên tại Trung Quốc, đi đầu trong việc phát triển doanh nghiệp cổ phần và thị trường vốn. Thâm Quyến tách hoạt động thương mại ra khỏi các cơ quan nhà nước, cải cách hệ thống giá cả… Chiến lược ưu tiên phát triển công nghệ cao được áp dụng cho đặc khu Thâm Quyến. Hàng loạt chính sách ưu đãi đặc biệt đã được đặt ra nhằm thu hút các nhà đầu tư sử dụng công nghệ hiện đại về điện tử, tin học, công nghệ sinh học, kỹ thuật số, vật liệu mới…

Với những chính sách đó, Thâm Quyến đã nhanh chóng thu hút được hàng trăm công ty kỹ thuật cao xuyên quốc gia, nổi tiếng thế giới như Foxconn, Apple, Genneral Electric, Intel, IBM, Siemen, Samsung… Đặc biệt, từ năm 1992, được chính quyền trung ương trao quyền lập pháp, chính quyền đặc khu được tự chủ về kinh tế, có quyền chủ động đưa ra những cơ chế chính sách cần thiết, tạo động lực phát triển và thu hút đầu tư vào Thâm Quyến.

Thâm Quyến có nhiều cơ chế hỗ trợ để thu hút nhân tài trong các lĩnh vực. Học vị càng cao chính sách đãi ngộ càng lớn. Những người có học hàm tiến sĩ trở lên có nhu cầu sinh sống ở thành phố sẽ được tạo điều kiện nhập hộ khẩu, cấp tiền mua nhà ở [5].

Như vậy, bài học đầu tiên và quan trọng nhất của Thâm Quyến là tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua các chính sách ưu đãi nhằm tạo dựng, duy trì và không ngừng cải thiện môi trường đầu tư hấp dẫn và thuận lợi, đặc biệt là về cơ chế, chính sách và nguồn nhân công. Các chính sách ưu đãi dành cho môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh phải thật sự xứng đáng với biệt danh "đặc khu kinh tế", bảo đảm tính thuận lợi và bình đẳng, công bằng và công minh đối với tất cả các nhà đầu tư.

2.2 Đặc khu kinh tế tự do Incheon (Hàn Quốc)

Incheon là khu kinh tế tự do đầu tiên ở Hàn Quốc, được xây dựng với mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh tăng trưởng của nước này được coi là đã tới ngưỡng, nền kinh tế thiếu những ngành nghề mang tính sáng tạo, năng lực cạnh tranh khu vực dịch vụ yếu. Incheon được chọn trở thành đặc khu kinh tế tự do do điều kiện vị trí thuận lợi. Incheon nằm ở giữa bán đảo Hàn Quốc, trung tâm của biển Tây (Hoàng Hải), gần với nhiều thành phố quan trọng của Trung Quốc, là điều kiện để hình thành mạng lưới vận tải biển, hàng không và hậu cần. Ngoài ra, Incheon còn tiếp giáp với khu vực thủ đô Seoul và các vùng lân cận thuộc tỉnh Gyeonggi.

Để trở thành đô thị trung tâm của khu vực Đông Bắc Á, đặc khu kinh tế tự do Incheon vẫn đang tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng. Khu Kinh tế tự do Incheon của Hàn Quốc có nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích từ phía Chính phủ, ngoài ra, có nguồn nhân lực dồi dào, có quỹ đất và từng bước hoàn thiện hạ tầng thiết yếu. Incheon kêu gọi các nhà đầu tư tích cực xây dựng hạ tầng. Một đặc điểm là Incheon nổi bật với kết cấu hạ tầng, sân bay, thể chế... theo kiểu Mỹ, nhằm thu hút các nhà đầu tư Âu - Mỹ. Incheon không đặt mục tiêu thu hút các nhà đầu tư châu Á, kể cả Nhật Bản[6].

Theo quy định của Chính phủ Hàn Quốc, vốn đầu tư vào khu kinh tế tự do đối với các nhà đầu tư nước ngoài không được ít hơn 5 triệu USD, nhưng bù lại họ sẽ được toàn quyền sở hữu doanh nghiệp, được phép chuyển lợi nhuận và vốn ra khỏi Hàn Quốc[7].

Ngoài ra, các doanh nghiệp sẽ được miễn tất cả các loại thuế trong vòng 3 năm đầu tiên, đối với các xí nghiệp đầu tư nước ngoài có sử dụng công nghệ cao hoặc các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp dịch vụ thì thậm chí còn được miễn các loại thuế tới 5 năm. Sau khi hết hạn miễn thuế theo luật định, các xí nghiệp hoạt động trong khu vực kinh tế tự do còn được miễn 50% các loại thuế thêm 2 năm tiếp theo. Người nước ngoài làm việc tại các khu kinh tế được hưởng ưu đãi về mức thuế thu nhập. Họ được quyền lựa chọn hoặc là đóng tổng các loại thuế với mức 30% hoặc chốt mức 17% thuế thu nhập cố định mà họ phải chịu.

Từ ngày 10/1/2014, Hàn Quốc đã ban hành Luật Xúc tiến đầu tư nước ngoài với mục đích làm tăng quy mô đầu tư của nước ngoài nhằm phát triển kinh tế Hàn Quốc. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài trong các trường hợp sau sẽ nhận được trợ cấp bằng tiền: người nước ngoài nhận được cổ phiếu nhưng sẽ dùng để tái đầu tư tại Hàn Quốc, các công ty nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất với vốn đầu tư từ 10 triệu USD trở lên hoặc đầu tư vào các cơ sở nghiên cứu với số vốn từ 5 triệu USD trở lên. Mức trợ cấp sẽ bằng 10 đến 20% tổng giá trị đầu tư. Theo các chuyên gia, số tiền trợ cấp này có thể giúp cho doanh nghiệp thanh toán tiền thuê mặt bằng, xây dựng nhà xưởng...

Để kịp thời giải quyết và tháo gỡ những khó khăn cho các nhà đầu nước ngoài trong quá trình hoạt động tại đặc khu kinh tế, Tổng thống Hàn Quốc chỉ định đích danh các thanh sát viên cho mục đích này. Chính phủ cũng thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm cho lãnh đạo các doanh nghiệp có đầu tư và đang hoạt động tại các khu kinh tế.

Đáng chú ý, Bộ Tư pháp Hàn Quốc còn đưa ra chính sách nhập cư đặc biệt đối với Incheon, đó là người nước ngoài đầu tư 1,5 triệu USD vào ngành du lịch có thể nhận được quyền cư trú vĩnh viễn tại Incheon.

Chính phủ Hàn Quốc có mục tiêu đưa quốc gia này thành một trong 10 cường quốc về quy mô đầu tư và mong muốn khôi phục kinh tế trong nước thông qua việc tăng cường thu hút đầu tư của nước ngoài.

Chính vì vậy, sự phát triển của các đặc khu kinh tế không chỉ đơn thuần vì lý do kinh tế của riêng khu vực đó, mà còn mang ý nghĩa lớn hơn nhiều. Đó là, lợi ích chung của cả nền kinh tế ở góc độ tạo công ăn việc làm, thu hút các nguồn lực phát triển, mở rộng xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và tri thức quản lý, phát triển tổng hợp vùng[8].

2.3 Đặc khu kinh tế Iskandar (Malaysia)

Iskandar là dự án quan trọng bậc nhất, được xem là một Singapore mới trong lòng Malaixia, với mục tiêu thu hút hơn 100 tỷ USD vốn đầu tư trong vòng hai thập kỷ (2006-2025). Mục tiêu của dự án phát triển thành phố Iskandar là hợp nhất các thị trấn, cảng biển và sân bay hiện nay của Malaysia với các dự án mới đang được triển khai. Iskandar giờ đây đã được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thành các công viên, khách sạn, các tòa nhà sang trọng, trường học quốc tế, bệnh viện và trung tâm thương mại.

Các nhà đầu tư nước ngoài chính ở Iskandar hiện nay đến từ Singapore, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Tây Ban Nha, Nhật Bản và xu hướng này vẫn đang tiếp tục. Vốn đầu tư tập trung vào các lĩnh vực mà Iskandar khuyến khích như: điện và điện tử; dầu khí; chế biến nông sản và thực phẩm; dịch vụ hậu cần; du lịch; y tế; giáo dục; tài chính và các ngành công nghiệp sáng tạo.

Tính từ năm 2006 đến tháng 11/2016, tổng vốn đầu tư tại Đặc khu Kinh tế Iskandar lên tới 221 tỷ Ring-gít (gần 60 tỷ USD). Trong đó 51% tổng vốn đầu tư đã được thực hiện. Nhìn theo lộ trình thu hút 100 tỷ USD đặt ra cho đến năm 2025, xem ra mục tiêu của Iskandar hoàn toàn không xa, nhất là khi hệ thống cơ sở hạ tầng cho thu hút đầu tư đang ngày càng được hoàn thiện. Đặc khu Kinh tế Iskandar đã thu được hiệu quả kinh tế nổi bật, đã tạo ra 700.000 công ăn việc làm[9].

Chính sách ưu đãi cho Iskandar cũng chính là các ưu đãi cho các khu thương mại tự do, khu công nghiệp được áp dụng từ năm 1986 theo Luật Xúc tiến đầu tư của Malaixia. Gói ưu đãi bao gồm miễn 70% mức thuế trong 5 năm từ khi bắt đầu sản xuất, sau đó áp dụng mức thuế phổ thông là 27%; chiết khấu thuế đầu tư cho phép khấu trừ 60% chi phí vốn của doanh nghiệp vào thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Các doanh nghiệp xuất khẩu trên 80% được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu và máy móc thiết bị chính.

Ngoài ra, Malaysia đưa ra thêm những chính sách ưu đãi hấp dẫn cho Iskandar, trong đó có ưu đãi về mức thuế thu nhập cá nhân và doanh nghiệp trong 10 năm, quyền sở hữu doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoãn vô thời hạn thuế giá trị gia tăng đối với bất động sản và không hạn chế trong việc thuê các nhân viên người nước ngoài có trình độ cao[10].

Luật Đất đai của Malaysia cho phép các công ty tư nhân, người nước ngoài hoặc người Malaysia được quyền sở hữu đất. Người nước ngoài được mua đất để đầu tư sau khi được Ủy ban Đầu tư nước ngoài chấp thuận. Nếu không được chấp thuận, doanh nghiệp được thuê đất với thời hạn tối đa từ 60 đến 99 năm.

  Sự đổ bộ ồ ạt của các nhà đầu tư vào cơ sở hạ tầng vật chất (đường, nước, cảng biển, sân bay, trung tâm logistics) và xã hội (trường học, công viên, các khu thể thao văn hoá xã hội,…) càng tạo thêm động lực thu hút đầu tư và nguồn nhân lực của Iskandar[11].

  Về an sinh xã hội, các dự án nhà ở cho thuê giá rẻ ra đời nhằm nâng cao đời sống của người có thu nhập thấp và trung bình. Malaysia đã xây dựng thành công hệ thống phúc lợi xã hội nên thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao ở lại.

Chính phủ Malaixia xác định các ngành kinh tế mũi nhọn của từng khu vực để phát triển, chứ không phát triển tràn lan. Đặc biệt, các khu kinh tế này đã tận dụng nguồn tài nguyên du lịch, định hướng phát triển xanh và bền vững. Đây là điều kiện rất quan trọng trong định hướng phát triển bền vững, bảo tồn môi trường và tận dụng tài nguyên để phát triển du lịch.

Iskandar Malaysia được xây dựng thành thương hiệu và hình ảnh một Trung tâm kinh tế hiện đại có vị trí chiến lược, kết nối toàn cầu nhằm thu hút nhà đầu tư và người lao động chất lượng cao đến đầu tư, sinh sống và làm việc. Bài học kinh nghiệm giúp Iskandar Malaysia trở thành điểm đến hấp dẫn, bên cạnh vị trí chiến lược, chính là các ưu đãi về đầu tư; tình hình chính trị ổn định; hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và lực lượng lao động có kỹ năng và có thể sử dụng nhiều ngôn ngữ.

3. Một số nội dung Việt Nam có thể tham khảo, vận dụng

Qua các mô hình đặc khu kinh tế thành công của châu Á, có thể nhận thấy mức độ ưu đãi từ các chính sách do các quốc gia đưa ra tuy có những đặc thù nhất định, song về cơ bản đều là sự giảm thiểu mọi hàng rào ngăn cản các dòng di chuyển của các nguồn lực và đủ hấp dẫn các nhà đầu tư. Cụ thể là[12]:

- Giảm thiểu thuế quan, tự do trung chuyển hàng hóa;

- Đơn giản hóa các thủ tục thành lập doanh nghiệp;

-  Đơn giản hóa các thủ tục hải quan;

- p dụng các chính sách khuyến khích về tài chính, miễn, giảm các loại thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, thuế tài sản,…;

- Tự do hóa các dòng chảy vốn đầu tư, lợi nhuận…;

- Tạo thuận lợi trong việc sử dụng kết cấu hạ tầng như cho thuê giá thấp, cung cấp dịch vụ giá rẻ,…

Điều kiện phát triển các đặc khu HC-KT ngày nay còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi quá trình toàn cầu hóa. Trong khi các nước đang phát triển rất cần thu hút vốn để tạo nhiều công ăn việc làm và thực hiện công nghiệp hóa thì các công ty, tập đoàn kinh doanh lại cần đến những nơi hội đủ những ưu thế tổng hợp mang tính toàn cầu.

Tuy nhiên, kinh nghiệm của các quốc gia cũng cho thấy việc ban hành các chính sách ưu đãi còn phải lưu ý các vấn đề sau đây:

3.1 Các điều kiện cần có để triển khai ưu đãi

Để xây dựng các đơn vị HC-KT đặc biệt, điều quan trọng là việc xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách thực tiễn và đa dạng nhằm thu hút các nguồn vốn “lành mạnh” của nước ngoài. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế lựa chọn các nguồn vốn nước ngoài đáp ứng các tiêu chí đầu tư, theo dõi các doanh nghiệp có hiệu quả kinh tế tương ứng với các loại chính sách ưu đãi và kiểm tra chặt chẽ để các doanh nghiệp nước ngoài nộp thuế tương xứng với lợi nhuận mà họ thu được tại thị trường trong nước.

Đồng thời, cần xây dựng các quy định pháp luật ngăn ngừa những vi phạm pháp luật khi lợi dụng các chính sách ưu đãi của quốc gia. Đặc khu kinh tế chính là nơi các nhà xuất khẩu và nhà đầu tư nhận ưu đãi về thuế, phí và một loạt các chính sách ưu đãi khác, tuy nhiên kết quả thực tế cho thấy, một số ít đặc khu thành công xuất sắc; một số lớn hơn mang lại những lợi ích khi đánh giá hiệu quả chi phí; và một danh sách dài các đặc khu kinh tế thất bại hoặc chưa từng vận hành, hoặc yếu kém, hoặc các nhà đầu tư hoan hỉ nhận các ưu đãi thuế khóa nhưng chẳng đem lại lợi ích về việc làm hay xuất khẩu như chính quyền mong đợi.

 Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của đơn vị HC-KT đặc biệt là có sự hỗ trợ ban đầu của Chính phủ để đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là một trong những khó khăn chủ yếu dẫn đến các mô hình khu kinh tế hiện nay của nước ta chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng. Vì vậy, khả năng hỗ trợ của Nhà nước đối với đơn vị HC-KT đặc biệt để bảo đảm sự thành công của mô hình này được xem là điều kiện quan trọng.

Đồng thời, cần quy định có tính định hướng các ngành nghề khuyến khích đầu tư vào đặc khu ở những lĩnh vực Việt Nam đang cần, nhằm phát huy lợi thế của từng đặc khu. Đồng thời, bảo đảm cạnh tranh quốc tế và khu vực, đi tắt đón đầu, tìm lợi thế so sánh để thu hút; phải tính trước mắt và lâu dài Việt Nam đang cần gì để có những định hướng đầu tư hết sức cụ thể đối với từng đặc khu. Tinh thần xanh, sạch, đẹp, công nghệ cao, không trái điều ước quốc tế cần được pháp luật quy định là những tiêu chuẩn và nguyên tắc đầu tiên đối với các nhà đầu tư.

3.2 Hiệu quả của chính sách ưu đãi

Trong khi thể chế hóa các chính sách ưu đãi, cần phải thường xuyên r soát và đánh giá tính hiệu quả của các ưu đãi, tránh ưu đãi không phù hợp, dàn trải, gây lãng phí nguồn lực. Các chính sách ưu đãi phải được chọn lọc để thực sự mang lại kết quả đầu tư mong đợi về hiệu suất và tạo nên giá trị gia tăng. Kinh nghiệm các quốc gia cũng cho thấy, các lợi thế về lao động giá rẻ, ưu đãi thương mại, tài chính thường chỉ có hiệu quả trong giai đoạn đầu thu hút.

Theo nghiên cứu từ Điều tra Công nghiệp Việt Nam 2011 của Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO), các chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ tạo ra sự biến dạng hệ thống thuế và gây tốn kém cho ngân sách[13]. Trong khi đó, sự ổn định kinh tế và chính trị, chi phí lao động, thuế, khung pháp lý của nước sở tại và chất lượng cơ sở hạ tầng... là những yếu tố mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm. Nghiên cứu này do UNIDO cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố ngày 26/6/2014 từ kết quả điều tra  trên 1.493 doanh nghiệp có nguồn vốn FDI đang hoạt động chủ yếu tại các tỉnh thành: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đà Nẵng và Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghiên cứu cũng khuyến cáo rằng, các chính sách ưu đãi có thể vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn FDI, nhưng các ưu đãi tài chính dường như chỉ mang tính bổ sung, chứ không phải là một nhân tố cần thiết trong tiến trình thu hút đầu tư.

Ngoài ra, một số quan điểm còn cho rằng, các chính sách thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào các đơn vị HC-KT đặc biệt, tập trung mọi nguồn lực ưu đãi cho  khu vực này sẽ khiến cho miền núi xa xôi càng trở nên tụt hậu. Bởi vậy, đánh giá tác động về hiệu quả của các chính sách thực sự cần thiết trong việc đề xuất các ưu đãi, khuyến khích cho các luồng đầu tư vào đơn vị HC-KT đặc biệt.

3.3 Mặt trái của các chính sách ưu đãi cần được cân nhắc

Trong Dự thảo Luật Đơn vị HC-KT đặc biệt trình Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV tại phiên họp lần thứ 14 ngày 11/9/2017, trên cơ sở so sánh 9 nhóm tiêu chí ưu đãi (chính sách về môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển kết cấu hạ tầng; dịch vụ hỗ trợ đầu tư; ưu đãi đầu tư; đất đai; lao động; giải quyết tranh chấp; thu hút ngoại kiều; xuất nhập cảnh) đã cho thấy, nội dung quy định tại Dự thảo Luật hầu hết có ưu đãi cao hơn, thuận lợi hơn so với các đặc khu kinh tế, khu kinh tế tự do tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Singapore, Myanmar[14].

Tuy nhiên, cũng cần phải cân nhắc tới các mặt trái của chính sách ưu đãi trong quá trình xây dựng các quy định pháp luật. Có thể thấy rằng, Thẩm Quyến được xem là mô hình đặc khu thành công nhất trên thế giới. Tuy nhiên, mặt trái của sự thành công này ngày càng rõ nét: ô nhiễm không khí và nước ngày càng nghiêm trọng; khai thác quá mức lao động giá rẻ; bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng; tỷ lệ tội phạm gia tăng. Theo một cuộc điều tra của Trung Quốc năm 2003, ít nhất một nửa số công ty ở Thâm Quyến nợ lương nhân viên và ít nhất 1/3 công nhân Trung Quốc nhận lương ít hơn mức lương tối thiểu. Tỷ lệ lao động bỏ việc là trên 10%. Chỉ tính riêng năm 2006, giới công nhân ở Thâm Quyến đã tiến hành hơn 10.000 cuộc đình công dù không có công đoàn độc lập nào. Quảng Đông cũng là nơi có tỷ lệ tử vong trong giới công nhân rất cao[15].

Tại Trung Quốc, sau nhiều năm, mô hình phát triển cũng như những hệ lụy từ đặc khu kinh tế trở thành mối quan tâm rộng rãi. Năm 1996, Thủ tướng Lý Bằng tuyên bố các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước sẽ không còn có thể nhập khẩu nguyên liệu miễn thuế và không được hưởng thuế suất thấp bất thường như vậy trong 5 năm tiếp theo. Điều này đồng nghĩa với việc yếu tố "đặc biệt" của mô hình "đặc khu" bị loại bỏ[16].

Đối với Việt Nam, Bộ Tài chính cũng đưa ra quan điểm các nội dung ưu đãi về thuế, phí khác nên ở mức vừa phải. Do các đơn vị HC-KT đặc biệt lần đầu tiên được hình thành tại Việt Nam, việc quy định mức độ ưu đãi về thuế cao quá ngay từ ban đầu, không cân nhắc đến tính phù hợp với bản chất của sắc thuế cũng như năng lực quản lý của cơ quan nhà nước tại đặc khu có thể “sẽ tác động ngược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường” của các đặc khu này[17].

Bởi vậy, yêu cầu đặt ra là cần thận trọng trong việc đề xuất các chính sách ưu đãi vượt trội cho các đơn vị HC-KT đặc biệt để hiện thực hóa các ngồn lực đầu tư và mang lại những hiệu quả như mong đợi.

Kết luận

Các cơ chế chính sách đặc thù, có tính đột phá được đề xuất áp dụng cho các đơn vị HC-KT đặc biệt cần phải được đánh giá tác động một cách toàn diện, khoa học, khách quan về kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh. Mục tiêu đặt ra là cần phải xây dựng hệ thống các chính sách ưu đãi phù hợp với thông lệ quốc tế và các yêu cầu của thị trường; nhằm bảo đảm thu hút đầu tư, phát huy tác dụng thiết thực, dự trù và giảm thiểu những hạn chế thường gặp của các đặc khu kinh tế trên thế giới.

Kinh nghiệm của các đặc khu kinh tế thành công của châu Á là những ví dụ hết sức thiết thực để các đơn vị HC-KT đặc biệt của Việt Nam vừa học hỏi được từ mô hình kinh tế, lại vừa có thể cạnh tranh được với đặc khu này. Trong bối cảnh các đơn vị HC-KT đặc biệt của Việt Nam ra đời sau các đặc khu trên thế giới, càng đòi hỏi pháp luật Việt Nam ban hành nhiều chính sách ưu đãi thu hút mạnh mẽ và hợp lý hơn, để có thể đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới./.

 


Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10, kỳ 2 tháng 5/2018


[1] Khoản 9 Điều 70, Khoản 4 Điều 96, Khoản 1 Điều 110, Khoản 2 Điều 111 của Hiến pháp 2013.

[2] Hồng Loan, Từ luật riêng đến luật chung, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 12/04/2017.

 

[3] Vĩnh Cẩm, Những thành phố lột xác: Thâm Quyến đi lên từ làng chài, Báo Sài gòn Đầu tư tài chính, ngày 22/6/2017.

[4] Nguyễn Thị Thoa, Kinh nghiệm của Thâm Quyến (Trung Quốc) trong thu hút FDI phục vụ phát triển đô thị - Bài học rút ra cho thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Phát triển KT-XH Đà Nẵng, số 48/2013, trang 58-63.

[5] Trích tham luận của GS.TS Đào Nhất Đào, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu đặc khu kinh tế, Đại học Thâm Quyến, Trung Quốc tại Hội thảo khoa học quốc tế về phát triển đặc khu kinh tế - Kinh nghiệm và cơ hội, Quảng Ninh, 20-21/3/2017.

[6] Theo GS. Võ Đại Lược - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới. Nguồn: Nguyễn Mạnh, Làm đặc thu kinh tế: đừng làm “tổ chim sẻ” đón “phượng hoàng”, Báo mới.com, 17/8/2017.

[7] Thu Anh, “Thỏi nam châm” Incheon, Báo điện tử Chính phủ, ngày 25/4/2015.

 

[8] PGS.TS Bùi Tất Thắng, Vấn đề xây dựng đặc khu kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa, tham luận tại Hội thảo về phát triển Đặc khu Kinh tế - Kinh nghiệm và cơ hội, do tỉnh Quảng Ninh phối hợp cùng Đại học Thâm Quyến, Trung Quốc tổ chức, ngày 20-21/3/2014.

[9] Nguồn: Đặc khu Kinh tế Iskandar trở thành vùng phát triển nhanh nhất ở Ma-lai-xi-a, Trang tin CRI tiếng Việt, ngày 28/12/2016.

[10] Hoa Thiên, Có một Singapore “trong lòng” Malaysia, Báo Thể thao văn hóa, ngày 22/9/2012.

[11] Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về xây dựng, phát triển và quản lý mô hình đặc khu kinh tế, đặc khu hành chính và các mô hình tương tự khác, ngày 22/6/2017.

[12] PGS.,TS Bùi Tất Thắng, Vấn đề xây dựng đặc khu kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa, tlđd.

[13] Bạch Dương, Nhìn nhận lại vai trò của ưu đãi đầu tư, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 28/6/2014.

[14] Mức ưu đãi chỉ kém ưu đãi về thuế đối với các Đặc khu kinh tế Dubai, Đảo British Virgin và Đảo Cayman, nơi được mệnh danh là các thiên đường thuế và có thể chế chính trị khác Việt Nam.

[15] Vũ Mạnh - Phương Thảo, Đặc khu kinh tế Trung Quốc: Hào quang và nước mắt ở Thâm Quyến, Trang Tri thức trực tuyến, 15/8/2017.

[16] Vũ Mạnh - Phương Thảo, tlđd.

[17] Lương Bằng, Bộ Tài chính không muốn ưu đãi quá cao cho các đặc khu kinh tế, Vietnamnet, ngày 28/8/2017.

Nguyễn Thúy Hà, ThS. Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Khoa học lập pháp, Viện Nghiên cứu Lập pháp.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Phòng, chống rửa tiền qua các tổ chức tín dụng theo pháp luật của Hoa Kỳ, Singapore và những gợi mở cho Việt Nam (09/07/2018)
Pháp luật và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Liên bang Nga và những nội dung Việt Nam có thể tham khảo (20/06/2018)
Quốc hội các nước với việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) (13/06/2018)
Pháp luật của Trung Quốc và Nhật Bản về ô nhiễm không khí và một số nhận xét, so sánh với pháp luật Việt Nam (22/05/2018)
Tổ chức đơn vị hành chính lãnh thổ ở Liên bang Nga hiện nay (18/04/2018)
Xác định người đại diện của pháp nhân trong tố tụng hình sự Pháp và một vài gợi ý trong tố tụng hình sự của Việt Nam (06/04/2018)
Tổ chức đơn vị hành chính lãnh thổ ở Liên bang Nga hiện nay (18/04/2018)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân