Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 17/10/2017, 22:49(GMT+7)
 
Kinh nghiệm hoạt động dân cử

Làm luật ở Quốc hội: Từ quan niệm đến kỹ năng

Theo Hiến pháp và pháp luật nước ta, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Tuy nhiên, hiểu thế nào về quy định này? Phải chăng Quốc hội làm hết từ A đến Z? Hay là Chính phủ làm phần “thô”, Quốc hội làm phần “tinh”? Từng cá nhân đại biểu Quốc hội có thể làm gì trong quy trình làm luật ở Quốc hội?

Để trả lời những câu hỏi này, trước hết có lẽ cần xuất phát từ việc tìm hiểu quan niệm về pháp luật và làm luật. Pháp luật là sự điều chỉnh các quan hệ, hành vi giữa các chủ thể trong xã hội với nhau, và công quyền là một chủ thể như vậy. Người dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, quyền lực công chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Nhưng trong tương quan giữa người dân và nhà nước, dĩ nhiên người dân chỉ là anh chàng bé tí tẹo trước bộ máy công quyền khổng lồ, đầy sức mạnh. Vì vậy, pháp luật nhằm hai mục đích: một mặt, kiểm soát và hạn chế quyền lực công; mặt khác, bảo vệ các quyền của người dân để các giao dịch luôn thông suốt. Giống như tín hiệu giao thông, một mặt, pháp luật hạn chế hành vi của các chủ thể liên quan và phòng ngừa những hành động không được mong muốn, tránh xảy ra sự hỗn độn (chức năng “đèn đỏ” của luật). Mặt khác, pháp luật tạo điều kiện cho các hoạt động, giao dịch trong xã hội diễn ra được dễ dàng, suôn sẻ (chức năng “đèn xanh” của luật).

Muốn dung hoà hai mục đích tưởng như trái nhau này để điều hoà dòng chảy của cuộc sống, làm lợi cho cư dân hai bên bờ, người làm luật buộc phải thăm dò, quan sát, nghiên cứu kỹ dòng chảy đó. Và mọi việc đều phải lộ thiên dưới ánh sáng của sự minh bạch để báo chí, các tổ chức dân sự và cả xã hội có thể theo dõi đường đi nước bước của việc làm luật. Cũng xuất phát từ quan niệm về pháp luật nói trên, công quyền muốn được làm cái gì đó, buộc phải có quy định của pháp luật. Do đó, động lực làm luật hầu như xuất phát từ các cơ quan công quyền, và thống kê trên thực tế cho thấy, đại đa số các dự luật ở các nước (khoảng 80-90%) là do các cơ quan chính phủ soạn thảo và đệ trình sang Quốc hội. Nhưng nếu như thế, nguy cơ lạm quyền rất lớn, vì sự cám dỗ “cài cắm” quyền lợi khi soạn luật ở đâu mà không có. Vì vậy, cần phải có một thiết chế khác canh chừng, phản biện các sản phẩm của chính phủ, và lúc này cơ quan đại diện của dân sẽ vào cuộc. Là đầu dây thần kinh của vô số lợi ích trong xã hội, Quốc hội và đại biểu Quốc hội sẽ soi xét các dự luật của chính phủ từ góc nhìn của những lợi ích đó. Nếu Quốc hội thấy dự luật nào xung đột với các lợi ích lớn, chỉ mang lại lợi ích cho một nhóm nhỏ trong xã hội, và chính phủ không chứng minh được điều ngược lại, dự luật đó sẽ không qua được cánh cổng Quốc hội để đi tiếp vào cuộc sống. Toàn bộ công việc soi xét tỉ mỉ về mặt chính sách và kỹ thuật lập pháp này cần được tiến hành ở các uỷ ban, còn phiên họp toàn thể ở hội trường hầu như chỉ bấm nút biểu quyết cho qua hay không mà thôi.

Nói gọn lại, bắt đầu từ quan niệm về pháp luật nói ở trên, quan niệm về vai trò của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong làm luật là: chính phủ có động lực, có nguồn lực thì hãy để chính phủ soạn thảo luật; nhưng từ từ xem đã, nếu Quốc hội thấy không có vấn đề gì về lợi ích thì mới cho qua, vì đây là bổn phận của Quốc hội với tư cách là cơ quan đại diện. Cũng giống như trong xây dựng, thiết kế và thi công do chính phủ làm, giám sát do Quốc hội và đại biểu Quốc hội làm. Nếu giám sát mà chặt thì thiết kế và thi công không dám ẩu, không giám “rút ruột”, phải tham vấn rộng khắp.

Vậy thì cá nhân đóng vai trò nào trong quy trình lập pháp này ? Theo các quy định của pháp luật nước ta, cá nhân đại biểu Quốc hội có thể tham gia vào làm luật ở các công đoạn sau: trình dự án luật; tham gia thẩm tra tại Ủy ban; thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội; kiến nghị đưa dự luật vào Chương trình; thảo luận và biểu quyết tại phiên họp toàn thể. Tất nhiên, sẽ là tốt nhất nếu đại biểu Quốc hội có thể tham gia tích cực, hiệu quả vào tất cả các công đoạn này. Nhưng hiện nay đại biểu Quốc hội chưa bao giờ trình dự án luật. Đại biểu Quốc hội cũng chưa tham gia tích cực và tác động đến số phận của một đạo luật tương lai tại giai đoạn thẩm tra ở Ủy ban, mà chủ yếu là thường trực Ủy ban tham gia. Việc thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội cũng mang tính hình thức; cá nhân một đại biểu cũng hầu như không có tiếng nói quyết định trong việc đưa một đạo luật vào Chương trình. Như vậy, cá nhân đại biểu Quốc hội mặc dù được trao quyền nhiều trong các công đoạn làm luật, nhưng trên thực tế hầu như chưa thực hiện được.

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận làm luật theo quan niệm phản biện chính sách lập pháp nói trên, cơ hội lớn nhất cho đại biểu Quốc hội có thể tác động lên kết quả quá trình làm luật là khi thảo luận và bấm nút thông qua, nhất là khi bấm nút thông qua. Trong thời khắc đó, trong đầu mỗi đại biểu Quốc hội có lẽ sẽ xuất hiện những câu hỏi như: Đại biểu dân cử có thể làm gì để nhận biết lợi ích của cử tri khi làm luật? Để thương lượng, tìm lời giải chung thỏa đáng khi làm luật? Để hiểu ý đồ của các ban soạn thảo luật, để tìm ra tác động của dự luật đối với cử tri và phản biện dự luật? Để giúp lan rộng tư duy phục vụ người dân sang các lĩnh vực pháp luật công, chẳng hạn như đăng ký tài sản, bảo đảm tự do, bảo đảm sở hữu? Sau khi đã cân nhắc những câu hỏi như thế, đại biểu Quốc hội có thể sử dụng quyền to nhất của mình- quyền “gật” và “lắc”- để quyết định về dự luật.

Cuối cùng, để có thể tham gia hiệu quả vào quá trình làm luật, đại biểu Quốc hội cần đến nhiều kỹ năng đặc thù. Đó là: kỹ năng đọc và hiểu các vấn đề kỹ thuật và chính sách của một dự luật; kỹ năng đánh giá một dự luật; kỹ năng phân tích chính sách một dự luật, trong đó có phương pháp đánh giá tác động của một dự luật tương lai; kỹ năng tham vấn các nhóm đối tượng sẽ chịu ảnh hưởng của đạo luật; kỹ năng thu thập ý kiến các giới về dự luật; kỹ năng tranh luận về một dự luật tại phiên họp...Trong số những kỹ năng này, xuất phát từ vai trò đại diện và quan niệm, vai trò làm luật của Quốc hội và đại biểu Quốc hội nói trên, có thể kỹ năng tham vấn và phản biện là quan trọng nhất. Bởi lẽ tham vấn để nhận biết dự luật nào có thể thông qua, dự luật nào chưa thể thông qua, và phản biện để chứng minh, thuyết phục Chính phủ và hoặc chủ thể khác trình dự luật thấy dự luật đó đúng là chưa nên thông qua, mà cần tiếp tục hoàn thiện, và cần hoàn thiện theo hướng nào.

Nguồn: www.ttbd.gov.vn                           

 

Nguyên Lâm
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân