Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 19/02/2018, 09:06(GMT+7)
 
Kinh nghiệm hoạt động dân cử

Đại biểu hội đồng nhân dân với hoạt động tiếp xúc cử tri

 

1. Khái niệm tiếp xúc cử tri

Hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) nào định nghĩa về tiếp xúc cử tri (TXCT), nên trong thực tế đang tồn tại nhiều khái niệm khác nhau, cách hiểu khác nhau về TXCT. Điều này dẫn đến việc xuất hiện những thái độ, cách ứng xử khác nhau đối với hoạt động TXCT. Chúng tôi xin đưa ra một số cách hiểu đang phổ biến hiện nay để cùng trao đổi, với mong muốn có được một khái niệm tương đối hợp lý và phù hợp với pháp luật hiện hành.

Tiếp xúc cử tri là hoạt động thể hiện bản chất của người đại biểu dân cử

Cách hiểu thứ nhất cho rằng, TXCT là hoạt động thể hiện bản chất của người đại biểu dân cử. Theo Từ điển tiếng Việt[1] thì “bản chất là thực chất cơ bản bên trong của sự vật”, bản chất là cái mà chúng ta không thể dùng trực giác để biết được, mà chỉ có thể hiểu được bản chất thông qua các biểu hiện bên ngoài của sự vật, hiện tượng. Đối với hoạt động TXCT, có thể thấy TXCT là hành vi của người đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND), là biểu hiện bên ngoài thể hiện trách nhiệm của người đại biểu. Còn bản chất của người đại biểu dân cử nói chung, theo chúng tôi, đó chính là tính đại diện. Tính đại diện theo người đại biểu trong suốt quá trình thực hiện các nhiệm vụ (pháp lý) của mình. Vì các cử tri đã trao cho đại biểu quyền đưa ra và thực hiện các quyết định trên danh nghĩa của cử tri và nhân dân tại đơn vị bầu ra đại biểu, cho nên mọi hoạt động của đại biểu HĐND đều trên cơ sở là ý chí của đa số nhân dân mà đại biểu là người thay mặt họ trực tiếp thực hiện. Điều 36 Luật Tổ chức HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND) năm 2003 và Điều 1 Quy chế hoạt động của HĐND ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI (sau đây xin gọi tắt là NQ 753) khẳng định: “Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương”. Chúng ta có thể thấy các hoạt động của đại biểu HĐND từ dự kỳ họp, tiếp công dân, TXCT, giám sát đều thể hiện tính đại diện cho quyền lực tập thể của một cộng đồng dân cư nhất định, ví dụ khi tham dự kỳ họp, đại biểu HĐND phải chuyển tải được tâm tư, nguyện vọng của cử tri đến nghị trường từ thảo luận các báo cáo của cơ quan hữu quan đến ban hành nghị quyết của HĐND... Vì vậy, có thể nói chính xác bản chất của đại biểu HĐND là tính đại diện cho nhân dân, còn TXCT là biểu hiện cụ thể bên ngoài của tính đại diện đó mà thôi.

Tiếp xúc cử tri là hoạt động thường xuyên

Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng, TXCT là hoạt động thường xuyên của đại biểu HĐND, chúng tôi xin phân tích dưới hai góc độ như sau:

- Xét về chủ thể TXCT là cá nhân đại biểu HĐND, trong đó có đại biểu chuyên trách và đại biểu không chuyên trách (kiêm nhiệm). Đối với đại biểu kiêm nhiệm, hoạt động thường xuyên của họ là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc nơi mà họ tham gia sản xuất kinh doanh để tạo ra của cải vật chất cho xã hội và có thu nhập cho bản thân. Hoạt động thường xuyên phải là các hoạt động để có thể duy trì cuộc sống cá nhân và tái sản xuất sức lao động. Đối với đại biểu chuyên trách, nhiệm vụ giữa hai kỳ họp HĐND là tổ chức thực hiện các hoạt động thuộc nhiệm vụ của Thường trực HĐND như các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh mà UBND trình tới Thường trực HĐND để giải quyết, tổ chức đoàn giám sát, tổ chức cho đại biểu HĐND tiếp công dân hàng tháng; nghiên cứu, thẩm tra các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết chuẩn bị trình kỳ họp và tổ chức cho đại biểu TXCT. Có thể thấy, đại biểu chuyên trách cũng có rất nhiều công việc phải làm và TXCT chỉ là một trong những công việc diễn ra giữa hai kỳ họp, những hoạt động này được Nhà nước trả lương để đại biểu chuyên trách thực hiện. Như thế, dù là đại biểu kiêm nhiệm hay đại biểu chuyên trách thì công việc thường xuyên giữa hai kỳ họp HĐND cũng không phải là hoạt động TXCT.

- Xét về việc làm thường xuyên có nghĩa là hoạt động đó được diễn ra bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu. Về thời gian: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại biểu HĐND là nhân tố tạo nên cơ quan đó, cho nên đại biểu HĐND và HĐND cũng phải tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh và trong hoạt động TXCT, khi nào pháp luật cho phép TXCT thì đại biểu HĐND mới được TXCT. Điều 38 NQ 753 quy định chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp, chậm nhất là 15 ngày sau ngày bế mạc kỳ họp... đại biểu HĐND TXCT. Nếu đại biểu TXCT trong vòng từ ngày thứ 14 đến ngày khai mạc kỳ họp, và từ ngày thứ 16 trở đi kể từ ngày bế mạc kỳ họp là không đúng pháp luật về thời gian TXCT trước và sau kỳ họp. Như vậy, có những khoảng thời gian mà luật định không cho phép TXCT, thời gian để tổ chức TXCT không liên tục, bị gián đoạn có nghĩa là không thường xuyên, vì thế không phải lúc nào cũng có thể tiến hành TXCT. Về địa điểm: Điều 39 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Điều 38 khoản 1 NQ 753 quy định “Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình”, Điều 38 khoản 4 NQ 753 quy định “Mỗi năm một lần vào cuối năm, kết hợp với việc TXCT, đại biểu HĐND báo cáo với cử tri ở đơn vị bầu ra mình về hoạt động trong năm, nhiệm vụ năm tới của mình và của HĐND”. Có nghĩa là hội nghị TXCT trước và sau kỳ họp, đại biểu HĐND chỉ được TXCT ở các đơn vị đã bầu ra đại biểu mà không được TXCT ở các đơn vị không bầu ra mình. Địa điểm TXCT trước và sau kỳ họp đã được xác định rõ ràng, khống chế ở trong phạm vi địa bàn đã bầu ra đại biểu, do đó không phải bất cứ nơi nào đại biểu HĐND cũng có thể tiến hành TXCT.

Xét cả về không gian và thời gian, ta thấy, không phải lúc nào và nơi nào đại biểu HĐND cũng có thể tiến hành TXCT.

Khái niệm tiếp xúc cử tri

Từ Điều 38 đến Điều 42 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định cho đại biểu HĐND bốn nhiệm vụ chính là dự các kỳ họp, phiên họp của HĐND, cuộc họp Tổ đại biểu, họp Ban nếu đại biểu là thành viên; TXCT; tiếp công dân và giám sát. TXCT chỉ là một trong bốn nhiệm vụ của đại biểu HĐND và trách nhiệm này không thể thoái thác. Điều 41 NQ 753 quy định: “Trong trường hợp không thể TXCT thì đại biểu HĐND báo cáo với Tổ trưởng Tổ đại biểu HĐND”.

Tương tự, Điều 38 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: “Đại biểu HĐND nào không tham dự được kỳ họp phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tịch HĐND. Đại biểu HĐND nào không tham dự được phiên họp phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tọa phiên họp”. Và Điều 5 NQ 753 quy định: “Thành viên Tổ đại biểu HĐND có trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp của Tổ đại biểu, trong trường hợp không thể tham dự được thì phải báo cáo với Tổ trưởng Tổ đại biểu”.

Những quy định này đảm bảo để đại biểu thực hiện trách nhiệm với cử tri đã bầu ra mình, không được né tránh, đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm cá nhân đại biểu với hoạt động TXCT. Đây là việc phải làm của cá nhân đại biểu mà không phải là hoạt động của tập thể HĐND hay Tổ đại biểu HĐND hoặc các Ban HĐND và cũng không thể chuyển (nhờ) đại biểu khác thực hiện thay.

Trách nhiệm TXCT được quy định trong Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và trong NQ 753 có căn nguyên từ khi đại biểu HĐND còn là ứng viên để được bầu làm đại biểu. Ngay trước khi được bầu làm đại biểu HĐND, ứng cử viên coi như đã tự gánh vác trách nhiệm (tự hứa) phải thực hiện TXCT. Điều 3 Khoản 4 Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) đã quy định tiêu chuẩn của đại biểu HĐND là “Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân”. Có nhiều cách để liên hệ với nhân dân, như qua phương tiện thông tin đại chúng, qua đơn thư, qua gặp gỡ hàng ngày và một trong những cách liên hệ với nhân dân, đó chính là TXCT. Vì thế, khi đã trúng cử, đã là đại biểu thì đại biểu HĐND phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm mà mình đã cam kết, và đó là cam kết của cá nhân, không phải lời hứa tập thể (đây là trách nhiệm cá nhân).

HĐND và đại biểu HĐND khi TXCT phải theo trình tự, thủ tục, đảm bảo mời đúng thành phần tham dự, theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết liên tịch số 06/2004/NQLT/UBTVQH11-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 10/9/2004 giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam; ngoài ra còn phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai. Yếu tố tuân theo pháp luật cần phải đưa vào khái niệm về TXCT để thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền và các nguyên tắc khi TXCT. Từ đó, chúng tôi xin đưa ra khái niệm TXCT như sau:

TXCT là một trong những hoạt động của đại biểu HĐND được pháp luật quy định nhằm thu thập ý kiến, kiến nghị, tâm tư và nguyện vọng của cử tri cũng như các vấn đề mà đại biểu quan tâm, đồng thời trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri.

2. Một số vấn đề liên quan đến giới hạn tiếp xúc cử tri

Giới hạn về không gian và việc chuyển sinh hoạt Tổ đại biểu

Như trên đã nêu, TXCT trước và sau kỳ họp phải thực hiện ở đơn vị bầu ra đại biểu HĐND. Điều 4 NQ 753 quy định về Tổ đại biểu HĐND và việc chuyển sinh hoạt Tổ đại biểu đối với đại biểu HĐND: “Khi đại biểu HĐND chuyển công tác hoặc nơi cư trú đến địa phương khác trong cùng đơn vị hành chính cấp đại biểu được bầu, đại biểu đó có thể chuyển sinh hoạt Tổ đại biểu HĐND nơi mình đang sinh hoạt đến Tổ đại biểu HĐND nơi mình công tác hoặc cư trú. Đại biểu HĐND gửi đơn chuyển sinh hoạt Tổ tới Thường trực HĐND. Thường trực HĐND quyết định việc chuyển sinh hoạt Tổ của đại biểu và thông báo tới Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Tổ đại biểu HĐND nơi đại biểu chuyển đi và nơi đại biểu chuyển đến sinh hoạt”.

Việc chuyển sinh hoạt Tổ đại biểu rất đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu trong công tác, sinh hoạt và thực hiện một số nhiệm vụ đại biểu. Tuy nhiên, đối với nhiệm vụ TXCT thì gặp bất cập ở chỗ, nó vi phạm quy định việc đại biểu TXCT ở đơn vị bầu ra đại biểu đó. Nếu đại biểu TXCT ở Tổ đại biểu mới thì các đơn vị ở Tổ mới này không bầu ra đại biểu, nếu TXCT ở đơn vị cũ thì danh sách đại biểu không còn, nên Tổ đại biểu không thể phân công đi TXCT được. Điều 41 NQ 753 quy định “Tổ đại biểu HĐND họp phân công đại biểu tiếp xúc cử tri tại các đơn vị bầu cử”. Vì thế, khi đại biểu chuyển sinh hoạt Tổ thì ở cả nơi mới và nơi cũ đều không có đủ cơ sở pháp lý để tổ chức cho đại biểu HĐND TXCT.

Cơ sở pháp lý để tạo ra Tổ đại biểu HĐND là đơn vị bầu cử (Điều 4 NQ 753), còn nơi cư trú và nơi công tác không phải cơ sở tạo ra Tổ đại biểu, do đó, đại biểu cư trú hay công tác ở đâu đều không ảnh hưởng đến việc tham gia sinh hoạt Tổ. Ví dụ, ông X cư trú ở thành phố N nhưng được bầu làm đại biểu HĐND tỉnh ở huyện V và ông X tham gia Tổ đại biểu ở huyện V (thành phố N và huyện V là hai địa bàn hành chính khác nhau); khi ông X chuyển nơi cư trú về huyện Y thì cũng không có gì khác trong sinh hoạt Tổ đại biểu so với khi ông X đang cư trú ở thành phố N vì huyện Y và huyện V cũng là hai đơn vị hành chính khác nhau. Giả sử cho rằng khi về huyện Y cần chuyển sinh hoạt Tổ về huyện Y để thuận tiện thì cũng đặt ra câu hỏi tại sao khi đang sinh sống ở thành phố N lại không chuyển sinh hoạt Tổ về thành phố ngay sau khi được bầu cho thuận tiện? Rõ ràng nơi cư trú và nơi công tác không phải là căn cứ pháp lý để có Tổ đại biểu, Tổ đại biểu HĐND không lệ thuộc vào việc đại biểu sinh sống hay công tác ở đâu, mà chỉ dựa vào việc đại biểu đã được bầu ở đơn vị bầu cử nào mà thôi. Vì thế, không cần thiết quy định chuyển sinh hoạt Tổ đại biểu khi đại biểu thay đổi nơi cư trú hay nơi công tác do thiếu căn cứ pháp lý là cơ sở tạo ra Tổ đại biểu.

Chúng tôi cho rằng, đây là điểm chưa thống nhất trong NQ 753 và vấn đề này cần được khắc phục để đảm bảo nguyên tắc thống nhất của văn bản QPPL theo quy định tại Điều 3 khoản 1 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008.

Giới hạn về thời gian

Đại biểu HĐND tiến hành TXCT trong khuôn khổ của pháp luật, cho nên cần tuân thủ các quy định về thời giờ làm việc. HĐND và đại biểu HĐND làm việc theo giờ hành chính do UBND tỉnh, thành phố quy định, ngoài thời gian đó là thời gian nghỉ ngơi của đại biểu. Trên thực tế đã có những cuộc TXCT vào thời gian buổi tối, dù vấn đề này hiện chưa có quy định của pháp luật. Tất nhiên, việc đại biểu dành nhiều thời gian cá nhân để thực hiện nhiệm vụ đại biểu là rất đáng trân trọng vì họ đã hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích tập thể, nhưng trong Nhà nước pháp quyền, những việc làm đáng trân trọng đó cũng cần thiết được luật hóa để đảm bảo các nguyên tắc khi TXCT.

Giới hạn về những việc được làm tại hội nghị TXCT

Thông qua hội nghị TXCT, tư tưởng, quan điểm, nhận thức của hai bên được trao đổi với nhau, mỗi bên (đại biểu hoặc cử tri) đều cho và nhận thông tin. Đây là vấn đề cần được quy định trong luật để không ai có thể lợi dụng diễn đàn TXCT để có lời nói, hành vi xâm hại đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đến lợi ích của cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân công dân. Vì đây là nơi để trao đổi thông tin, tương tự như trong hoạt động báo chí và hoạt động xuất bản cũng cần có những quy định dưới hình thức là một văn bản luật để không cho phép thực hiện một số hành vi có khả năng xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân. Những điều không được phép nói và làm tại hội nghị TXCT cần được luật hóa.

Qua những phân tích trên, theo chúng tôi, cần ban hành một đạo luật riêng để điều chỉnh hoạt động TXCT của các vị đại biểu dân cử nói chung, nếu không cũng cần sửa đổi, bổ sung NQ 753 để khắc phục những điểm bất cập đang tồn tại. Một đạo luật hoặc sửa đổi, bổ sung NQ 753 ít nhất cần thể hiện được khái niệm TXCT, chủ thể, đối tượng, trình tự, thủ tục, nội dung, các nguyên tắc và giới hạn TXCT. Những quy định đó sẽ vừa bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân công dân; vừa tạo môi trường thuận lợi, công khai, hợp pháp để cử tri bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị của mình, đồng thời giải quyết được yêu cầu của một cuộc TXCT là thiết thực và hiệu quả./.

      

 

[1] Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng,1998, tr. 28.
 

ThS Nguyễn Hải Dũng - Phó trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh Nam Định
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Mười sự kiện trọng đại trong năm 2017 của Quốc hội Việt Nam

một số vấn đề trong công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lí

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân