|
Minh bạch hóa pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin
|
||
|
Sự cần thiết bảo đảm quyền tự do thông tin Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và xã hội thông tin, xây dựng nền kinh tế tri thức, cơ chế bảo đảm quyền tự do tiếp cận thông tin cần phải được quy định và bảo đảm thực hiện. Nhà nước cần có cơ chế tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, công dân có thể tham gia vào môi trường thông tin mở, nhằm bảo đảm tính hiệu quả, cạnh tranh và phát triển. Các cơ quan công quyền phải có trách nhiệm đối với công tác thông tin cũng như tạo điều kiện cho việc tiếp cận thông tin, tiếp cận các tài liệu hành chính; công khai và minh bạch hóa hoạt động quản lý hành chính. Hiện nay ở Việt Nam, việc thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan công quyền trong việc công khai thông tin đã dẫn đến tình trạng lợi dụng đặc quyền, đặc lợi của những người có điều kiện, vị trí công tác dễ dàng tiếp cận thông tin nhằm trục lợi, gây nên sự bất bình đẳng, công bằng trong xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh. Việc thiếu minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý nhà nước và thiếu cơ chế tiếp cận thông tin làm hạn chế sự tham gia của tổ chức, công dân vào hoạt động quản lý nhà nước với tính chất là người giám sát, phản biện nhằm hoàn thiện các chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước. Trong việc thi hành pháp luật, do thiếu minh bạch trong hoạt động quản lý đã làm hạn chế về mặt nhận thức, tư duy của những người thi hành pháp luật, trong đó có cả các công chức thực thi pháp luật, dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất, thiếu bình đẳng trong việc áp dụng pháp luật. Thiếu công khai, minh bạch cũng làm cho tính trách nhiệm của các cơ quan công quyền không được đề cao. Thiếu công khai, minh bạch cũng dẫn đến tình trạng người có chức vụ, quyền hạn dễ dàng tham nhũng, tình trạng tùy tiện của các cơ quan công quyền, việc dễ dàng vi phạm pháp luật và không bảo đảm quyền và lợi ích của tổ chức, công dân. Trong bối cảnh mở cửa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, yêu cầu về công khai, minh bạch trong quá trình, thủ tục ban hành các quyết định hành chính cũng như công khai các kết quả hoạt động của các cơ quan công quyền cũng là một trong những yêu cầu của WTO. Nhằm tăng cường tính minh bạch và tính trách nhiệm của cơ quan công quyền, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước, cần thiết phải ban hành Luật về thông tin. Một xã hội văn minh không thể không bảo đảm quyền tự do thông tin và tiếp cận thông tin của người dân. Trong điều kiện nền công nghệ thông tin ngày càng phát triển, công nghệ thông tin là công cụ đắc lực phục vụ cho việc cung cấp thông tin cho cơ quan, tổ chức, cá nhân. Ích lợi của tiếp cận thông tin Thứ nhất, về mặt kinh tế, tăng cường và mở rộng thông tin cũng có nghĩa là tăng cường và nâng cao tri thức, đặc biệt là với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin hiện đại có thể đem đến những biến chuyển cơ bản trong việc sản xuất sản phẩm và dịch vụ. Thông tin công khai, minh bạch còn giúp cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tin tưởng hơn vào các kế hoạch kinh doanh của mình, xây dựng cho mình các kế hoạch đầu tư dài hạn, điều này đem lại lợi ích to lớn về mặt kinh tế. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí kinh doanh và rủi ro khi đầu tư. Thứ hai, công khai các thông tin cũng làm thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội công dân, việc người dân có đầy đủ các nguồn thông tin giúp họ đóng vai trò chủ động hơn trong xã hội và đóng góp cho Nhà nước. Người dân cũng tin tưởng vào Nhà nước và sẵn sàng, chủ động đóng góp xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật. Thứ ba, thông tin công khai bảo đảm cho quyền tiếp cận công bằng của người dân, tăng lòng tin của người dân đối với nhà nước và chế độ chính trị, mở rộng các hoạt động chính trị - xã hội và làm cho đất nước ngày một phồn thịnh. Các nhóm lợi ích trong xã hội được duy trì, cùng giúp nhau phát triển. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin giúp cho xã hội tham gia một cách chủ động vào hoạt động quản lý nhà nước, làm tăng tính trách nhiệm của công dân cũng như các cơ quan công quyền, giúp xã hội trở nên năng động và phát triển hơn. Bảo đảm cơ chế tiếp cận thông tin cũng giúp thiết lập được cơ chế giám sát có hiệu quả từ công chúng tới các hoạt động của cơ quan công quyền, đặc biệt là các cơ quan hành chính, qua đó, các cơ quan này cũng sẽ hoạt động hiệu quả và có trách nhiệm hơn. Thứ tư, về mặt xã hội, người dân có thể tự mình cải thiện cuộc sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin. Thông tin và tiếp cận thông tin có nội dung phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ đề cập đến khía cạnh tiếp cận thông tin về pháp luật, đó là minh bạch hóa pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin. Thực trạng minh bạch hóa pháp luật 1. Minh bạch hóa pháp luật bao gồm hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất là pháp luật phải được công khai, minh bạch để người dân có thể biết được pháp luật đó mà thực hiện, để tránh những điều pháp luật cấm đoán, thực hiện nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền là người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; khía cạnh thứ hai là minh bạch ngay trong các quy định của pháp luật để người dân dễ hiểu, không hiểu nhầm nghĩa, các quy định pháp luật phải rõ ràng, nhất là quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về hình sự là những thứ đụng chạm đến quyền công dân lại càng phải rõ ràng, cụ thể, không được mù mở, mơ hồ (thí dụ tội làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng) hay quy định của pháp luật cần hết sức hạn chế dùng các từ như trong trường hợp đặc biệt, trong trường hợp cần thiết, hay tùy trường hợp, hoặc cơ quan có thẩm quyền, theo quy định của pháp luật. Cách sử dụng những từ ngữ như vậy làm cho pháp luật trở nên khó hiểu, người đọc phải tự tìm câu trả lời. 2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2004 đã có nhiều quy định bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức và cá nhân - những đối tượng trực tiếp chấp hành pháp luật. 2.1. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc công khai, minh bạch ba giai đoạn chính của quy trình xây dựng pháp luật là: giai đoạn lập kế hoạch và thông qua chương trình xây dựng pháp luật; giai đoạn soạn thảo, bao gồm cả việc lấy ý kiến của các đối tượng liên quan; và giai đoạn công bố văn bản quy phạm pháp luật đã được thông qua. - Giai đoạn lập chương trình xây dựng pháp luật: quy định cho phép tổ chức, cơ quan và cá nhân có quyền sáng kiến lập pháp đều có quyền gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ. Sau khi chương trình xây dựng pháp luật được Quốc hội thông qua, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng đều công bố công khai các nghị quyết của Quốc hội về vấn đề này. - Giai đoạn soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật: từ việc thành lập Ban soạn thảo, thành phần ban soạn thảo gồm cơ quan chủ trì và đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan, các nhà khoa học, các chuyên gia. Trong quá trình soạn thảo, luật quy định phải tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức hữu quan, đặc biệt là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. - Giai đoạn thông qua văn bản quy phạm pháp luật: pháp luật quy định văn bản quy phạm pháp luật phải được công bố hoặc yết thị, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việc đăng công báo là bắt buộc ngay sau khi văn bản được ban hành hoặc chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành. 2.2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2004 quy định việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải được lập chương trình. - Trong qúa trình soạn thảo, lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. - Sau khi ký ban hành gửi đăng trên công báo địa phương (văn bản cấp tỉnh) chậm nhất là 5 ngày kể từ ngày thông qua để người dân có điều kiện tiếp cận. Tương tự như vậy thì văn bản cấp huyện phải niêm yết chậm nhất là 3 ngày, và văn bản cấp xã là 2 ngày kể từ ngày thông qua. Hoàn thiện pháp luật về minh bạch hóa các quy định của pháp luật Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII, Chính phủ đã trình Quốc hội Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, trong đó có quy định rõ hơn, cụ thể hơn về bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật, cụ thể là: - Đơn giản hóa các loại văn bản quy phạm pháp luật theo hướng mỗi cơ quan chỉ ban hành một hình thức văn bản quy phạm pháp luật. - Đưa nguyên tắc khi xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản. - Quy định văn bản hướng dẫn thi hành phải được xây dựng, ban hành làm sao để khi văn bản gốc có hiệu lực thì đã có văn bản hướng dẫn thi hành. - Khi ban hành văn bản mới phải chỉ rõ những văn bản đã hết hiệu lực để bãi bỏ. - Quy định hiệu lực của văn bản ngay trong văn bản để người thực hiện nhận biết được ngay, không phải chờ đợi đăng công báo (hiệu lực của văn bản phụ thuộc vào việc đăng công báo như hiện nay). - Quy định việc hợp nhất văn bản để tăng tính minh bạch của hệ thống pháp luật. - Quy định đã là văn bản quy phạm pháp luật là phải đăng công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa lên Website của Chính phủ hoặc của cơ quan soạn thảo, đăng tải trên Internet để công chúng được tiếp cận. - Trong chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội cần xem xét việc xây dựng Luật Tiếp cận thông tin với nội dung: loại thông tin, tài liệu nào cần được công khai; loại thông tin, tài liệu nào cần được bí mật; quy trình cung cấp thông tin, tiếp cận và khai thác thông tin; trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin. /.
|
|
||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||










