Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 19/09/2018, 17:43(GMT+7)
 
Kinh nghiệm hoạt động dân cử

Tăng cường hoạt động giám sát giải quyết tố cáo của Quốc hội góp phần bảo đảm quyền tố cáo của công dân
Tăng cường hoạt động giám sát giải quyết tố cáo của Quốc hội góp phần bảo đảm quyền tố cáo của công dân
Ảnh minh họa: Internet

Tóm tắt: Quốc hội là chủ thể thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và với công tác giải quyết tố cáo hành chính nói riêng. Việc giám sát bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội v giải quyết tố cáo được thực hiện đúng đắn; đồng thời góp phần bảo đảm thực hiện quyền tố cáo của công dân.

Từ khóa: giám sát, giải quyết tố cáo, Quốc hội, bảo đảm quyền tố cáo

Abstract: The National Assembly of Vietnam has authority of the supreme supervision of all activities of the state apparatus in general and the settlement of administrative denunciations in particular. It is required that the supreme supervision is to ensure the Constitution, laws and of the National Assembly’s resolutions on settlement of denunciations are properly enforced; at the same time, it is to contribute to the realization of citizens' right of denounce.

Keywords: supervision; settlement of administrative denunciations; National Assembly; assurance of denounce right

 

 

1. Khái quát về hoạt động giám sát giải quyết tố cáo

Quyền tố cáo của công dân được ghi nhận lần đầu tiên tại Hiến pháp năm 1959. Các Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013 tiếp tục kế thừa và ghi nhận quyền tố cáo của công dân theo hướng ngày càng mở rộng, tạo điều kiện tốt nhất cho công dân thực hiện quyền này, trong đó xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo đảm thực hiện quyền tố cáo của công dân.

Giám sát công tác giải quyết tố cáo được hiểu là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quản lý nhà nước về tố cáo; trong tiếp công dân, xử lý đơn thư tố cáo; trong kiểm tra, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và quyết định giải quyết, xử lý của người giải quyết tố cáo theo thẩm quyền.

Giám sát là điều kiện, tiền đề cần thiết cho việc củng cố kỷ luật, kỷ cương, pháp chế và trật tự xã hội. Nếu như hoạt động kiểm tra, thanh tra có mục đích phát hiện và xử lý vi phạm thì hoạt động giám sát là đưa ra các khuyến cáo, cảnh báo, góp phần cải thiện trạng thái và hoạt động của cơ quan nhà nước. Hoạt động giám sát trong bảo đảm quyền tố cáo của công dân cũng nhằm mục đích khuyến cáo, cảnh báo đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để quyền tố cáo của công dân được thực thi trên thực tế, đóng vai trò là một phương thức kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp trong lĩnh vực giải quyết tố cáo, góp phần thúc đẩy việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời hoạt động này cũng góp phần hoàn thiện pháp luật và dân chủ trong đời sống xã hội[1].

Ở Việt Nam, hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật về tố cáo, giám sát việc bảo đảm thực thi quyền tố cáo được thực hiện bằng ba phương thức chủ yếu là giám sát chính trị, giám sát nhà nước và giám sát của xã hội. Giám sát chính trị là hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng lãnh đạo hoạt động của bộ máy nhà nước. Đảng đề ra đường lối, chủ trương về bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền tố cáo nói riêng để Nhà nước thể chế hóa trong hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện trên thực tế, đồng thời Đảng còn kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện các đường lối, chủ trương đó. Giám sát nhà nước là hoạt động giám sát được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, mang tính chất thực thi quyền lực nhà nước. Hoạt động giám sát nhà nước luôn được quy định chặt chẽ bởi luật pháp và thường ở tầm quy định cao nhất là Hiến pháp. Chủ thể có chức năng giám sát nhà nước về bảo đảm quyền tố cáo rất đa dạng, có thể là cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó đặc biệt quan trọng là giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và giám sát của các cơ quan hành chính cấp trên thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra trách nhiệm công vụ của cơ quan hành chính cấp dưới. Trong hệ thống giám sát nhà nước, quyền giám sát tối cao của Quốc hội đóng vai trò quan trọng nhất. Giám sát của xã hội đối với việc bảo đảm quyền tố cáo, là hoạt động giám sát không mang tính chất thực thi quyền lực nhà nước, đây là một phần trong cơ chế xã hội bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân.

Hiện nay, pháp luật quy định trách nhiệm giám sát giải quyết tố cáo để bảo đảm thực thi quyền tố cáo của công dân thuộc về các chủ thể sau: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ban của HĐND, đại biểu HĐND; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận[2].

Công tác giám sát giải quyết tố cáo có mục đích chính là đánh giá hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện pháp luật v giải quyết tố cáo, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức, tiến hành thực hiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết tố cáo. Chính vì vậy, tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan có chức năng giám sát trong công tác giải quyết tố cáo hành chính, đặc biệt là Quốc hội luôn là một yêu cầu khách quan.

Chức năng giám sát của Quốc hội được quy định tại Hiến pháp năm 2013 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015. Theo đó, Quốc hội là chủ thể thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và với công tác giải quyết tố cáo hành chính nói riêng. Việc giám sát này nhằm bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội v giải quyết tố cáo được thực hiện đúng đắn; bảo đảm trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong công tác giải quyết tố cáo. Ngoài hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, việc giám sát của Quốc hội còn được thực hiện bởi UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.

2. Thực trạng giám sát giải quyết tố cáo của Quốc hội

Trong thời gian qua, hoạt động giám sát công tác giải quyết tố cáo của Quốc hội, UBTVQH, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội (giám sát của Quốc hội) đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về việc xem xét các báo cáo giải quyết tố cáo: Quốc hội đã xem xét các báo cáo của Chính phủ v việc giải quyết tố cáo của công dân; báo cáo công tác và báo cáo kết quả giám sát v công tác giải quyết tố cáo của các cơ quan của Quốc hội và một số báo cáo của các cơ quan có liên quan khác trình Quốc hội. Các cơ quan của Quốc hội đã tiến hành thẩm tra; UBTVQH xem xét, cho ý kiến tại ít nhất một phiên họp trong năm. Quốc hội thảo luận, xem xét các báo cáo v công tác giải quyết tố cáo một cách nghiêm túc, dân chủ, thẳng thắn, bảo đảm đúng quy định; đưa ra những nhận định đúng đắn, kịp thời, sát thực tế. Đồng thời, các đại biểu Quốc hội và Uỷ ban Pháp luật đã đ xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tố cáo như: rà soát những tồn tại, bất cập của chính sách pháp luật, nhất là pháp luật v đất đai, tài nguyên, môi trường, quản lý tài sản của Nhà nước và một số lĩnh vực khác có phát sinh nhiu khiếu nại, tố cáo; bảo đảm hài hòa lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước khi thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần hạn chế nguyên nhân phát sinh tố cáo…

Thứ hai, hoạt động giám sát chuyên đ v giải quyết tố cáo: Quốc hội đã thành lập nhiều Đoàn giám sát việc giải quyết tố cáo của công dân thuộc thẩm quyn của cơ quan hành chính nhà nước trong phạm vi cả nước. Theo đó, các đoàn được thành lập trực tiếp giám sát tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan tiếp công dân của Trung ương tại một số tỉnh, làm việc tại một số Bộ về việc tiếp nhận đơn thư tố cáo, giải quyết tố cáo.

Trong năm 2017, UBTVQH đã ban hành Nghị quyết 336/NQ-UBTVQH14 về giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Quốc hội năm 2017 trong đó giao Trưởng ban Dân nguyện thuộc UBTVQH làm Trưởng đoàn giám sát. Đoàn giám sát đã làm việc với một số bộ, ngành và 08 địa phương về việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo do Quốc hội chuyển đến[3].

Sau giám sát, Quốc hội đã ban hành những nghị quyết liên quan v các vấn đ đã giám sát, giúp Chính phủ có những điu chỉnh phù hợp trong công tác chỉ đạo, điu hành, khắc phục những hạn chế, bất cập, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước v công tác giải quyết tố cáo.

Thứ ba, về hoạt động chất vấn công tác giải quyết tố cáo: Quốc hội đã dành thời gian trong các kỳ họp để tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn v các vấn đ kinh tế - xã hội trong đó có công tác giải quyết tố cáo. Nội dung chất vấn tập trung vào nhóm những vấn đ bức xúc được đại biểu và cử tri quan tâm phản ánh qua các đơn thư tố cáo. Việc chất vấn được tiến hành công khai, dân chủ, thẳng thắn. Sau chất vấn Quốc hội ban hành nghị quyết và yêu cầu báo cáo việc thực hiện các nội dung mà người trả lời chất vấn đã cam kết tại các kỳ họp, bước đầu đã tạo cơ chế ràng buộc trách nhiệm của người trả lời chất vấn.

Thứ tư, việc các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của UBTVQH, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tiếp nhận đơn, thư tố cáo. Đây là hoạt động diễn ra thường xuyên hàng ngày của Quốc hội. Sau khi nhận đơn thư của công dân, các cơ quan của Quốc hội tiến hành phân loại và chuyển tới các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Trong năm 2017, Quốc hội nhận được tổng số 42.855 đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân. Sau khi nghiên cứu, xem xét, đã chuyển 7.121 đơn đủ điều kiện xử lý tới các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, đạt tỷ lệ 48,01% (tăng so với cùng kỳ 1.661 văn bản chuyển), đã nhận được 3.591 văn bản trả lời, đạt tỷ lệ 50,43% (tăng so với cùng kỳ năm trước 100 văn bản). Trong đó đơn tố cáo chủ yếu là đối với cán bộ, công chức vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng đất đai, quản lý tài chính, ngân sách và trong giải quyết khiếu nại, tố cáo[4].

3. Những hạn chế trong việc giám sát giải quyết tố cáo của Quốc hội

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác giám sát giải quyết tố cáo của Quốc hội vẫn còn những hạn chế nhất định, cụ thể:

Thứ nhất, hoạt động giám sát việc giải quyết tố cáo của Quốc hội còn chưa thường xuyên, chủ yếu là giám sát qua báo cáo, ít giám sát vụ việc cụ thể nên kiến nghị giám sát còn chung chung, chưa xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan sau giám sát. Việc xem xét các báo cáo v công tác giải quyết tố cáo của Quốc hội tại kỳ họp chất lượng chưa cao. Các đại biểu Quốc hội mới chỉ tập trung thảo luận, đánh giá v tồn tại, hạn chế trong hoạt động giải quyết tố cáo mà chưa đi sâu làm rõ việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyn hạn v giải quyết tố cáo của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyn theo quy định pháp luật. 

Thứ hai, hoạt động giám sát chuyên đ v công tác giải quyết tố cáo chưa thể hiện rõ trách nhiệm, nội dung, thời gian yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát giải quyết, xử lý, khắc phục dứt điểm những hạn chế, bất cập đã phát hiện trong quá trình giám sát để có điu kiện theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện. Nhiu đoàn giám sát chuyên đề về giải quyết tố cáo chưa có những kiến nghị cụ thể v ban hành hoặc sửa đổi chính sách v giải quyết tố cáo, bảo vệ người tố cáo hoặc báo cáo Quốc hội việc xử lý cá nhân, tập thể có sai phạm trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước vcông tác giải quyết tố cáo và thực hiện hoạt động giải quyết tố cáo.

Thứ ba, hoạt động chất vấn liên quan đến giải quyết tố cáo chưa có chế tài bắt buộc thực hiện sau khi chất vấn đối với các cá nhân có trách nhiệm trong việc quản lý, giải quyết tố cáo. Đồng thời, việc theo dõi, giám sát các vấn đ đã chất vấn chưa được thực hiện triệt để.

Thứ tư, việc gắn kết giữa hoạt động tiếp công dân, xử lý đơn thư với giám sát giải quyết tố cáo còn chưa chặt chẽ, chưa thực sự quan tâm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau hoạt động giám sát, chưa quyết liệt trong việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại và giám sát cho đến khi giải quyết dứt điểm vụ việc nên hiệu lực, hiệu quả giám sát còn hạn chế[5].

 Những hạn chế trên xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

Một là, các đại biểu Quốc hội thiếu căn cứ để đánh giá các báo cáo công tác giải quyết tố cáo, năng lực, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo do đến nay chưa có quy định về các tiêu chí bắt buộc trong báo cáo giải quyết tố cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Hai là, việc chất vấn về những vấn đề liên quan đến tố cáo và giải quyết tố cáo chưa thực sự sôi nổi; trách nhiệm giải trình, cam kết thực hiện lời hứa của người trả lời chất vấn chưa được xác định rõ.

Ba là, hiện chưa có văn bản pháp luật quy định ràng buộc về trách nhiệm hay chế tài xử lý cụ thể đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo khi không thực hiện hoặc thực hiện chậm, thực hiện không đầy đủ các kết luận, kiến nghị giám sát về tố cáo của cơ quan tiến hành giám sát nên hiệu quả giám sát chưa cao.

Bốn là, các Đoàn đại biểu Quốc hội chủ yếu do đại biểu chuyên trách tại địa phương đảm nhiệm nên ít có điu kiện đi sâu nghiên cứu, giám sát giải quyết tố cáo. Ngoài ra, một số đại biểu Quốc hội lại là người đứng đầu cơ quan ở địa phương, là cơ quan bị giám sát nên đôi khi cũng ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan trong việc xác định các nội dung giám sát của Đoàn. Bên cạnh đó, năng lực, trình độ của cán bộ giúp việc tại các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công tác tiếp công dân và việc nghiên cứu, tham mưu xử lý đơn tố cáo.

4. Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát giải quyết tố cáo của Quốc hội

 Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát công tác giải quyết tố cáo của Quốc hội, xin kiến nghị thực hiện những biện pháp sau: 

Một là, hoàn thiện pháp luật v hoạt động giám sát của Quốc hội. Việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội đòi hỏi:

Cần quy định chế tài xử lý đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc báo cáo, cung cấp hồ sơ, tài liệu không đúng, không đầy đủ, kịp thời về các nội dung giám sát liên quan đến hoạt động giải quyết tố cáo cho cơ quan giám sát; chế tài xử lý đối với cá nhân không thực hiện các kiến nghị của chủ thể giám sát... Đây thực chất là việc xây dựng cơ chế bảo đảm thực hiện quyền giám sát của Quốc hội nói chung để hoạt động giám sát tăng tính hiệu lực, hiệu quả.

Cần quy định cụ thể về yêu cầu đối với kết luận giám sát giải quyết tố cáo, trách nhiệm của chủ thể giám sát v kết luận giám sát; quy định cụ thể về thẩm quyn và trách nhiệm của các Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc giám sát giải quyết tố cáo, kiến nghị của công dân; quy định rõ cơ chế giám sát giải quyết tố cáo đối với những đơn tố cáo ngoài địa phương gửi đến.

Cần phân định rõ thẩm quyền của các chủ thể giám sát công tác giải quyết tố cáo giữa các quan của Quốc hội về nội dung và hình thức giám sát: giám sát báo cáo công tác giải quyết tố cáo; giám sát thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn; giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến trong kỳ họp Quốc hội, giám sát chuyên đ v giải quyết tố cáo.

Hai là, đổi mới nội dung, phương thức, trình tự thủ tục giám sát giải quyết tố cáo của các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc UBTVQH, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội về giám sát giải quyết tố cáo. Theo đó, hoạt động giám sát giải quyết tố cáo cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm; đối tượng, nội dung giám sát tập trung vào trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cơ quan quản lý nhà nước v tố cáo thông qua phương thức chất vấn, giải trình trước Quốc hội, UBTVQH.

Ba là, cần nâng cao năng lực, ý thức trách nhiệm của các chủ thể giám sát thuộc Quốc hội trong việc giám sát giải quyết tố cáo qua việc tập huấn kiến thức, kỹ năng về giám sát, pháp luật tố cáo và bảo đảm quyền tố cáo...  cho cán bộ, công chức làm công tác giám sát; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, theo đó cán bộ giám sát phải có bản lĩnh và không ngại va chạm, nể nang.

Bốn là, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan có chức năng giám sát công tác giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật, bao gồm Quốc hội, HĐND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Năm là, kết hợp công tác tiếp công dân của các cơ quan thuộc Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội với tổ chức các hoạt động giám sát công tác giải quyết tố cáo. Việc này giúp cho hoạt động giám sát đúng trọng tâm, trọng điểm, đúng địa chỉ cần giám sát, không trùng lặp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tố cáo, bảo đảm quyền tố cáo của công dân.

Sáu là, Quốc hội cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu về tiếp công dân, xử lý đơn thư dùng chung cho các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội để tạo điều kiện cho việc theo dõi, tra cứu, phân loại, xử lý đơn thư hiệu quả hơn, tránh trùng lặp.

Tố cáo là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức; giải quyết tố cáo có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Giám sát giải quyết tố cáo giúp tăng cường sự tham gia của người dân trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của tập thể và Nhà nước, đồng thời là cách thức để đảm bảo quyền tố cáo của công dân. Do đó, việc nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan có chức năng giám sát trong công tác giải quyết tố cáo, đặc biệt là vai trò của Quốc hội là một yêu cầu khách quan đang đặt ra hiện nay, phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyn XHCN./.

 



[1] Trần Văn  Long, Nâng cao hiệu quả công tác giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính ở nước ta, http://mt.gov.vn/thanhtra/tin-tuc/1158/52950/nang-cao-hieu-qua-cong-tac-giam-sat-giai-quyet-khieu-nai--to-cao-hanh-chinh-o-nuoc-ta--.aspx.

[2] Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, Luật Mặt trận Tổ quốc năm 2015, Luật Tố cáo năm 2011.

[3] Báo cáo 202/BC-UBTVQH14, ngày 22/10/2017 của UBTVQH về kết quả tiếp công dân, xử lý đơn thư và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Quốc hội (từ 16/8/2016 đến 15/8/2017).

[4] Báo cáo 202/BC-UBTVQH14, ngày 22/10/2017, (tlđd).  

[5] Báo cáo số 1065/BC-UBTVQH13 ngày 20/3/2016 của UBTVQH về tổng kết hoạt động của UBTVQH nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (2011- 2016).

 

 Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 13/2018

ThS. Đặng Thị Kim Ngân - Phó Vụ trưởng, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Hoàn thiện các quy định của Luật Thuơng mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ Luật Dân sự năm 2015

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Vai trò của Quốc hội trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc

Quyền được tiếp cận thông tin và quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Một số vấn đề về thời điểm đặc xá

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân