Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ tư, 07/01/2009, 01:40(GMT+7)
Diễn đàn

Quyền tiếp cận thông tin và vấn đề phòng, chống tham nhũng
Quyền tiếp cận thông tin (the right to access to information) là một quyền con người được thừa nhận trong pháp luật quốc tế, đồng thời là một quyền công dân được bảo đảm trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Quyền tiếp cận thông tin và Luật Tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin (the right to access to information) là một quyền con người được thừa nhận trong pháp luật quốc tế, đồng thời là một quyền công dân được bảo đảm trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Xét tính chất, có thể coi quyền tiếp cận thông tin nằm trong nội hàm của quyền tự do thông tin - freedom of information. Và quyền tự do thông tin lại nằm trong nội hàm của quyền tự do biểu đạt - freedom of expression (Về vấn đề này, xem thêm Tuyên bố của Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về xã hội thông tin, Giơ-ne-vơ, 12/2003, phần về Quyền được thông tin). Bởi lẽ, nói đến quyền tự do thông tin là nói đến khả năng tìm kiếm, tiếp cận và phổ biến mọi loại thông tin, bất kể chủ thể nắm giữ và có thể cho nhiều mục đích (giải trí, học thuật, chính trị, văn hóa...). Trong khi đó, quyền được tiếp cận thông tin chủ yếu nói đến khả năng tìm kiếm, tiếp cận và phổ biến những thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ, nhằm mục đích thực hiện hoặc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền.

Nhận thức chung cho rằng, có ba yếu tố cấu thành của quyền tự do thông tin nói chung, quyền tiếp cận thông tin nói riêng, bao gồm quyền tiếp nhận thông tin, quyền tìm kiếm thông tin quyền phổ biến thông tin (xem thêm Tường Duy Kiên, Hoàng Mai Hương, Chu Thúy Hằng: Tìm hiểu pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền được thông tin của công dân, tham luận tại Hội thảo Tiếp cận thông tin  Quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt Nam và Đan Mạch, Hà nội, 5-6/10/2006), trong đó:

- Quyền tiếp nhận thông tin hàm ý khả năng chủ thể quyền nhận được những thông tin cần thiết qua các kênh truyền thông công khai, sẵn có mà không cần phải yêu cầu. Quyền này gắn liền với trách nhiệm của chủ thể có nghĩa vụ phải công khai các thông tin và hoạt động của mình một cách thường xuyên. Về phía chủ thể quyền, việc thực hiện quyền này vừa mang tính chủ động vừa mang tính bị động. Về phía chủ thể của nghĩa vụ, việc bảo đảm quyền này cơ bản mang tính chủ động.

- Quyền tìm kiếm thông tin đề cập đến khả năng của các chủ thể quyền được yêu cầu các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp các thông tin mà mình cần hoặc quan tâm trong phạm vi khuôn khổ pháp luật cho phép. Quyền này gắn liền với trách nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể có nghĩa vụ khi có yêu cầu của chủ thể quyền. Về phía chủ thể quyền, việc thực hiện quyền này mang tính chủ động. Về phía chủ thể của nghĩa vụ, việc bảo đảm quyền này cơ bản mang tính bị động.

- Quyền tự do phổ biến thông tin nói về khả năng của chủ thể quyền được truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin với các chủ thể quyền khác, không phân biệt ranh giới hay hình thức phổ biến. Quyền này gắn liền với trách nhiệm của các chủ thể có nghĩa vụ phải tôn trọng, không được ngăn cản quan hệ trao đổi, phổ biến thông tin của các chủ thể quyền. Về phía chủ thể quyền, việc thực hiện quyền này mang tính chủ động. Về phía chủ thể có nghĩa vụ, việc bảo đảm quyền này cơ bản mang tính bị động. 

Trong pháp luật quốc tế, quyền tự do thông tin lần đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (Điều 19, mọi người có quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin...; Điều 21, mọi người có quyền tham gia quản lý đất nước và tiếp cận các dịch vụ công..). Sau đó, quyền này được tái khẳng định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Điều 9 khoản 2 và Điều 14 về quyền được thông tin trong hoạt động tố tụng, Điều 19 khoản 2, quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin...). Bên cạnh hai văn kiện đã nêu, còn nhiều văn kiện pháp luật quốc tế và khu vực khác cũng đề cập trực tiếp và gián tiếp đến quyền này.

Điều cần lưu ý là trong luật quốc tế, quyền tự do thông tin nói chung, quyền tiếp cận thông tin nói riêng không phải là một quyền tuyệt đối (absolute/non-derogable right). Cùng với một số quyền khác (ví dụ, quyền tự do lập hội, tự do báo chí, tự do biểu đạt, biểu tình...), việc thực hiện quyền này phải chịu những giới hạn theo luật định, nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh và trật tự công cộng cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tính chất giới hạn của các quyền này đã được quy định rõ trong Điều 29 của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, các Điều 12, 14, 18, 19, 21, 22 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966...

Mặc dù cách thức và mức độ giới hạn của quyền tự do /tiếp cận thông tin vẫn còn đang được bàn cãi, tuy nhiên, những quy định mang tính nguyên tắc về giới hạn của quyền này trong luật quốc tế cũng đã đủ để triệt tiêu những e ngại của các chính phủ về những nguy cơ với an ninh quốc gia, trật tự an ninh xã hội... xuất phát từ việc để bảo đảm cho việc soạn thảo và ban hành các đạo luật về tự do /tiếp cận thông tin.

Luật Tiếp cận thông tin

Tính đến tháng 12/2006, đã có 75 nước trên thế giới ban hành văn bản pháp luật chính thức về tự do /tiếp cận thông tin, trong đó có 72 văn bản dưới hình thức luật, một văn bản dưới hình thức pháp lệnh và hai văn bản dưới hình thức nghị định (xem: David Banisar and Privacy International, Freedom of Information around the World 2006  A Global Survey of Access to Government Information Laws, tr. 166-168. Gần đây nhất, vào tháng 4/2007, Trung Quốc đã thông qua Pháp lệnh về Công khai thông tin của Chính quyền, đưa số nước có văn bản pháp luật chính thức về lĩnh vực này lên 76). Các luật về lĩnh vực này thường dưới tên gọi luật tự do thông tin, luật về quyền được thông tin hoặc luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi chung là luật tiếp cận thông tin). Qua tìm hiểu pháp luật của một số nước, nhìn chung, luật của các nước về vấn đề này đề cập đến những nội dung cơ bản sau:

- Các quy định về mục đích và nguyên tắc của luật: Thông thường, các yếu tố như bảo đảm tính chất dân chủ của xã hội, sự minh bạch của hệ thống cơ quan nhà nước và chống tham nhũng được coi là những mục đích cơ bản của luật tiếp cận thông tin của các nước. Mặc dù được diễn đạt ở những cách thức khác nhau, nhưng nguyên tắc chung được xác định trong luật tiếp cận thông tin của nhiều nước đó là: người dân có quyền tiếp cận với mọi thông tin, trừ các thông tin thuộc bí mật quốc gia, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh hoặc thông tin trong hoạt động tố tụng mà việc tiết lộ có thể làm ảnh hưởng đến tiến trình hoặc kết quả giải quyết các vụ án.

- Giới hạn của quyền tiếp cận thông tin: Mặc dù có những khác biệt nhất định trong cách diễn đạt, tuy nhiên, nhìn chung luật của các nước về vấn đề này đều xác định quyền tiếp cận thông tin là một quyền con người quan trọng, cần phải ưu tiên bảo đảm, nhưng không phải là một quyền tuyệt đối. Việc thực hiện và hưởng thụ quyền này, tương tự như với nhiều quyền con người khác, phải chịu những hạn chế nhất định, được quy định trong pháp luật. Những yếu tố được xác định làm cơ sở cho việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật của nhiều nước về cơ bản phù hợp với các quy định có liên quan trong pháp luật quốc tế, đó là an ninh quốc gia, an ninh và trật tự công cộng, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác (bao gồm và đặc biệt là quyền bí mật về đời tư).         

- Phạm vi và đối tượng điều chỉnh: Phạm vi của luật chính là giới hạn những quan hệ xã hội mà luật điều chỉnh. Phạm vi điều chỉnh của luật do đó chi phối phạm vi các đối tượng được luật điều chỉnh. Về vấn đề này, trong khi luật tiếp cận thông tin của một số nước điều chỉnh nhiều quan hệ về thông tin liên quan đến nhiều dạng chủ thể (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức xã hội..) thì luật của một số nước khác chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh trong các quan hệ giữa các cơ quan nhà nước và công chúng nói chung (cả pháp nhân tư nhân và công dân). Ngay cả khi cùng thuộc vào trường hợp thứ hai, giới hạn phạm vi điều chỉnh trong luật của các nước cũng ít nhiều khác nhau. Cụ thể, trong khi luật của một số nước bao gồm các quy định về tiếp cận thông tin của tòa án thì luật của một số nước khác không đề cập đến vấn đề này. Trong trường hợp không được quy định trong luật tiếp cận thông tin, vấn đề tiếp cận thông tin của tòa án được nêu trong các luật về tố tụng.

- Cơ chế, trình tự, thủ tục pháp lý để thực hiện quyền tiếp cận thông tin: Đây là nội dung chính trong luật tiếp cận thông tin của tất cả các nước. Nhìn chung, các quy định trong phần này nhằm để bảo đảm cả ba quyền cấu thành của quyền tiếp cận thông tin, bao gồm quyền tiếp nhận, quyền tìm kiếm và quyền phổ biến thông tin, tuy nhiên, hai quyền tiếp nhận và tìm kiếm thông tin được nhấn mạnh hơn. Xét cụ thể, phần này thường bao gồm các quy định về các khía cạnh: (i) Nghĩa vụ công khai hóa và cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước; (ii) Những thông tin không được hoặc hạn chế công khai hóa hoặc cung cấp; (iii) Trình tự, thủ tục yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin và việc đáp ứng; (iv) Lệ phí và miễn lệ phí; (v) Việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của đơn vị /cá nhân chuyên trách; (vi) Khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; (vii) Việc áp dụng các quy định có liên quan của luật khác....

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và phòng, chống tham nhũng

 Thuật ngữ tham nhũng (corruption) bắt nguồn từ tiếng La -tinh "corruptus” có nghĩa là a broken object (tạm dịch: một mục tiêu /mục đích /đối tượng bị làm sai lệch /sai trái).

Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc không đưa ra một định nghĩa nào về tham nhũng, vì điều này trước hết xuất phát từ thực tế là nhận thức về những hành vi được coi là tham nhũng rất khác nhau giữa các quốc gia, vì vậy, nếu đưa ra một định nghĩa về tham nhũng trong một điều ước quốc tế có hiệu lực ràng buộc sẽ khiến nhiều quốc gia lưỡng lự trong việc tham gia công ước (việc này đã từng xảy ra với Công ước về chống khủng bố). Thêm vào đó, về bản chất, tham nhũng là một khái niệm mở, liên tục biến đổi, nên việc đưa ra định nghĩa cố định có thể làm hạn chế những hoạt động phòng chống tham nhũng về sau. Việc áp dụng một cách tiếp cận mô tả (descriptive approach), trong đó không đưa ra những thuộc tính khung cố định, mà chỉ xác định những hình thức tham nhũng cụ thể và không giới hạn sẽ cho phép các quốc gia thành viên Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc có thể đối phó với những hình thức tham nhũng mới có thể xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên, có thể hiểu tham nhũng là việc lạm dụng quyền lực công để thu lợi riêng (the misuse/abuse of public power for private profit - World Bank). Liên hợp quốc và Tổ chức Minh bạch quốc tế (International Transperancy - IT) cũng có cách hiểu tương tự. Theo Chương trình toàn cầu chống tham nhũng của Liên hợp quốc (The UN Global Programme against Corruption) thì tham nhũng là việc làm dụng quyền lực để thu lợi riêng (the abuse of power for private gain), còn IT thì xác định tham nhũng là việc lạm dụng quyền lực được giao để thu lợi riêng (the misuse of entrusted power for private benefit).

Nói về nguyên nhân của tham nhũng, có hai công thức đáng chú ý. Công thức thứ nhất do một nhà nghiên cứu nổi tiếng về vấn đề này tên là Robert Klitgaard đưa ra như sau:

C  = M  + D  +  A

Trong đó: C = Corruption (tức tham nhũng); M = Monopoly (tạm dịch: sự độc quyền); D = Discretion (tạm dịch: sự tự quyết); A = Accountability (tạm dịch: trách nhiệm giải trình).

Công thức kể trên được diễn giải là: Tham nhũng là hậu quả từ sự độc quyền quản lý của các quan chức công cộng có quyền ra quyết định trong bối cảnh thiếu những cơ chế về trách nhiệm giải trình (Xem Tanzi, Vito, Corruption Around the World: Causes, Consequences, Scope and Cures, IMF Staff Papers Vol. 45, No. 4, December 1998, tr.73).

Công thức thứ hai do UNDP đưa ra như sau:

C  = (M  + D)   (A + I + T)

Trong đó: C = Corruption (tức tham nhũng); M = Monopoly (tạm dịch: sự độc quyền);D = Discretion (tạm dịch: sự tự quyết);A = Accountability (tạm dịch: trách nhiệm giải trình); I = Integrity (tạm dịch: sự liêm chính);T = Transparency (tạm dịch: tính minh bạch)

Công thức kể trên được diễn giải là: Tham nhũng là hậu quả của sự thiếu hụt ba yếu tố gồm:  Trách nhiệm giải trình, Sự liêm chính và Tính minh bạch trong bối cảnh tồn tại sự độc quyền quản lý của các quan chức công cộng có quyền ra quyết định (Xem: United Nations Office on Drugs and Crime (UNODC) UN Guide for Anti-Corruption Policies, November 2003, tr.89).

            Có thể nhận thấy, trong các yếu tố được nêu trong hai công thức kể trên, Trách nhiệm giải trình, Sự liêm chính Tính minh bạch đóng vai trò là những cái chốt để kiềm chế và kiểm soát tham nhũng, và cả ba yếu tố này đều liên quan chặt chẽ đến vấn đề tự do /tiếp cận thông tin. Điều dễ hiểu là không thể bảo đảm tính minh bạch, sự liêm chính của hệ thống các cơ quan và công chức nhà nước nếu như công chúng không biết /không được biết về hoạt động của họ. Nói cách khác, minh bạch, liêm chính chỉ có được khi các thông tin về hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước được công khai với công chúng. Tương tự, chỉ khi công chúng được tiếp cận, và qua đó, được biết về hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước thì mới có nhu cầu, yêu cầu đòi hỏi các chủ thể này phải giải trình về những quyết định, hành động, hoạt động của họ. Không có thông tin thì không có yêu cầu về giải trình, và do đó, không đặt vấn đề về trách nhiệm giải trình.

Hầu hết các nghiên cứu gần đây về tham nhũng trên thế giới đều kết luận rằng, khả năng kiểm soát tham nhũng tỷ lệ thuận với mức độ tự do /tiếp cận thông tin của công chúng (Xem: Kaufmann, D.: “Governance and Corruption, World Bank, 2005, Online at: http://www.worldbank.org/wbi /governance/govdata/unofficial; Kaufmann, Daniel: Human Rights and Governance: The Empirical Challenge, Presentation at Human Rights and Development: Towards Mutual Reinforcement Conference, organized by the Ethical Globalization Initiative and the Center for Human Rights and Global Justice, New York University Law School New York, March 1st, 2004). Một trong các yếu tố cấu thành quan trọng nhất của Hệ thống liêm chính quốc gia (National Integrity System tức tập hợp các tiêu chí dùng để khảo sát, đánh giá khả năng kiểm soát tham nhũng của một quốc gia) là mức độ bảo đảm quyền tự do /tiếp cận thông tin của công chúng (Xem: Pope, J. and Transparency International, TI Source Book 2000, Confronting Corruption: The Elements Of A National Integrity System, Berlin/London: Transparency International (TI), 2000, tr.32-33). ở góc độ khác, đa số những yêu cầu cơ bản để cải tổ bộ máy nhà nước nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý và giảm thiểu tham nhũng có liên quan đến việc công khai hóa thông tin của các cơ quan nhà nước, trong đó bao gồm thông tin về tài sản và thu nhập của các ứng cử viên vào các vị trí lãnh đạo các cơ quan nhà nước, công khai hóa kết quả bầu cử, các dự thảo luật, các văn bản pháp luật, nội dung các cuộc thảo luận ở nghị viện, kết quả chống tham nhũng, ngân sách của chính quyền, việc mua sắm tài sản công... (Xem: Kaufmann, D. and Kraay, A.: Governance Matters III: New Indicators for 1996-2002 and Methodological Challenges in Transparency International: Global Corruption Report 2004, tr.45-48).

Sự cần thiết soạn thảo Luật Tiếp cận thông tin ở Việt Nam từ góc độ đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Tham nhũng là căn bệnh của mọi nhà nước, bất kể nhà nước được xây dựng theo thể chế chính trị nào. Bởi vậy, về cơ bản, các liệu pháp điều trị căn bệnh này cũng phải được áp dụng chung cho mọi nhà nước, trong đó liệu pháp về bảo đảm quyền tự do /tiếp cận thông tin.

Thực tế cho thấy, phòng, chống tham nhũng được coi là một yêu cầu đặt ra với mọi nhà nước, bởi tham nhũng tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến sự tồn vong của chính quyền. Tuy nhiên, do bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng được đặt ra nặng nề, cấp thiết và thường xuyên hơn với nhà nước xã hội chủ nghĩa. ở đây, để bảo đảm nhà nước thực sự mang bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa thì mọi cơ quan và công chức nhà nước phải làm việc với tinh thần là những công bộc của dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và đặc biệt là chịu sự giám sát của công chúng, những người đã tin cậy và trao quyền quản lý xã hội cho họ. Sự giám sát của công chúng với các nhà chức trách, như đã phân tích ở trên, không thể thực hiện được nếu công chúng không được biết về hoạt động của các cơ quan công quyền.

ở nước ta, ngay từ Hiến pháp năm 1946, quyền của nhân dân được biết /tiếp cận với thông tin của các cơ quan nhà nước đã được thể hiện một cách gián tiếp trong nhiều điều khoản, trong đó tiêu biểu là Điều 9 (ghi nhận quyền tự do ngôn luận và xuất bản), Điều 21 (ghi nhận quyền bãi miễn các đại biểu do mình bầu ra), Điều 21,32,70 (ghi nhận quyền phúc quyết của nhân dân về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia)... Tất cả các quyền này đều đòi hỏi nhà nước phải cung cấp cho công dân các thông tin có liên quan. Hiến pháp năm 1992 đề cập trực tiếp đến quyền được thông tin trong Điều 69, theo đó, công dân có quyền được tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định pháp luật. Quy định về quyền được thông tin trong Điều 69 Hiến pháp sau đó được cụ thể hóa trong nhiều điều khoản của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 và một số văn bản pháp luật khác như Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Kiểm toán, Luật Thống kê, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Nhà ở, Luật Khiếu nại tố cáo, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật về Công báo... Các văn bản pháp luật này đã đề cập đến phạm vi rộng rãi các nội dung về quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước. Cụ thể, về khía cạnh công khai hóa, ở cấp độ chung, pháp luật đã đề cập đến trách nhiệm của các cơ quan nhà nước phải công bố:

- Các văn bản pháp luật (Luật Ban hành văn bản pháp luật, Luật về Công báo).

- Các hoạt động của cơ quan nhà nước (trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ) (Luật Phòng, chống tham nhũng và một số luật khác), trong đó bao gồm các lĩnh vực cụ thể như: hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán; hoạt động tố tụng; mua sắm công và xây dựng cơ bản; quản lý đầu tư xây dựng; tài chính và ngân sách nhà nước; huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân; quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ; quản lý doanh nghiệp nhà nước; quản lý, sử dụng đất và nhà ở; lĩnh vực giáo dục; lĩnh vực y tế; lĩnh vực khoa học - công nghệ; lĩnh vực thể dục, thể thao; công tác tổ chức - cán bộ; giải quyết các công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.

ở cấp độ cơ sở, theo Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, các hoạt động mà chính quyền phải công khai bao gồm:

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ph­ương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã;

- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã;

- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân;

- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp;

- Chủ trư­ơng, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế;

- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã;

- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND cấp xã;

- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân;

- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu;

- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện;

- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.

Ngoài việc quy định trách nhiệm và các vấn đề mà chính quyền các cấp phải công khai với dân chúng, pháp luật hiện hành cũng đã có những quy định về hình thức và cách thức công khai hoạt động của các cơ quan nhà nước (Điều 12 Luật Phòng, chống tham nhũng, Điều 6 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn); về quy trình, thủ tục công khai hoạt động của các cơ quan nhà nước (Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, ban hành kèm theo Quyết định số 77/2007/QĐ -TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Điều 7 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn); về quyền và thủ tục yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin (Điều 28, 31 và 32 Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Báo chí); về nghĩa vụ và thủ tục đáp ứng các yêu cầu cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước (Nghị định số 120/2006/NĐ -CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Báo chí); về phạm vi các thông tin được công khai hoặc cung cấp cho công chúng (Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 1991, Điều 4 Nghị định số 120/2006/NĐ-CP)... Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã có nhiều văn bản và quy định về việc bảo đảm các quyền tự do báo chí và xuất bản (Luật Báo chí năm 1989, Luật Xuất bản năm 2004), về khiếu nại và xử lý hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin (Nghị định số 120/2006/NĐ -CP)...

Từ những phân tích ở trênT, có thể thấy rằng, về cơ bản, quyền được tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước đã được thừa nhận và thể chế hóa trong pháp luật Việt Nam và ở một số khía cạnh, các quy định về vấn đề này đã khá cụ thể và rõ ràng. Tuy nhiên, hiện nay, nước ta vẫn chưa có một văn bản pháp luật quy định riêng về quyền và cơ chế chung về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin. Việc có nhiều văn bản pháp luật cùng quy định về vấn đề này gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật. Thêm vào đó, hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề này còn chưa đầy đủ và có nhiều điểm bất cập, trong đó nổi bật nhất là chưa quy định việc thành lập các cơ quan /đơn vị hoặc bổ nhiệm các công chức /viên chức chuyên trách đáp ứng các yêu cầu về thông tin của công chúng (nhiệm vụ của người phát ngôn của các cơ quan nhà nước theo Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ban hành kèm theo Quyết định số 77/2007/QĐ -TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ mới chỉ là cung cấp thông tin cho báo chí chứ không bao gồm việc tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu cung cấp thông tin của công chúng); các quy định về quy trình, thủ tục yêu cầu và giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin của công chúng còn thiếu và có nội dung sơ sài (chưa đề cập đến những khía cạnh quan trọng như việc chuyển tiếp yêu cầu và giải quyết yêu cầu được chuyển tiếp, các vấn đề về lệ phí, gia hạn xem xét...); giới hạn phạm vi thông tin mà các cơ quan nhà nước phải công khai hóa hay cung cấp còn bị hạn chế và chưa được quy định cụ thể; chưa có quy định cụ thể về những vi phạm cũng như hình thức, biện pháp xử lý với các cơ quan nhà nước vi phạm các quy định về công khai thông tin và họat động cũng như về cung cấp thông tin cho công chúng của các cơ quan nhà nước...

Về lô-gíc, những hạn chế kể trên không chỉ là những trở ngại đối với việc bảo đảm quyền của công dân được tiếp cận với thông tin của các cơ quan nhà nước, mà còn là những cản trở đối với việc phòng, chống tham nhũng. Bởi vậy, việc xây dựng một đạo luật riêng về quyền tiếp cận thông tin mà sẽ giải quyết những tồn tại, hạn chế kể trên là một việc làm cần thiết và cấp thiết, xét ở cả góc độ chung là thúc đẩy công cuộc Đổi mới lẫn góc độ riêng là tăng cường hiệu quả của các hoạt động phòng, chống tham nhũng.

Thực tế là Đảng và Nhà nước đã nhận thấy sự cần thiết phải xây dựng một văn bản pháp luật riêng để khắc phục những tồn tại, hạn chế kể trên và đã thể hiện những quyết tâm chính trị để giải quyết. Ở góc độ gián tiếp, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020 đã đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến các vấn đề dân chủ hóa bộ máy nhà nước, chống tham nhũng và bảo vệ các quyền, tự do dân chủ của công dân. ở góc độ trực tiếp, Nghị quyết Trung ương III khóa X (tháng 8/2006) đã nêu rõ sự cần thiết phải nghiên cứu ban hành luật về quyền được thông tin của nhân dân. Kế hoạch của ủy ban thường vụ Quốc hội nhằm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng quy định sự cần thiết phải... ban hành luật về công báo, luật về quyền tiếp cận thông tin và phổ biến pháp luật. Như vậy, gắn kết với Điều 69 Hiến pháp 1992 và những phân tích ở trên, có thể nói rằng, hiện đã có đủ cơ sở về chính trị, pháp lý và thực tiễn để xúc tiến việc xây dựng một đạo luật về quyền tiếp cận thông tin của nước ta. Chúng tôi tin tưởng rằng, việc ban hành luật này chắc chắn sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay./.

 

Phạm Quốc Anh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 07/01/2009
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân