|
Bàn về khái niệm xã hội hóa
|
||
|
Việc dùng một khái niệm theo nghĩa khác hẳn nghĩa thông thường là một hiện tượng không xa lạ và có từ cổ xưa. Đấy có thể là sự phát triển tự nhiên của ngôn ngữ, cũng có thể do những lý do khác.
Việc dùng một khái niệm theo nghĩa khác hẳn nghĩa thông thường là một hiện tượng không xa lạ và có từ cổ xưa. Đấy có thể là sự phát triển tự nhiên của ngôn ngữ, cũng có thể do những lý do khác. Những khái niệm căn bản như tự do, dân chủ cũng đã trải qua số phận như vậy. Thay cho việc gọi là tư nhân hóa (chuyển đổi một phần hay toàn bộ quyền sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước sang cho tư nhân hay các tổ chức tư nhân) chúng ta sáng tạo ra cổ phần hóa. Người miền Bắc và miền Trung nói đến lũ là phát ngán. Dân đồng bằng Cửu Long chỉ biết nước nổi, mà không biết đến lũ. Dùng tư duy chống lũ ở đó có thể hoàn toàn không phù hợp, có thể dẫn đến nhốt nước nổi và gây ra lũ thiệt. Lẫn lộn khái niệm nhiều khi rất có hại. Một thí dụ khác, được nhắc đến nhiều ở nước ta hiện nay là khái niệm xã hội hóa. Xã hội hóa được Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên từ giữa các năm 1980) giải thích là làm cho trở thành của chung của xã hội, với thí dụ xã hội hóa (XHH) tư liệu sản xuất, tức là, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất. Nghĩa của cụm từ này trong các tiếng nước ngoài cũng tương tự (đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ hay sở hữu tập thể; luyện cho hợp với môi trường xã hội; làm cho phù hợp với tư tưởng và triết lý xã hội chủ nghĩa; quốc hữu hóa, v.v..). So với nghĩa thông dụng này thì khái niệm XHH được dùng hiện tại ở Việt Nam có nghĩa hoàn toàn ngược lại. Người ta nói về XHH hoạt động khoa học công nghệ, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, công chứng, v.v.. Ngày 21-8-1997 Chính phủ có Nghị quyết số 90/CP về phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa.Ngày 19/8/1999 Chính phủ có Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Theo các văn bản này, XHH được hiểu như sau: “XHH là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó. “XHH là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. “XHH và đa đạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành “XHH là mở rộng các nguồn đầu t ư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này Người dân hiểu đơn giản (không sai, nhưng có thể chưa đủ ý của nhà nước) XHH là nhân dân đóng góp thêm nguồn lực cho các hoạt động đó: đóng góp tiền dưới dạng các loại phí, nói nôm na là mua dịch vụ; bỏ tiền, công sức ra cung ứng các dịch vụ đó, như lập trường tư, bệnh viện tư, phòng khám tư, nhà hát tư, tức là đầu tư, v.v..). Nói tóm lại: a) người sử dụng dịch vụ bỏ (một phần hay toàn bộ) tiền ra mua dịch vụ; và b) khuyến khích người dân, các thành phần kinh tế và các tổ chức khác đầu tư cung ứng dịch vụ. Một chủ trương quan trọng, hợp lý, hợp thời, hợp trào lưu và đúng là chính sách lâu dài chứ không phải nhất thời, không phải vì nhà nước thiếu kinh phí. Một chủ trương đáng trân trọng. Chỉ có điều tại sao không dùng các thuật ngữ thông thường mà phải sáng tạo ra các nghĩa mới cho XHH. Hai nghĩa chính này quả thực không dính dáng gì đến nghĩa thông thường mà người dân vẫn hiểu và cả thế giới vẫn hiểu về XHH như quốc hữu hóa, biến thành của chung, đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ hay sở hữu tập thể, mà thực ra gần như ngược lại hoàn toàn. Cái ý nghĩa mới của XHH này được ghi nhận trong Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học - NXB Đà Nẵng 2008): làm cho trở thành sự nghiệp chung của xã hội (trang 1405). Tại sao lại phải dùng các từ mới hay gán cho các từ cũ những ý nghĩa mới? Có thể có hai lý do. Thứ nhất, người Việt Nam có lẽ rất thích sáng tạo để chứng tỏ mình uyên bác, để khác người. Cách làm này dễ dẫn đến ngộ nhận, hiểu lầm, gây khó khăn cho giao tiếp. Đây là việc rất nên tránh. Không hiểu khi phải dịch cổ phần hóa, XHH ra tiếng nước ngoài, người ta có phải chua thêm: ấy, chúng tôi hiểu nó theo nghĩa thế này cơ, hay không? Thứ hai, nếu dùng các khái niệm thông thường, thì có thể dẫn đến những sự chống đối của một số người còn quá say sưa với những vấn đề ý thức hệ. Tại sao lại đổ lên đầu dân? Tại sao lại để cho tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục, văn hóa, thể thao, công chứng? v.v.. Cách “lách” này có thể được cảm thông, vì bằng cách đó dễ thông qua hơn, đỡ rắc rối hơn, nhưng có thể dẫn đến nhiều mơ hồ, lẫn lộn không đáng có. Và đến khi những lực cản kia yếu đi thì nên phục hồi lại những cách hiểu thông thường. Khái niệm XHH hiện được dùng ở Việt Nam có vẻ gần với khái niệm hợp tác công tư (public-private partnership - PPP) mà giới chuyên môn quốc tế sử dụng một cách rộng rãi. PPP chủ yếu liên quan đến vấn đề phân công giữa chính quyền và xã hội (hay người dân nói chung) trong cung ứng dịch vụ và cấp tài chính cho các dịch vụ đó. Về phía cấp tài chính, xét cho cùng, mọi chi phí về giáo dục và y tế, văn hóa từ ngân sách nhà nước đều là do người dân gánh chịu (qua tiền bảo hiểm y tế, học phí, viện phí, các chi phí khác, qua tiền thuế, hay tiền nhà nước vay cho các ngành đó mà thế hệ con cháu chúng ta sẽ phải trả). Chính vì thế, vấn đề không phải là Nhà nước lo cho dân thế này thế nọ, mà là, với các chính sách của mình, Nhà nước có cùng nhân dân chi tiêu, sử dụng các nguồn lực luôn hạn hẹp đó một cách có hiệu quả hay không? Cung cách chi tiêu và phân chia trách nhiệm công tư có đảm bảo cho những người nghèo, những người cơ nhỡ vẫn có thể tiếp cận đến các dịch vụ giáo dục và y tế cơ bản hay không? Về phía cung ứng dịch vụ, liệu các chính sách của Nhà nước có khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức cung ứng dịch vụ (trường học, bệnh viện) hoạt động hiệu quả và cung cấp dịch vụ có chất lượng hay không? Chúng tôi nghĩ vấn đề về sự tiếp cận phổ quát của dân chúng đến các dịch vụ cơ bản, về hiệu quả và chất lượng, về tính minh bạch trong chi tiêu và hoạt động phải là các vấn đề cốt lõi, trong cả hai lĩnh vực cấp tài chính và cung ứng dịch vụ. Có thể cho khái niệm XHH một ý nghĩa khác, phù hợp với cách lý giải hiện nay ở ta và cũng có thể dễ được giới chuyên môn chấp nhận hơn. Các khu vực công khu vực tư nhân và khu vực xã hội Có nhiều loại hình mẫu xã hội đã hay đang tồn tại trên thế giới. Trong khuôn khổ bài này, chúng ta không phân tích về tất cả các loại hình mẫu này mà sẽ chỉ sơ lược đề cập đến hình mẫu xã hội hiện đại. Với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, muốn trở thành nước công nghiệp hiện đại, chắc chúng ta không chọn các hình mẫu xã hội của nhiều nước châu Phi hay hình mẫu của nhiều nước Trung Đông. Chúng ta phải chọn hình mẫu của xã hội hiện đại. Ngày nay nói chung có sự nhất trí rộng rãi giữa các học giả rằng công việc của xã hội hiện đại được tiến hành thông qua các loại tổ chức khác nhau, mỗi loại với các nhiệm vụ riêng của mình (Xem J. A. Marciariello, “Peter F. Drucker on a Funtioning Society, Leader to Leader No. 37 Summer 2005, xem bản tiếng Việt trong Peter F. Drucker bàn về Xã hội tri thức, Quản lý kinh doanh, Xã hội và Nhà nước do Nguyễn Quang A tuyển chọn và dịch 2007). Các loại tổ chức của xã hội có thể phân thành ba loại khác nhau. Thứ nhất, có các tổ chức khu vực công (public sector) trong đó công việc của chính quyền trung ương và địa phương được tiến hành. Tiếp theo là các tổ chức khu vực tư nhân (pivate sector), được thiết lập để thỏa mãn những mong muốn và nhu cầu kinh tế của công dân. Và cuối cùng có các tổ chức khu vực xã hội (social sector) (đôi khi được nhắc đến như khu vực phi lợi nhuận (nonprofit), xã hội dân sự, phi chính phủ) để lo cho các nhu cầu sức khỏe và phúc lợi và nhu cầu khác (văn hóa, tín ngưỡng) của các công dân không được thỏa mãn hoàn toàn bởi các tổ chức khu vực công hay khu vực tư nhân. Các định chế khu vực công, khu vực tư nhân và khu vực xã hội có các loại mục đích cá biệt khác nhau (P. F. Drucker, “The Age of Social Transformation The Atlantic Monthly, November 1994, Vol. 274, No. 5, pp. 53-80 xem trong Peter F. Drucker bàn về Xã hội tri thức, Quản lý kinh doanh, Xã hội và Nhà nước do Nguyễn Quang A tuyển chọn và dịch 2007). Chính phủ đòi hỏi sự tuân thủ; nó lập ra các quy tắc và áp đặt việc thực thi chúng. Khu vực tư nhân tạo ra của cải vật chất và dịch vụ trong đó các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ và kỳ vọng được thanh toán. Các định chế khu vực xã hội nhắm tới việc thay đổi con người. Sản phẩm của một trường là học sinh, người đã học được cái gì đó. Sản phẩm của một bệnh viện là bệnh nhân được chữa trị. Sản phẩm của một tổ chức tôn giáo, như nhà thờ hay chùa, là người đi nhà thờ hay đi chùa cảm thấy cuộc sống của mình được thay đổi. Nhiệm vụ của các tổ chức khu vực xã hội là để tạo ra sức khỏe và hạnh phúc con người. Theo cách nhìn này, nhà nước chỉ là một phần của xã hội. Nhà nước nên và chỉ nên làm công việc của chính mình và tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để cho khu vực tư nhân và khu vực xã hội hoạt động hữu hiệu. Một xã hội hiện đại như vậy có thể hình dung như hình 1:
Hình 1 Có một thời, nhà nước bao trùm lên tất cả, nói cách khác, khu vực tư nhân bị thủ tiêu, khu vực xã hội bị teo lại. Mô hình này đã thất bại ở mọi nơi trên thế giới, kể cả những nỗ lực theo hướng đó ở các nước tư bản phát triển. Mô hình như vậy có thể hình dung như trên hình 2:
Hình 2 Tư nhân hóa và xã hội hóa Nhà nước đã trả lại khu vực tư nhân vai trò và vị trí của nó (ở các nước tư bản dưới và sau thời cai trị của bà Thatcher - Anh quốc, ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia khoảng 20 năm trở lại đây), quá trình này gọi là tư nhân hóa. Nôm na là nhà nước không làm công việc kinh doanh mà bán toàn bộ hay một phần các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, trả lại cho khu vực tư nhân, khu vực làm các chức năng đó hiệu quả hơn nhà nước. Tư nhân hóa được minh họa bằng mũi tên thể hiện sự dịch chuyển trả lại các chức năng của khu vực tư nhân từ khu vực nhà nước cho bản thân khu vực tư nhân. Cũng tương tự, XHH có thể được hiểu như quá trình khu vực công chuyển trả lại các chức năng của khu vực xã hội mà nó đã lấn chiếm cho bản thân khu vực xã hội. Khu vực xã hội làm những việc này hiệu quả hơn khu vực nhà nước và khu vực tư nhân. Quá trìng này được mô tả bằng mũi tên tương ứng.
Phân công lao động Như thế có thể hiểu tư nhân hóa là việc nhà nước trả lại chức năng sản xuất, kinh doanh cho khu vực tư nhân; XHH là việc nhà nước trả lại chức năng của khu vực xã hội cho khu vực xã hội, tạo điều kiện cho các khu vực đó phát triển một cách cân đối cùng khu vực công. Đó là cách để tạo ra tăng trưởng kinh tế bền vững, xã hội hài hòa. Cơ sở của việc tách bạch công việc của các tổ chức thuộc khu vực công, khu vực tư nhân và khu vực xã hội đơn giản là phân công lao động, là người nào việc nấy. Chỉ có phân công lao động và chuyên môn hóa thì các tổ chức mới hoạt động một cách hiệu quả. Nhà nước chỉ làm công việc của mình - cai trị; khu vực tư nhân hoạt động tạo ra của cải vật chất; khu vực xã hội giúp làm thay đổi con người (sức khỏe, hiểu biết, tín ngưỡng, hạnh phúc…). Cả ba khu vực hoạt động nhịp nhàng thì có dân giàu, nước mạnh, xã hội hài hßa.
|
|
|||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||










