Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 21/12/2014, 06:37(GMT+7)
 
Diễn đàn

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với quyền được tiếp cận thông tin
Trong nhà nước pháp quyền XHCN, giữa nhà nước và quyền con người nói chung, quyền được tiếp cận thông tin nói riêng, có mối quan hệ tác động qua lại rất mật thiết. Bàn về mối quan hệ này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, chẳng những góp phần đảm bảo cho quyền con người nói chung, quyền được tiếp cận thông tin nói riêng được tôn trọng và thực hiện trong thực tế, mà còn làm cho nhà nước vững mạnh, thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân.

 

                                                

1. Quyền được thông tin có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân.

Ở Việt Nam, quyền được tiếp cận thông tin là quyền Hiến định, tức là quyền cơ bản của con người. Quyền đó được quy định tại điều 69 Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin”. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền được thông tin có quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Đây là các quyền của công dân trong một xã hội dân chủ, pháp quyền, là chuẩn mực xác nhận một xã hội trong đó nhân dân có tự do, có quyền lực thực sự. Các quyền này có ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu các quyền con người, quyền công dân. Đây vừa là quyền mà mỗi công dân có quyền được hưởng, lại vừa là điều kiện để đảm bảo các quyền khác, đặc biệt là các quyền về kinh tế. Lịch sử phát triển của nhân loại đã xác nhận mỗi khi xã hội bị ngưng trệ, các quyền con người bị vi phạm nghiêm trọng thì nhu cầu về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin lại nổi lên, thể hiện tinh thần phản kháng, yêu tự do và sự tiến bộ; do đó, nó trở thành nhân tố giúp nhà nước và xã hội vượt qua sự trì trệ. Mặt khác, đời sống thực tiễn cũng xác nhận mỗi khi các quyền nói trên không được tôn trọng, nhà nước và xã hội thường ở vào tình trạng bảo thủ trì trệ, các quyền của con người bị nhà nước vi phạm. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền được thông tin có vai trò chính trị xã hội to lớn. Về thực chất, đó là các hình thức, các phương thức, phương tiện để nhân dân làm chủ đất nước, thật sự tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời làm chủ bản thân mình. Trong thời đại tin học, thông tin có vị trí đặc biệt quan trọng. Thiếu nó, hoạt động của công dân trong đời sống nhà nước và xã hội sẽ thiếu hiệu quả. Trong cơ cấu nhu cầu của con người, đặc biệt là trong đời sống hiện đại ngày nay, thông tin trở thành một nhu cầu không thể thiếu như cơm ăn, áo mặc, không khí để thở. Vì vậy, Hiến pháp năm 1992 ghi nhận nhu cầu quan trọng này thành một quyền cơ bản của công dân cùng với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Trong mối quan hệ với việc xây dựng nhà nước pháp quyền, quyền được tiếp cận thông tin có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ. Vai trò và tác động đó thể hiện trên các mặt cơ bản sau đây:

 Một là, quyền được thông tin của công dân là nghĩa vụ phải cung cấp thông tin của nhà nước về những gì mà pháp luật không cấm. Đây chính là phương tiện đảm bảo cho tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền minh bạch, công khai, dân chủ, một đòi hỏi của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Thông qua thông tin mà nhà nước cung cấp, công dân thực hiện được quyền giám sát của mình đối với các hoạt động công quyền. Dựa trên những thông tin đó, công dân có điều kiện để xem xét đánh giá năng lực và trách nhiệm của nhà nước nói chung, cán bộ công chức có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước nói riêng. Điều đó giúp cho bộ máy nhà nước phải trong sạch, minh bạch, công khai, dân chủ, hạn chế những tiêu cực trong tổ chức và hoạt động; đồng thời đề cao được năng lực và trách nhiệm trước công dân. Như vậy quyền tiếp cận thông tin có vai trò là phương tiện góp phần làm cho nhà nước vững mạnh, thực sự của dân, do dân và vì dân, hạn chế được những căn bệnh vốn có của lao động quyền lực như tham nhũng, hách dịch, vô cảm với nhân dân

Hai là, quyền được tiếp cận thông tin không có nghĩa là công dân thụ động ngồi chờ nhà nước cung cấp thông tin cho mình. Ngược lại, công dân có quyền chủ động cung cấp thông tin, bày tỏ ý chí và nguyện vọng chính đáng của mình, của xã hội cho nhà nước và đòi hỏi nhà nước phải xem xét, xử lý các thông tin mà công dân cung cấp. Nhờ các thông tin phản hồi từ phía công dân cho nhà nước mà làm cho chính sách, pháp luật của nhà nước thể hiện được đầy đủ, đúng đắn hơn ý chí nguyện vọng của nhân dân; làm cho mối quan hệ giữa nhân dân và nhà nước gắn bó hơn, hạn chế được quan liêu, xa rời dân.

Ba là, bằng thông tin hai chiều giữa nhà nước và công dân mà làm cho quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả hơn, quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân được thực hiện trong thực tế. Quản lý nhà nước thực sự có hiệu lực và hiệu quả khi nhân dân tham gia đông đảo vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, giữa dân và nhà nước hiểu biết lẫn nhau. Nhờ vai trò của quyền được tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước mà làm cho các quyết định quản lý nhà nước có đầy đủ thông tin từ các phía, trước khi quyết định và sau khi ban hành, các quyết định được thực hiện nghiêm minh hơn. Thực tiễn quản lý nhà nước những năm qua chỉ ra rằng, ở đâu thiếu thông tin hai chiều giữa nhà nước và công dân, thì ở đó các quyết định quản lý hành chính nhà nước thiếu hiệu quả và hiệu lực; nhân dân khiếu kiện, kêu ca; nhà nước khó khăn tốn kém trong việc tổ chức thực hiện các quyết định của mình.

Như vậy, quyền được thông tin có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nhất là trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân đang tiến hành ở nước ta. Vì thế, một mặt, nhà nước nói chung, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước nói riêng, cần nhận thức sâu sắc rằng quyền được tiếp cận thông tin của công dân có vai trò to lớn đến tổ chức và hoạt động của mình, cần phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân cung cấp và nhận thông tin. Mặt khác, công dân phải nhận thực sâu sắc thông tin mà mình cung cấp cho nhà nước có tác động tích cực đến các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp để không ngừng phát huy vai trò của quyền được thông tin trong quản lý nhà nước, làm cho nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.

2. Nhà nước pháp quyền XHCN có vai trò quyết định và tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện quyền được thông tin của công dân.

Vai trò quyết định và tác động mạnh mẽ của nhà nước pháp quyền XHCN đến việc thực hiện quyền được thông tin, thể hiện ở các điểm cơ bản sau đây:

Một là, nhà nước pháp quyền là nhà nước đề cao Hiến pháp và các đạo luật, xem Hiến pháp và các đạo luật có vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội. Đây chính là phương tiện đầy hiệu lực để thể chế, ghi nhận và đảm bảo cho các giá trị tự nhiên xã hội của con người, của công dân trở thành giá trị có tính bắt buộc chung và thừa nhận chung, trở thành quyền cơ bản của con người của công dân, đảm bảo cho chúng được thực hiện trong thực tế. Không có phương tiện Hiến pháp và luật, các quyền con người, quyền công dân không có sức mạnh đảm bảo pháp lý chính thức của nhà nước và không được tôn trọng và đề cao trong mối quan hệ với bản thân nhà nước.

Ở nước ta, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cải cách bộ máy nhà nước theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, Hiến pháp và các đạo luật ngày càng được đề cao trong các lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội. Quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền được thông tin được ghi nhận và thể chế trong Hiến pháp năm 1992 và trong các đạo luật. Nhờ đó, các quyền cơ bản của con người nói chung, quyền được thông tin nói riêng được đề cao và có cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo thực hiện trong thực tế.

Hai là, quyền con người, quyền công dân nói chung và nhất là quyền được thông tin nói riêng không chỉ được ghi nhận, thể chế thành quyền cơ bản trong Hiến pháp và các đạo luật, mà còn được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh vật chất của bộ máy nhà nước (đảm bảo về kinh tế, về cơ sở vật chất, kỹ thuật và về con người). Nhờ đó, các quyền con người, quyền công dân không trở thành những lời tuyên bố suông trong Hiến pháp và các đạo luật.

Với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong những năm qua đã nhanh chóng xây dựng được cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin hiện đại, góp phần đảm bảo việc thực hiện quyền được thông tin của công dân, tạo điều kiện cho công dân tiếp cận thông tin nhanh chóng, thuận lợi và kịp thời hơn. Có thể nói, không có sức mạnh vật chất, kỹ thuật của bộ máy nhà nước, các quyền con người nói chung, nhất là quyền được thông tin của công dân  nói riêng không có điều kiện để trở thành hiện thực trong thực tế. Vai trò đảm bảo vật chất của nhà nước đặc biệt quan trọng trong việc biến quyền được thông tin của công dân trở thành hiện thực.

       Như vậy, nhà nước có vai trò quyết định trong việc thừa nhận và đảm bảo cho các quyền con người, quyền công dân, nhất là quyền được thông tin trở thành hiện thực trong thực tế. Không có đảm bảo vật chất của nhà nước, các quyền con người nói chung, quyền được thông tin nói riêng chỉ là những lời tuyên bố được đăng trên các trang công báo.

Tiếp tục phát huy vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân nói chung, quyền được thông tin nói riêng là định hướng cơ bản trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp ở nước ta.

-Trước hết, trong lập pháp phải tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý về quyền con người, quyền công dân nói chung, quyền được thông tin nói riêng. Trong tư duy chính trị - pháp lý của các nhà nước XHCN trước đây không thừa nhận thuật ngữ quyền con nguời. Nhiều người cho rằng, quyền con người bắt nguồn từ học thuyết pháp luật tự nhiên - một học thuyết mang màu sắc hư vô, xa rời hiện thực, rằng quyền con nguời bắt nguồn từ việc phân chia luật công và luật tư trong nhà nước tư sản, trong lúc đó dưới chủ nghĩa xã hội không có cái gì là tư cả. Vì thế, trong tư duy lý luận, người ta đồng nhất quyền con người với quyền công dân, không thừa nhận quyền con người là khái niệm độc lập, có nội hàm riêng của mình. Quan niệm đó đã ảnh hưởng đến hoạt động lập pháp, làm cho hoạt động lập pháp bị khép kín trong lĩnh vực quyền con người, quyền công dân. Các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật dường như xuất phát từ ý muốn chủ quan của nhà nước, như là sự tặng cho từ phía nhà nước. Vì thế, các quyền mang nặng tính nhân văn, hình thức không có cơ sở thực hiện trong thực tế. Trong điều kiện ngày nay, dưới ánh sáng của tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền, phải thừa nhận cá nhân với tư cách là một thực thể tự nhiên  xã hội có những quyền cơ bản xác định, việc thừa nhận các quyền này đã được cộng đồng loài người ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế. Cá nhân con người chính là giá trị, giá trị con người không tách rời khỏi giá trị loài người, tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh. Chính vì thế mà cộng đồng quốc tế (trong pháp luật quốc tế) và các nhà nước riêng biệt (trong pháp luật quốc gia) đều phải có nghĩa vụ ghi nhận và bảo vệ các giá trị của con người. Quyền được thông tin là một giá trị của con người, nhà nước phải có nghĩa vụ ghi nhận và thể chế thành quyền cơ bản của con người. Có quan niệm như vậy mới xóa bỏ được quan niệm khép kín trong pháp luật, mới tạo lập sự thống nhất giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế mà nhà nước ta là thành viên, mới đề cao được trách nhiệm của nhà nước trong việc ghi nhận và thể chế hóa các điều kiện đảm bảo thực hiện các quyền con người trong thực tế.

- Hệ thống các quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật của nhà nước ta ngày càng rộng rãi bao quát các lĩnh vực, mang tính tiên tiến, phù hợp với các điều ước quốc tế mà nhà nước ta là thành viên. Tuy nhiên, các quyền cơ bản, nhất là quyền Hiến pháp, phải được tiếp tục thể chế hóa để tạo lập cơ chế thực hiện quyền đó. Ví như quyền được thông tin quy định ở điều 69 Hiến pháp năm 1992 cần được xây dựng thành một đạo luật để quy định cơ chế pháp lý thực hiện, nhất là những quy định về nghĩa vụ của nhà nước phải làm gì để công dân thực hiện được quyền được thông tin. Mấy năm gần đây, trong một số đạo luật đã có những quy định về trách nhiệm của nhà nước trong việc cung cấp thông tin cho người dân như Luật Xây dựng, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Phòng chống tham nhũng... Xây dựng pháp luật về quyền được thông tin của công dân theo cách đó sẽ không tránh khỏi mâu thuẫn, trùng lắp, gây khó khăn cho công dân trong việc thực hiện quyền được thông tin của mình. Vì thế, nhu cầu về một đạo luật về đảm bảo quyền được cung cấp thông tin của công dân đang là đòi hỏi cấp bách cả từ phía nhà nước lẫn từ phía công dân. Nội dung của dự luật này, ngoài việc quy định cơ chế thực thi quyền được thông tin của công dân, trong đó quy định thật minh bạch các nghĩa vụ của nhà nước trong việc cung cấp thông tin cho công dân trên các lĩnh vực, còn phải quy định thật cụ thể, rõ ràng những giới hạn của quyền được thông tin của công dân. Pháp luật hiện hành của nước ta chưa thật minh bạch về các giới hạn này của quyền được thông tin, độ mật, tuyệt mật, tối mật... còn rất tùy tiện. Vì thế, một mặt đã tạo điều kiện cho nhà nước thực hiện thiếu nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình; mặt khác công dân  không nắm vững đâu là giới hạn của quyền được thông tin nên có thể phát sinh những đòi hỏi vô lý, không phù hợp. Những quy định cụ thể hóa về nội dung của quyền được tiếp cận thông tin là rất quan trọng, nhưng những quy định về thủ tục đảm bảo thực hiện quyền cũng không kém phần quan trọng. Nhiều lúc các quyền về nội dung quy định rất đầy đủ, rõ ràng, nhưng các quyền và nghĩa vụ về thủ tục không thuận lợi, rắc rối đã vô hiệu hóa các quyền về nội dung. Vì thế, dự án luật về đảm bảo quyền được cung cấp thông tin phải đặc biệt coi trọng các thủ tục thực hiện quyền với các quy định đơn giản, dễ dàng, tạo thuận lợi cho phía công dân, đề cao trách nhiệm từ phía nhà nước, nhân viên có thẩm quyền của nhà nước.

       - Cùng với hoạt động lập pháp, hoạt động tổ chức và thực hiện luật (hành pháp) và hoạt động bảo vệ pháp luật (tư pháp) cũng phải được coi trọng. Quyền con người nói chung, quyền được cung cấp thông tin nói riêng chỉ trở thành hiện thực chủ yếu thông qua hoạt động của các cơ quan hành pháp và các cơ quan tư pháp. Đây là các cơ quan áp dụng pháp luật để các quyền được quy định trong luật trở thành quyền thực tế. Do vậy, nâng cao trách nhiệm và năng lực áp dụng pháp luật của các cán bộ công chức có thẩm quyền trong các cơ quan hành pháp và tư pháp có ý nghĩa quyết định trong việc tạo điều kiện để công dân được hưởng quyền.

Vai trò của quyền được thông tin đối với nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và ngược lại, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN trong việc đảm bảo thực hiện quyền được thông tin của công dân được Hội nghị trung ương III khóa X (tháng 8/2006) chỉ ra một cách cụ thể rằng: “Thực hiện nghiêm các quy định về công khai minh bạch; bổ sung quy định bảo đảm minh bạch quá trình ra quyết định, bao gồm cả chính sách, văn bản quy phạm pháp luật và quyết định giải quyết một vụ việc cụ thể của cơ quan nhà nước các cấp. Xem xét sửa đổi các danh mục bí mật nhà nước nhằm mở rộng công khai. Hoàn thiện công khai hóa và thực hiện đúng các chế độ định mức, tiêu chuẩn sử dụng lao động, ngân sách và tài sản công”. Với vai trò to lớn của quyền được thông tin đối với cả hai chủ thể nhà nước và công dân, việc nghiên cứu ban hành Luật về đảm bảo quyền được thông tin của công dân  theo Nghị quyết Hội nghị trung ương III khóa X có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta hiện nay./.

 

GS,TS Trần Ngọc Đường
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Hội đồng Hiến pháp - nhu cầu và dự báo tính khả thi

Chế định về Quốc hội trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013

Xác định hình thức văn bản sửa đổi Hiến pháp trong Luật Tổ chức Quốc hội

Mối quan hệ của thiết chế Chủ tịch nướcvới các cơ quan quyền lực Nhà nước ở Trung ương và cấu trúc bộ máy của thiết chế Chủ tịch nước theo Hiến pháp

Pháp luật về ủy quyền lập pháp ở Việt Nam - thực trạng và kiến nghị

Quốc hội thông qua Luật tổ chức Quốc hội sửa đổi

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trước yêu cầu sửa đổi, bổ sung

Chất vấn và hậu chất vấn

Trao Quyết định bổ nhiệm Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

Quyền lập quy của Chính phủ Liên bang Nga

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân