Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 23/09/2018, 17:06(GMT+7)
 
Chính sách

Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp
Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp
Ảnh: Internet

Tóm tắt: Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới thực chất là một Chương trình phát triển kinh tế - xã hội tổng thể, toàn diện và lâu dài; là Chương trình thực hiện các nội dung cụ thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; là việc tổ chức lại sản xuất, tổ chức và phân công lại lao động nông thôn. Đi liền theo đó là xóa nghèo bền vững, nâng cao mức sống nhân dân. Bài viết dưới đây bước đầu đánh giá những thành công và chỉ ra những hạn chế cần khắc phục, đồng thời đề xuất một số kiến nghị trong việc xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020.

Từ khóa: nông nghiệp, nông dân, nông thôn; nông thôn mới; tái cơ cấu nông nghiệp; tích tụ ruộng đất.

Abstract: The targeted Programme for new rural construction is essentially a comprehensive, long-term program of socio-economic development programme; is also a program on the implementation of specific contents of industrialization and modernization of agriculture and rural areas; which is the reorganization of production, arrangment and re-allocation of rural labors. It is followed by the sustainable poverty reduction, the improvement of people's living standards. This article provides initial assessments of the successes and also addresses the shortcomings that need to be overcome, and provides suggestions and recommendations for new rural construction in connection with agricultural restructuring in the 2016-2020 period.

Keywords: agriculture, farmers, rural areas; new rural; agriculture restructure; land accumulation.

 

Ngày 5/8/2008, Hội nghị Trung ương 7 khóa X đã ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đây là một Nghị quyết có tầm chiến lược hết sức quan trọng. Nghị quyết khẳng định, “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước”.

Để thực hiện Nghị quyết, Chính phủ đã xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (giai đoạn 2010-2015) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Sau 5 năm thực hiện Chương trình, Chính phủ đã hình thành bộ máy chỉ đạo và tham mưu giúp việc từ trung ương đến cơ sở hoạt động rất hiệu quả. Trong thời gian đó, Chính phủ đã ban hành được 18 Quyết định, 03 chỉ thị và văn bản chỉ đạo; các Bộ, ngành đã ban hành 35 Quyết định, 34 Thông tư, văn bản hướng dẫn thực hiện các cơ chế chính sách, nội dung chương trình, đồng thời chủ động rà soát và điều chỉnh các quy định, văn bản hướng dẫn chuyên ngành cho phù hợp với thực tế[1]… Cũng trong 5 năm, Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới đã triển khai được 40 nhiệm vụ, gồm 26 đề tài và 14 dự án, góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của mô hình nông thôn mới ở nước ta, làm rõ thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở nước ta, chuyển giao được 105 công nghệ vào sản xuất… Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành như: chính sách về quản lý đất lúa, hỗ trợ chuyển đổi từ lúa sang đất trồng hoa màu, tái canh cà phê, hỗ trợ phát triển chăn nuôi nông hộ, thủy sản, chính sách tín dụng, thuế với nhiều ưu đãi cho nông nghiệp, nông thôn… Đặc biệt, có nhiều tỉnh, thành phố, địa phương đã chủ động ban hành các chính sách hỗ trợ đặc thù, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn. Đáng chú ý là chính sách cấp xi măng, ống cống để người dân tự làm đường; chính sách hỗ trợ dồn điền, mua máy móc công nghiệp; chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao…

 1. Một số kết quả chủ yếu

1.1 Kết quả chung

Tính đến tháng 3 năm 2016, cả nước đã có 1.761 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 19,7% tổng số xã của cả nước. Có 1.223 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, chiếm 13,7% tổng số xã (đây là những xã có triển vọng đạt chuẩn trong các năm tới). Có 27 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận chuẩn nông thôn mới2. Nếu xét theo từng tiêu chí thì có nhiều tiêu chí đạt kết quả khá cao như Quy hoạch có đến 98,74% tổng số xã trong cả nước đã đạt tiêu chí này, Điện 82,38%, Bưu điện 90,90%, lao động có việc làm thường xuyên 85,48%, An ninh trật tự xã hội 93,70%... Các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới thu nhập bình quân đầu người đã tăng từ 16,0 triệu đồng năm 2011 lên 28,4 triệu đồng năm 2015... Nguồn vốn để thực hiện Chương trình này trong 5 năm là 851.380 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách nhà nước (bao gồm cả các chương trình, dự án khác phục vụ xây dựng nông thôn mới) là 266.785 tỷ đồng (chiếm 31,34%), vốn tín dụng là 434.950 tỷ đồng (chiếm 51%), huy động từ doanh nghiệp là 42.198 tỷ đồng (chiếm 4,9%), người dân và cộng đồng đóng góp là 107.447 tỷ đồng (chiếm 12, 62%). Riêng ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình là 98.664 tỷ đồng (chiếm 11,59%), trong đó ngân sách trung ương là 16.400 tỷ đồng, ngân sách địa phương các cấp là 82.264 tỷ đồng. Quốc hội cũng đã phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ cho Chương trình giai đoạn 2014-2016 15.000 tỷ đồng. Như vậy, đầu tư công cho Chương trình xây dựng nông thôn mới là khá lớn (khoảng 1/3 tổng đầu tư).

Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp (được ban hành từ tháng 6 năm 2013) ngành nông nghiệp đã duy trì được tốc độ tăng trưởng khá (giá trị ngành trồng trọt năm 2013 tăng 3,0%, năm 2014 tăng 3,2%). Năng suất, chất lượng và giá cả nhiều loại sản phẩm đã được nâng cao. Chăn nuôi đã từng bước chuyển dần từ hình thức nhỏ lẻ, phân tán sang hình thức tập trung gia trại, trang trại. Thủy sản cũng đã được cơ cấu lại hợp lý hơn giữa đánh bắt với nuôi trồng và chế biến, tăng tỷ trọng nuôi trồng những sản phẩm chủ lực; tổ chức lại dịch vụ hậu cần nghề cá, nâng cao hiệu quả khai thác và giảm tổn thất sau thu hoạch., Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng mạnh (các năm 2013-2014 tăng 6,57%/năm, năm 2015 tăng 7,9%). Giá trị xuất khẩu lâm sản các năm 2013-2014 đạt gần 6,3 tỷ USD/năm, năm 2015 đạt 7,1 tỷ USD. Về cơ giới hóa sản xuất, năm 2015 so với năm 2011 số lượng máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp tăng cao (máy cấy lúa tăng 10 lần, máy kéo các loại tăng 1,1 lần, máy phun thuốc trừ sâu có động cơ tăng 1,24 lần, máy gặt đập lúa liên hợp tăng 1,54 lần...). Sau khi đăng ký lại theo Luật Hợp tác xã năm 2012, nhiều hợp tác xã hoạt động có hiệu quả hơn, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng liên doanh, liên kết, tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp mang lại hiệu quả tích cực.

1.2 Kết quả nhìn từ góc độ lao động

Ngoài thành tựu 85,48% tổng số xã đạt tiêu chí “Lao động có việc làm thường xuyên” thì một số kết quả sau đây rất đáng khích lệ:

- Hộ nghèo khu vực nông thôn đã giảm từ 17,4% năm 2011 xuống 8,2% năm 2015 (bình quân giảm 1,84%/năm). Tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm từ 50,07% năm 2011 xuống dưới 28% năm 2015. Đáng lưu ý là, có khoảng 60.000 hộ nghèo có người tham gia học nghề và có việc làm ổn định nên đã thoát nghèo; gần 100.000 hộ có người tham gia học nghề và có việc làm với mức thu nhập cao hơn mức trung bình tại địa phương, trở thành hộ khá. Riêng các xã đạt chuẩn nông thôn mới, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 11,6% năm 2011 xuống còn 3,6% năm 2015.

- Do chuyển đổi ngành nghề, từng bước phân công lại lao động; do ứng dụng cơ giới hóa nông nghiệp mà nhu cầu học nghề trong nông thôn đã tăng nhanh chóng. Trong các năm 2010-2015, đã có 4,1 triệu lao động nông thôn được đào tạo nghề, số có việc làm sau đào tạo đạt tới 78%, đưa tỷ lệ lao động xã hội đã qua đào tạo từng bước được nâng cao. Từ năm 2011 đến năm 2015, tỷ lệ lần lượt qua các năm là 43,0%, 45,2%, 47,4%, 49,0% và 51,6%. Trong đó, số lao động có chứng chỉ, có bằng cấp qua các năm nói trên là 15,4%, 16,6%, 17,9%, 18,2% và 19,9%[2].

- Việc chuyển đổi ngành nghề, phân công lại lao động, thay đổi “địa chỉ” làm việc của đông đảo lao động nông nghiệp đã thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các khu vực theo xu hướng tiến bộ (chuyển dần lao động nông nghiệp sang các khu vực xây dựng, công nghiệp và dịch vụ). Năm 2010, lao động công nghiệp, xây dựng từ 21% đã tăng lên 22,8% và lao động dịch vụ từ 22,95% tăng lên 33,2%[3].

           - Năng suất lao động các lĩnh vực kinh tế (tính chung toàn xã hội) tăng lên rõ rệt: nông, lâm, thủy sản năm 2010 mới đạt 16,8 triệu đồng/lao động (theo giá hiện hành) thì năm 2015 đã đạt tới 31,1 triệu đồng/lao động (tăng 85,1%). Tương tự như vậy, công nghiệp và xây dựng từ 83,3 triệu đồng tăng lên 133,6 triệu đồng/lao động (tăng 63,6%). Dịch vụ từ 63,8 triệu đồng tăng lên 106,6 triệu đồng/lao động (tăng 67,0%)[4]...                

2. Những hạn chế cần khắc phục

- Cả nước được chia ra 6 vùng kinh tế, cũng là 6 vùng địa lý có thời tiết, khí hậu, điều kiện tự nhiên, đất đai, thổ nhưỡng khác nhau; khó khăn, thuận lợi, mặt bằng kinh tế cũng rất khác nhau, nhưng lại cùng thực hiện chung một “Bộ 19 tiêu chí” như nhau (chưa nói đến các yếu tố chỉ đạo, tổ chức thực hiện, mức độ hỗ trợ vốn) nên tất yếu dẫn đến kết quả đạt được cũng chênh lệch, rất khác nhau. Trong khi số xã đạt chuẩn nông thôn mới thuộc đồng bằng sông Hồng là 42,8%, Đông Nam bộ đạt 46,4% thì đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt 16,7%, Tây Nguyên đạt 13,2%, miền núi phía Bắc chỉ đạt 8,2%. Tình hình này đặt ra vấn đề là phải tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh Bộ tiêu chí sao cho hợp lý, khách quan, thực tế nhất.

- Vẫn còn không ít địa phương quá thiên về xây dựng cơ sở hạ tầng (cả hạ tầng sản xuất và hạ tầng xã hội) như giao thông, thủy lợi, chợ, nhà văn hóa, trụ sở... nên đã huy động vốn quá sức dân, dẫn đến tình trạng một số xã được công nhận là xã nông thôn mới nhưng dân tình không mấy phấn khởi. Tình trạng nợ đọng vốn xây dựng cơ bản rất phổ biến. Hiện có 53/63 tỉnh, thành phố trong cả nước nợ đọng với số tiền lên đến 15.277 tỷ đồng, cá biệt có địa phương mất khả năng thanh toán, gây dư luận không tốt trong nhân dân các địa phương đó. Ngay các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới thì số nợ đọng cũng chiếm tới 46,9% tổng số tiền nợ đọng trong cả nước. Việc huy động quá sức dân, việc nợ đọng vốn… ít nhiều đã ảnh hưởng đến việc thực hiện các tiêu chí tăng thu nhập của người dân, tạo nên khó khăn cho việc giảm nghèo bền vững.

- Việc tổ chức sản xuất theo mô hình tập thể, hợp tác xã đóng vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Điều đó thể hiện rõ nét trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ, tạo điều kiện cho các thành viên, hộ nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Mặt khác, phương thức tổ chức đó còn đóng vai trò quan trọng trong liên kết theo chuỗi giá trị, là cầu nối hiệu quả giữa doanh nghiệp với nông dân. Song việc chuyển đổi và đăng ký lại hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 diễn ra còn chậm chạp (đến 01/7/2016 mới có 9.189 hợp tác xã tiến hành chuyển đổi, bằng 64% tổng số hợp tác xã cần chuyển đổi, đăng ký lại). Bởi vậy, lao động nông thôn về cơ bản vẫn trong tình trạng làm ăn nhỏ lẻ, phân tán; rất khó phân bố lại lao động, rất khó chuyển đổi nghề nghiệp, rất khó chuyển dịch cơ cấu lao động với tốc độ và cấp độ cao hơn như mong muốn...

Các khiếm khuyết nói trên nhất thiết phải nhanh chóng được khắc phục trong thời gian tiếp theo.

3. Một số kiến nghị trong việc xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020

Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới thực chất là một Chương trình phát triển kinh tế - xã hội tổng thể, toàn diện và lâu dài; là Chương trình thực hiện các nội dung cụ thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; là việc tổ chức lại sản xuất, tổ chức và phân công lại lao động nông thôn. Đi liền theo đó là xóa nghèo bền vững, nâng cao mức sống nhân dân. Chính vì vậy mà trong giai đoạn tới (2016-2020), công tác lao động và xã hội càng phải gắn bó chặt chẽ hơn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân và nông thôn của Đảng, xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định s1600/QĐ-TTg, Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

Phát huy các thành tựu đã đạt được trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (giai đoạn 2010-2015) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, chúng tôi có một số kiến nghị sau:

- Thực hiện giải pháp “tổng thể”:

Đầu tiên là phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, xây dựng một nền sản xuất lớn, đẩy nhanh quá trình phát triển các gia trại, trang trại, các hợp tác xã kiểu mới, các doanh nghiệp nông nghiệp. Sớm loại bỏ “mô hình” sản xuất nông hộ riêng lẻ mỗi lao động tự cày xới trên một, hai sào đất; mỗi nhà nuôi dăm ba con gà, ba bốn con lợn với vốn liếng không có bao nhiêu (đây là một nền sản xuất đầy mâu thuẫn, đâu tư thì thấp mà rủi ro thì cao; sản xuất thì nhỏ mà điều kiện thị trường thì lớn...). Muốn xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất lớn thì phải tháo gỡ ngay các “điểm nghẽn”, các “nút thắt”, mà một trong những điểm nghẽn, nút thắt có tính chất bao trùm, đó là “hạn điền”. Theo Điều 129 Luật Đất đai năm 2013 thì hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố khác. Nội dung điều luật này đã nhanh chóng lạc hậu vì quy định đó chỉ cho phép tiếp tục duy trì một nền sản xuất nông hộ, manh mún không còn động lực phát triển sau ba thập niên thực thi công cuộc đổi mới (tính đến thời điểm ban hành Luật Đất đai tháng 11/2013). Mặc dù khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai có cho phép, “hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá mười lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 Luật này” thì quy định đó (dù gấp 10 lần hạn điền) cũng không còn phù hợp với chủ trương “dồn điền liền thửa” ở phạm vi quy mô lớn, không còn phù hợp với tích tụ ruộng đất để phát triển các trang trại, các doanh nghiệp nông nghiệp lớn[5]... khi tất cả các công đoạn từ làm đất, gieo mạ, nhổ mạ, cấy lúa, chăm bón cho tới thu hoạch, sấy khô, xay gạo, đóng bao, dán nhãn, giao hàng xuất đi đều đã được cơ giới hóa hoàn toàn. Ngay cả một số trang trại sản xuất chuối xuất khẩu canh tác trên 100 héc ta đất cũng hoạt động tương tự như vậy. Lao động ở các cơ sở sản xuất này được đào tạo, huấn luyện và được phân công, bố trí vào từng công đoạn khá hợp lý. Như vậy việc tích tụ ruộng đất (vượt hạn điền) đang là một yêu cầu cấp bách và hoàn toàn phù hợp với việc xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất lớn; hoàn toàn phù hợp với yêu cầu tổ chức, phân công lại lao động nông nghiệp, nông thôn. Bởi vậy rất cần sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai nói chung và hạn điền nói riêng theo hướng không nhất thiết phải quy định hạn điền.

Cũng cần nói thêm là, trong quá trình tích tụ ruộng đất với mức vượt hạn điền, đã bắt đầu xuất hiện những tâm tư, những luồng ý kiến khác nhau. Đáng quan tâm nhất là hai loại ý kiến sau đây: Một là, đất đai nghìn đời nay là tài sản, là sinh kế của nông dân. Dù không có nhu cầu sử dụng nữa, họ vẫn “giữ đất phòng cơ” nên rất khó tích tụ. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta phải thực hiện nhiều hình thức tích tụ như cho thuê đất; góp vốn kinh doanh bằng ruộng đất; mua bán, chuộc lại quyền sử dụng đất... Lao động trong độ tuổi ở những nơi đó, trước hết phải được thu hút làm công nhân nông nghiệp (thực tế, nhiều gia trại sản xuất lúa gạo xuất khẩu đã sử dụng từ 4 đến 6 lao động trên một héc ta với mức lương từ 3 đến 5 triệu đồng/tháng). Tiếp đến là bố trí lao động vào các ngành nghề dịch vụ nông nghiệp, nông thôn và các ngành nghề phi nông nghiệp trên địa bàn. Đó cũng là biện pháp làm thông tư tưởng “giữ đất phòng cơ” của nông dân. Hai là, sẽ có nhiều người “cao tay” lợi dụng chính sách, thu gom hết đất đai rồi trở thành chủ đất. Thực ra, đã có nhiều chế tài để bảo đảm đất sản xuất nhất thiết phải được sử dụng vào sản xuất khi chưa được phép chuyển đổi mục đích sử dụng. Nếu là gia trại hay doanh nhân nông nghiệp, khi tiến hành kinh doanh bao giờ người ta cũng phải tính toán lỗ lãi, ít ai dám vượt ra ngoài khả năng điều hành, quản lý của mình để rồi thua lỗ. Thông thường người ta đi từ thấp đến cao và ổn định ở trình độ, năng lực, nguồn lực và khả năng quản lý của mình. Bởi vậy khó xảy ra tình trạng gom đất, tập trung đồng ruộng lại mà lại không sản xuất như một số dự án bất động sản hiện đang bị thu hồi.

- Thực hiện và nâng cao hiệu quả của Đề án 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”:

Ở giai đoạn 2016 - 2020 (giai đoạn cuối của Đề án cũng trùng khớp thời gian với Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020), chỉ tiêu mà Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn xác định là sẽ đào tạo 6 triệu lao động nông thôn. Trong đó có 5,5 triệu lao động học nghề, gồm 1,4 triệu lao động học nghề nông nghiệp, 4,1 triệu lao động học nghề phi nông nghiệp và 500.000 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng làm cán bộ, viên chức cấp xã.

Dù định hướng của Đề án đã có từ 7 năm trước nhưng vẫn sát đúng với tình hình hiện nay. Đó là, về cơ bản (gần 75%) trong số 5,5 triệu lao động nông thôn học nghề là để chuyển sang việc làm phi nông nghiệp; chỉ có 25% lao động học nghề là để tiếp tục làm nghề nông nghiệp nhưng ở những trình độ cao hơn. Cơ quan chức năng về dạy nghề cần cụ thể hóa thành kế hoạch từng năm, từng vùng, miền, từng ngành nghề và từng hình thức đào tạo tương thích để đạt được hiệu quả như định hướng của Đề án.

- Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành:

Như đã nói, trước hết, cần xem xét điều chỉnh Bộ tiêu chí quốc gia cho giai đoạn 2016 - 2020 phù hợp hơn với điều kiện của các vùng, miền. Trong chỉ đạo, điều hành thực hiện phải gắn chặt các tiêu chí với nhau, đặc biệt là phải gắn các tiêu chí thuộc lĩnh vực lao động và xã hội (tiêu chí 10: Thu nhập; tiêu chí 11: Hộ nghèo và tiêu chí 12: Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên) với các tiêu chí có tính chất sản xuất (tiêu chí 13: Hình thức tổ chức sản xuất, tiêu chí 1: Quy hoạch, tiêu chí 2: Giao thông, tiêu chí 3: Thủy lợi...) vì tổ chức sản xuất và tổ chức lao động bao giờ cũng diễn ra đồng thời và gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong một mức độ nhất định, phải coi các tiêu chí lao động và xã hội là “đích đến” của Chương trình xây dựng nông thôn mới, bởi vì mục tiêu tối thượng của xây dựng nông thôn mới được xác định là “...đời sống vật chất và tinh thần của người dân (nông thôn) ngày càng được nâng cao”. Người lao động được đào tạo, có việc làm ổn định và có thu nhập ngày càng cao, trở thành khá giả, đó là điều kiện, là cốt cách vật chất của một nông thôn mới ấm no, hạnh phúc.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, nhân dân:

Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức đối với cán bộ thôn, xã và người dân về xây dựng nông thôn mới, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động (chủ động, sáng tạo trong điều kiện cụ thể của mỗi địa phương). Thường xuyên đưa tin, phổ biến những cách làm hay, các mô hình đem lại hiệu quả cao, những gương điển hình tiên tiến về xây dựng nông thôn mới để rút kinh nghiệm chung. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trung ương với các địa phương và giữa các địa phương với nhau trong tuyên truyền, vận động, tạo sự nhất quán trong nhận thức và trong thực thi nhiệm vụ./.

 

 



[1] Các số liệu trong bài được lấy từ Báo cáo kết quả giám sát “Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (giai đoạn 2010-2015) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp” của Ủy ban thường vụ Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV ngày 31/10/2016.

[2] Nguồn: Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 5 năm 2011-2015; Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2016, tr. 105.

[3] Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 5 năm 2011-2015; tlđd.

[4] Nguồn: Năng suất lao động Việt Nam: Thực trạng và giải pháp; Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2016, tr.15.

 

[5] Theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước Quốc hội ngày 02/11/2016 thì hiện nay, đã có gia trại sản xuất lúa gạo xuât khẩu trên diện tích 120 héc ta ngay ở đồng bằng sông Hồng.

Nguyễn Thị Thục Nguyên - Văn phòng Quốc hội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Phương pháp kinh tế - luật trong phân tích chính sách lập pháp (20/09/2018)
Vận dụng nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế tài sản (04/09/2018)
Tăng cường năng lực tham mưu, đề xuất chính sách trong xây dựng thể chế, thực thi pháp luật của Văn phòng Chính phủ (01/08/2018)
Thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên - những kiến nghị hoàn thiện (10/07/2018)
Phát huy hơn nữa vai trò của các chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động lập pháp (22/06/2018)
Tăng cường quản lý chính sách dân tộc trên cơ sở phân định miền núi, vùng cao và vùng dân tộc thiểu số theo trình độ phát triển (15/06/2018)
Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta (12/04/2018)
Tăng cường quản lý chính sách dân tộc trên cơ sở phân định miền núi, vùng cao và vùng dân tộc thiểu số theo trình độ phát triển (15/06/2018)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Hoàn thiện các quy định của Luật Thuơng mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ Luật Dân sự năm 2015

Quyền được tiếp cận thông tin và quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư

Vai trò của Quốc hội trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Một số vấn đề về thời điểm đặc xá

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân