Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 12/02/2012, 06:32(GMT+7)
 
Kinh nghiệm hoạt động dân cử

Kỹ năng thương lượng trong hoạt động của đại biểu dân cử

Thương lượng/thương thuyết là quá trình đòi hỏi phải có hai hoặc hơn hai bên đồng ý ngồi cùng nhau trao đổi để có những quyết định, trong đó các bên đều sẵn sàng chung sống với quyết định đó dù rằng không phải lúc nào cũng đạt được mức độ thoả mãn như nhau.

 Tại sao đại biểu dân cử cần kỹ năng này?

Thương thuyết của đại biểu dân cử được coi là một phần của quá trình thảo luận, phát biểu, chất vấn…; thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, quan hệ giữa cơ quan dân cử và các cơ quan khác trong bộ máy chính quyền là mối quan hệ phân công, phối hợp trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Đại biểu khi thực thi nhiệm vụ đại biểu cũng là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước.

Quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước không thể không có những yêu cầu, thậm chí là những mâu thuẫn giữa những chủ thể khác nhau khi thực hiện chức năng nhiệm vụ được phân công. Điều đó đòi hỏi các chủ thể phải bàn bạc với nhau để tìm ra cách giải quyết yêu cầu, mâu thuẫn một cách tốt nhất và nhanh chóng nhất.

Thứ hai, đại biểu là người đại diện cho các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội. Hoạt động của các đại biểu chính là việc đại biểu đại diện cho các nhóm lợi ích khác nhau tiến hành thương lượng, “mặc cả” để thống nhất đưa ra các chính sách, pháp luật.

Thứ ba, hoạt động của cơ quan dân cử dựa trên nguyên tắc quyết định theo đa số. Vì vậy nếu quan điểm mà đại biểu nêu ra không được phần lớn các đại biểu khác ủng hộ, tán thành thì cũng đồng nghĩa là đại biểu đó không nhận được sự ủng hộ của cử tri. Để giành được sự ủng hộ của cử tri và của đại biểu khác, mục tiêu số một của đại biểu dân cử là phải thương lượng, thuyết phục các đại biểu khác nghe theo mình.

Để tranh luận và thuyết phục người khác, bản thân đại biểu, ngoài việc am hiểu sâu sắc lĩnh vực mà mình đưa ra quan điểm, đồng thời phải có kỹ năng thương thuyết nhằm làm cho các đại biểu khác đồng tình với ý kiến phát biểu hoặc chất vấn mà mình đưa ra. Nếu đại biểu có kỹ năng thương thuyết tốt thì sẽ bảo vệ quan điểm, lập luận của mình; tranh thủ được sự ủng hộ của những người đang còn phân vân để vấn đề đưa ra được Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân chấp nhận.

 Những điều cần lưu ý về thương lượng

Trước hết, thư­ơng thuyết bao giờ cũng hàm chứa khía cạnh động cơ. Các bên thương thuyết đều có mục đích chung và riêng (nếu chỉ có mục đích riêng, thì sẽ không thể thương lượng được. Khi các bên đã đồng ý thương thuyết, thì ít nhất là họ cũng có chung mục đích muốn thương lượng.)

Mặc dù cả hai bên đều muốn đạt được thoả thuận phân chia thoả đáng “các lợi ích đang được đánh giá”, như­ng nhìn chung mỗi bên đều muốn giành được càng nhiều càng tốt, hoặc nh­ượng bộ càng ít càng tốt. Th­ương thuyết thành công là phải tránh được càng ít sự oán giận của phía đối tác thương thuyết càng tốt.

Thứ hai, cả hai bên đều là ngư­ời thắng trong cuộc thương lượng (phải nghĩ rằng thương lượng vẫn tốt hơn là không thương lượng, mặc dù có thể kết quả không được như­ mong đợi), hoặc cả hai bên sẽ không đạt được thoả thuận nào. Hai bên đều muốn phía bên đối tác thương thuyết của mình cũng hài lòng với kết quả thương lượng, vì vậy thoả thuận đạt được sẽ được đánh giá cao. Giải pháp “thắng -­ thắng” này còn được các chuyên gia đề cậptới nh­ư là giải pháp “tổng không bằng không”, vì thắng của người này không phải là thua của người kia. Các trư­ờng hợp “thắng ­ thắng’ hay “tổng không bằng không” xuất hiện là vì có một số vật cụ thể được cộng lại rồi lại được chia ra, hoặc là có một số việc “trên bàn thương thuyết” được mỗi bên đánh giá khác nhau, và sẽ có các h­ướng lựa chọn mới sau khi thương thuyết. Chẳng hạn, mỗi bên có thể nh­ợng bộ “những hàng hoá” đối với họ là ít có giá trị hơn cho những ng­ời mà những hàng hoá này có giá trị hơn đối với họ, hoặc có thể đổi một phần giá trị của các mặt hàng hoá này để giữ sự hữu hảo. Các bên thương thuyết đều muốn tìm được giải pháp “thắng ­- thắng”, nghĩa là cả hai bên đều thấy mình có lợi sau khi thương thuyết.

 

Cả đôi bên đều hài lòng

Giả sử HĐND muốn xây dựng một khu đổ rác thải như­ng không còn đủ diện tích đất để làm trong phạm vi thành phố. Điều này có nghĩa là phải tìm địa điểm ở bên ngoài thành phố, nh­ưng các xã lân cận phản đối việc nhận rác thải. Tuy nhiên, HĐND cũng biết rằng, ở một trong số những xã này, ng­ười dân đang kiến nghị các cấp chính quyền phải có một dịch vụ thu nhặt rác thải tốt hơn. Chính quyền thị trấn đó chưa có hư­ớng lựa chọn dịch vụ thu nhặt rác thải tập trung và cũng chư­a có cán bộ chuyên môn nào có đề xuất đệ trình lên chính quyền để giải quyết việc này. Để đơn giản hoá vấn đề, HĐND quyết định chọn địa điểm đó, đổi lại HĐND cũng sẽ quyết định mở rộng dịch vụ thu nhặt rác thải đến xã đó. Cả hai bên đã nhất trí các tiêu chuẩn/ điều khoản về hoạt động đổ rác thải. Thực hiện được điều này sẽ tránh được sự phản đối của ng­ười dân về nơi đổ rác trong xã của họ, và để đổi lại, họ sẽ có được dịch vụ thu nhặt rác thải của thành phố.

Những ngư­ời xem việc thương thuyết là một công việc nghiêm túc cho rằng nhà thương thuyết thành công là ng­ười có khả năng biết chuyển đối tác thương thuyết của mình từ vị trí ban đầu tới vị trí có lợi hơn cho mình.

 Thương lượng trên tình thần hợp tác

Kỹ năng thương lượng của đại biểu thể hiện trước hết ở việc thuyết phục cơ quan nhà nước hình thành chính sách đáp ứng lợi ích của nhân dân, như một đại biểu có nói, “Đại biểu Quốc hội phải biết kiên trì thuyết phục”(Sách Tiếp xúc cử tri- Những câu chuyện kể).  Chẳng hạn, chương trình 135 ra đời là nhờ sự “kiên trì thuyết phục” các bên của ông Cư Hòa Vần Chủ tịch HĐDT QH Khóa IX và một số ĐBQH suốt hàng năm trời.

Những vướng mắc của cử tri có khi chỉ là những trường hợp riêng lẻ, nhưng cũng có thể qua các vụ việc cá biệt để phát hiện những vấn đề có tầm vóc lớn hơn của việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật. Mục tiêu chủ yếu là phải thuyết phục cơ quan có thẩm quyền nhân thức được tính cấp bách của vấn đề mà cử tri kiến nghị; những khập khiễng về thực thi pháp luật, chính sách qua đối chiếu giữa chủ trương và kết quả thực hiện; những tác động bất lợi không đáng có do chính sách gây ra v.v. Từ đó thúc đẩy sự xem xét sửa đổi, bổ sung chính sách đã có hoặc ban hành quy định mới phù hợp hơn; cũng có thể dẫn đến một sự thay đổi phương thức điều hành, quản lý, tổ chức, thực hiện của bộ máy công chức nhà nước.

Muốn vậy, nhiều đại biểu dân cử không chỉ dừng lại ở phương thức chuyển văn bản báo cáo hay gửi công văn kiến nghị là xong, mà đã tìm cơ hội trình bày, giải thích nội dung, phân tích thảo luận cặn kẽ làm sáng tỏ bản chất của những thông tin được cung cấp từ cử tri. Làm được như vậy sẽ đạt được kết quả tốt, giúp cấp có thẩm quyền đưa ra các chủ trương, chính sách đáp ứng lòng mong đợi của người dân.

(Sách : Gắn bó để đại diện cho cử tri, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử, 2010. TS Nguyễn Sĩ Dũng chủ biên). Nguồn: ttbd.gov.vn

Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân