Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ ba, 06/01/2009, 11:33(GMT+7)
Chính sách

Tính hai mặt của chính sách chống lạm phát
Các nước khác nhau có những lý do, cách thức và kết quả chống lạm phát khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều giống nhau ở chỗ: trong quá trình chống lạm phát thường gặp phải tính chất hai mặt của bản thân chính sách chống lạm phát được lựa chọn. Nếu không nhận diện và tính đến đầy đủ các tác động ngược, “âm tính” hoặc là hệ quả phụ của chính sách chống lạm phát sẽ gây ra những tác nhân trực tiếp hay gián tiếp tạo xung lực mới cho các vòng xoáy lạm phát hay sự mất giá của tiền trong nền kinh tế, đặc biệt trong các nền kinh tế chuyển đổi.

                                                               

1. Tính hai mặt của chính sách tự do hoá giá cả

Bản thân việc tự do hoá giá cả và công nghệ xử lý quá trình này đều ẩn chứa trong nó những xung lực tiềm tàng gây lạm phát.

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá, các chi phí sản xuất không những không được tính đúng mà còn không được thể hiện đầy đủ dưới dạng tiền tệ. Vì thế giá cả mang tính hình thức chính trị và thường là thấp hơn giá trị. Tự do hoá giá cả - bước đi quan trọng đầu tiên của giải pháp thị trường chống lạm phát - là trả giá cả về với quy luật giá trị, là tạo nên mặt bằng giá cả xã hội mới - mặt bằng giá cả thị trường. Quy mô những nhảy vọt về giá khi thực hiện tự do hoá giá cả phụ thuộc vào một loạt nhân tố ở thời điểm tiến hành:

- Mặt bằng giá thực tế trong nước so với chi phí sản xuất và mặt bằng giá thế giới, mức chênh lệch càng cao thì mức nhảy vọt càng lớn. Một khi tiền tệ hoá hoàn toàn các chi phí sản xuất vào giá thì mức nhảy vọt về giá còn lớn hơn nữa.

- Sự mất cân đối tiền - hàng càng lớn, bước nhảy càng cao. Tình trạng nặng nề hơn do tác động cùng chiều của nạn đầu cơ, yếu tố tâm lý và đặc biệt là tình trạng độc quyền cao trong sản xuất. Việc tăng giá độc quyền sẽ khiến các mặt hàng khác tăng theo như một phản ứng dây chuyền và vòng xoáy lạm phát giá xuất hiện. Cơn sốt lạm phát giá thường nhanh chóng đạt tới đỉnh cao của mình vào thời kỳ đầu thực hiện tự do hoá giá cả, vì đây là thời kỳ giải phóng đồng thời các tiềm năng lạm phát tích tụ và bị đè nén suốt thời kỳ dài trước đó, hơn nữa các cơ chế thị trường mới điều tiết chúng chưa kịp hình thành và hoạt động hiệu quả. Điều này giải thích vì sao lạm phát trong nền kinh tế chuyển đổi thường có tốc độ cao hơn hẳn lạm phát trong các nền kinh tế thị trường đã phát triển. Lúc này lạm phát mâu thuẫn với những mục tiêu chủ yếu của cải cách kinh tế vì không cho phép thực hiện được những tính toán kinh tế hợp lý. Tác động của mặt bằng và các tương quan giá xã hội mới đến việc khuyến khích và định hướng đầu tư xã hội cũng mờ nhạt hoặc không vững chắc, thậm chí có thể biến ngược lại do: thứ nhất, mức tăng giá chung quá cao tước mất chức năng tín hiệu của giá; thứ hai, bản thân độ tin cậy của "tín hiệu" giá cả này cũng chưa được bảo đảm; thứ ba, do cơ chế chuyển vốn (ngân hàng và các thị trường vốn) cũng như các cơ chế khuyến khích đầu tư khác chưa phát triển trong nền kinh tế chuyển đổi.

Kinh nghiệm những năm gần đây ở các nền kinh tế chuyển đổi chứng tỏ rằng, để làm dịu cơn sốt giá, trong quá trình tự do hoá giá cả, nhà nước cần duy trì sự kiểm soát nhất định một phần giá bán buôn và giá bán lẻ, cần giữ được  sự ổn định (không phải là cố định) một số tương quan giá quan trọng, mặt khác cần tiến hành tự do hoá giá theo giai đoạn và đồng bộ với mức độ tự do hoá kinh doanh. Đặc biệt, sẽ là “sai lầm chết người” cho sự cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế nói chung, cũng như cho các nỗ lực chống lạm phát nói riêng khi cho phép các doanh nghiệp còn độc quyền hoặc gần như độc quyền được tự do  định giá theo thị trường mà không phải cạnh tranh thị trường đầy đủ, lành mạnh. Khi đó, nguy cơ tăng giá (và kéo theo đó là lạm phátv) độc quyền là không thể tránh khỏi và mang lại lợi ích kép cho các doanh nghiệp đó, do vừa được độc quyền kinh doanh, vừa được hưởng giá và lợi nhuận độc quyền… Bởi vậy, các biện pháp thường áp dụng cho mục đích này là:

+ Một là, khống chế mức giá tối đa và tối thiểu trong một khoảng thời gian xác định nào đó để thúc đẩy sự biến đổi tương quan giá theo hướng mong muốn. Bảo đảm nguyên tắc cung - cầu thị trường, nhà nước chỉ điều chỉnh khi lợi ích xã hội yêu cầu, tránh ngộ nhận và lạm dụng. Giá tối đa không vượt mức giá chung thế giới về cùng loại hàng và dịch vụ đó. Nhà nước cũng có thể quy định mức chi phí cần thiết và lợi nhuận trung bình được hạch toán vào giá trong khoảng thời gian nào đó trên cơ sở các giá tối đa và giá bán các hàng nhập tương tự. Giá tối thiểu dùng để bảo hộ sản xuất trong nước thường áp dụng cho sản phẩm xuất khẩu (lương thực, nguyên liệu). Danh mục các hàng và dịch vụ trong diện điều chỉnh giá là công cụ quan trọng của điều chỉnh giá cả nhà nước, song chúng ngày càng phải thu hẹp dần theo mức ổn định và tự do hoá giá cả xã hội. Cần nhấn mạnh rằng, bản thân việc điều chỉnh giá cũng chứa đựng tiềm năng tạo ra sự nhảy vọt giá: thứ nhất, trong thời kỳ “đông cứng” giá, xí nghiệp sẽ hoặc nâng giá phòng ngừa cho các sản phẩm của mình, hoặc “ủ” hàng chờ giá mới, làm tăng sự khan hiếm. Còn sau thời hạn cấm, họ sẽ tăng mạnh giá bù lại thời kỳ trước; thứ hai, nếu tồn tại quá lâu hệ thống “giá ổn định” trong danh mục sẽ tạo ra hệ thống hai giá - tạo ra sự chênh lệch giữa “giá trần” (nếu được quy định thấp để tránh đầu cơ) và giá thị trường tự do. Kết quả, dù có sự tăng “giá trần” nhưng vẫn không loại bỏ được tình trạng khan hiếm, mà còn gây ra tình trạng đặc biệt vừa khan hiếm hàng và dịch vụ, vừa đẩy nhanh lạm phát mới trong các hàng có giá thả nổi.

+ Hai là, lập quỹ ổn định giá. Nguồn quỹ đa dạng song không thể thiếu được sự đóng góp của ngân sách nhà nước. Việc tài trợ từ quỹ có thể tiến hành theo 3 cách:

++ Trợ cấp trực tiếp cho người tiêu dùng;

++ Hạn chế tăng giá hàng, đồng thời trợ cấp bồi thường các khoản lợi bị mất vì sự hạn chế đó cho người sản xuất - kinh doanh;

++ Lập những dự trữ hiện vật (hàng, nguyên liệu...) điều hoà cung - cầu. Cần lưu ý rằng, chính tại đây, nếu tăng sự can thiệp nhà nước bằng những khoản tài trợ thái quá và bảo hộ thái quá sản xuất nội địa cũng sẽ làm nảy sinh những xung lực lạm phát mới.

+ Ba là, chống độc quyền, bao gồm cả 4 loại: độc quyền về giá, độc quyền về chất lượng, độc quyền về sản xuất và thị trường tiêu thụ, độc quyền về cung ứng và cho phép tăng mức nhập những hàng khan hiếm thiết yếu nhất. Tự do hoá giá cả mà không đi kèm với tăng cạnh tranh thị trường và chống độc quyền tất yếu đưa tới lạm phát giá cả độc quyền. Còn việc tăng nhập ở mức cần thiết sẽ làm “dịu sốt tức thì” những hàng khan hiếm. Song nếu quá lạm dụng biện pháp này thì lại có hại về lâu dài cho sản xuất nội địa, cho khuyến khích đầu tư và cải thiện cơ cấu kinh tế trong nước, và do đó tăng tích luỹ tiềm năng lạm phát tương lai.

2. Tính hai mặt của chính sách cố định hoặc thả nổi tỷ giá hối đoái

Trên bàn cờ kinh tế, nước cờ về ngoại hối là ảo diệu nhất, thần kỳ nhất và cũng có sức phá hoại mạnh nhất. Phạm vi hoạt động của chính sách tỷ giá tuỳ thuộc cùng chiều với mức độ tự do chuyển đổi bản tệ của mỗi nước. Mặt khác, khả năng cạnh tranh của xuất khẩu, trạng thái cán cân thương mại và thanh toán, biến động cơ cấu sản xuất, niềm tin vào bản tệ, vào Chính phủ, vào chương trình cải cách - nghĩa là các nhân tố chi phối mạnh nhịp độ lạm phát - đều phụ thuộc sâu sắc vào tỷ giá hối đoái chính thức. Một sự biến động tỷ giá dù không lớn cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế tuỳ theo mức độ hoà nhập của nó với kinh tế thế giới bên ngoài, nhất là đến mối tương quan giữa tiền tệ trong nước với tiền tệ nước ngoài. Tỷ giá bị chi phối mạnh bởi chính sách ngoại hối,  bởi cung - cầu ngoại hối trên thị trường, và bởi giá cả nội địa.

Bảo đảm và duy trì sự ổn định của nền  kinh tế vĩ mô luôn luôn là yêu cầu thiết yếu cho tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, là mục tiêu hàng đầu và tập trung của tổ hợp các chính sách kinh tế - xã hội của Chính phủ, trong đó có chính sách tỷ giá. Có thể có ổn định và tăng trưởng kinh tế trong điều kiện tỷ giá biến động, không ổn định do sự chi phối của các nhân tố thị trường, do tương quan giá trị giữa các đồng tiền liên quan đến đồng bản tệ, do chính sách ưu tiên cho mục tiêu trước mắt nào đó của Chính phủ v.v.. Song, điều ngược lại không phải bao giờ cũng đúng, ổn định hoá tỷ giá không phải bao giờ cũng giúp ổn định hoá nền kinh tế (đặc biệt là việc cố định hoá tỷ giá một các khiêm cưỡng...). Việc đồng nhất giữa mục tiêu với công cụ - dù là công cụ rất quan trọng trong số các công cụ thực hiện mục tiêu đề ra, là một điều ngộ nhận nguy hiểm, một sai lầm mà các nền kinh tế khu vực Đông Nam Á đã và đang phải trả giá đắt. Đương nhiên, việc ổn định được một tỷ giá bản tệ nào đó phù hợp với giá trị thực tế của nó sẽ là điều kiện lý tưởng để góp phần ổn định hoá nền kinh tế của một nước. Song, trong đa số trường hợp, tỷ giá chịu tác động khách quan của các nhân tố thị trường luôn biến động vượt ra khỏi tầm kiểm soát, khống chế của các nhân tố chủ quan, dù có lực lượng dự trữ tài chính mạnh đến đâu và cơ chế điều tiết thị trường hoàn thiện nhường nào. Vì vậy, tỷ giá phải luôn có sự vận động thích ứng với những biến động đó. Đồng thời, thực tế cũng cho thấy, việc quy định tỷ giá thường có xu hướng thoát ly giá trị thực tế của đồng bản tệ bởi sự phản ứng chậm trễ về chính sách, cơ chế điều tiết, sự bảo thủ hoặc thiên lệch trong ưu tiên một vài mục tiêu kinh tế - xã hội trước mắt nào đó. Thành thử, dưới bề mặt cuả sự ổn định hoá tỷ giá luôn có sự tích tụ lớn dần các vòng xoáy ngầm của các xung lực phát sinh từ sự định giá quá cao hoặc quá thấp đồng bản tệ; các vòng xoáy này sẽ tăng lên theo thời gian và đến lúc nào đó sẽ bộc phát và đủ sức phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế, và do đó, phá vỡ sự ổn định của chính tỷ giá với tư cách là mục tiêu mà chính sách tỷ giá hướng tới. Khi định giá cao đồng bản tệ, các nước thường kỳ vọng vào cái lợi sẽ thu được nhờ làm giảm giá hàng nhập khẩu để giảm chi phí sản xuất, giảm sức ép lạm phát và giảm được chi phí dịch vụ nợ nước ngoài... Tuy nhiên, việc đồng bản tệ được định giá quá cao và kéo dài sẽ trở thành nguyên nhân quan trọng làm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu của nước đó do làm tăng giá thành hàng xuất, và giảm giá hàng nhập tính bằng ngoại tệ; dẫn đến hạn chế xuất khẩu, kích thích nhập khẩu, làm tăng nhập siêu. Hơn nữa, khi định giá bản tệ cao, thường kéo theo sự gia tăng lãi suất tín dụng trong nước, cũng như khoảng cách chênh lệch lớn giữa lãi suất trong nước với lãi suất ngoài nước, kích thích vay nợ nước ngoài dễ dãi, nhất là các khoản vay thương mại ngắn hạn theo lãi suất cao, từ đó nảy sinh những rủi ro tiềm tàng gắn liền với việc đáo hạn các khoản cho vay lại dễ dãi bằng bản tệ, kể cả cho vay kinh doanh có tính đầu cơ bất động sản và những rủi ro gắn với biến động về tỷ giá bản tệ trong tương lai (chi phí dịch vụ nợ sẽ tăng vọt do tỷ giá bản tệ tăng lên đe dọa làm mất khả năng thanh toán khoản nợ đã vay của các con nợ). Hậu quả sâu nặng và lâu dài hơn cả chính là ở chỗ, việc định giá quá cao và kéo dài đồng bản tệ sẽ làm triệt tiêu các động lực phát triển sản xuất trong nước, trước hết là sản xuất và kinh doanh xuất khẩu, làm tăng buôn lậu và tham nhũng, kích thích sử dụng lãng phí ngoại tệ, không coi trọng các nguồn lực trong nước, kích thích nền kinh tế “bong bóng” phát triển trong tình trạng quá nóng và gia tăng liên tục sự thâm hụt cán cân thương mại, cán cân thanh toán tài khoản vãng lai của nền kinh tế và hao hụt nhanh chóng dự trữ quốc gia để giữ giá bản tệ. Rút cuộc, nền kinh tế trở nên nghèo nàn và trống rỗng, những cơ sở kinh tế bảo đảm cho giá trị cao và ổn định của đồng bản tệ bị suy kiệt. Nền kinh tế kém sức cạnh tranh, nguồn thu ngoại tệ bị cạn kiệt trong khi nợ nước ngoài không ngừng tăng lên, sức ép đáo hạn nợ gia tăng, nhu cầu mua vét ngoại tệ để trả nợ tăng vọt, đẩy giá ngoại tệ lên, đồng thời khởi đầu cho sự giảm giá đồng bản tệ không thể kìm giữ kéo theo một loạt hệ quả tiêu cực khác. Khủng hoảng tài chính tiền tệ có thể nổ ra một khi Chính phủ không đủ dự trữ ngoại tệ để can thiệp và thiếu những thiết chế thị trường tự động điều tiết có hiệu quả nhằm "tháo những ngòi nổ nhạy cảm" đe doạ tạo ra cơn bùng phát hoảng loạn và sự đổ vỡ dây chuyền trong toàn bộ nền kinh tế, mà trước hết ở khu vực tài chính ngân hàng.

Ngược lại, khi định giá quá thấp đồng bản tệ (dù do sự chủ động của Chính phủ với hy vọng kích thích xuất khẩu, hoặc do sự bị động gắn với việc buộc phải gia tăng phát hành bản tệ bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước hay để mua vét ngoại tệ trên thị trường nội địa cho nhu cầu trả nợ của Chính phủ...) thì tác hại cũng không kém: sức ép lạm phát gia tăng, chi phí dịch vụ nợ bằng ngoại tệ tăng nhanh, đồng thời giá hàng nhập khẩu cũng bị đẩy lên cùng chiều với tốc độ mất giá bản tệ, cũng như làm thu hẹp nguồn vốn chảy vào và bẻ ghi  dòng vốn đầu tư chảy ra nước ngoài, làm tổn hại đời sống nhân dân... từ đó làm tăng nguy cơ phá sản các doanh nghiệp, làm tăng nạn thất nghiệp và sự bất ổn định lan truyền trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Thậm chí có thể đưa tới sự đổ vỡ nền kinh tế và những chấn động mạnh về thể chế chính trị của đất nước.

Việc nhấn mạnh một chiều (mà không tính đến tác động ngược lại) của các lợi ích do việc ấn định giá trị đồng bản tệ quá cao hoặc quá thấp đem lại, là chỉ tính đến những lợi ích ngắn hạn và chứa đựng trong đó tất cả những hiểm hoạ mà sớm hay muộn sẽ bùng nổ trong tương lai, khiến toàn bộ nền kinh tế phải trả giá đắt hơn so với những lợi ích cục bộ thu được. Cái giá phải trả càng cao nếu mức độ chênh lệch giữa giá trị thực tế và giá trị "ảo" của đồng bản tệ càng lớn và được duy trì càng lâu. Sự đầu cơ quốc tế sẽ làm cho cái giá phải trả này càng trở nên khổng lồ và khó lường trước được. Thành thử cần có chính sách tỷ giá nhất quán, dựa trên việc tìm kiếm thường xuyên sự cân đối tối ưu giữa tính chất tự thân thị trường với sự can thiệp nhà nước. Còn tỷ giá thả nổi - công cụ của nền kinh tế thị trường phát triển - tự nó là một nhân tố gây mất ổn định mạnh trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi chưa phát triển đầy đủ các quan hệ thị trường. Đây chính là tình cảnh “trên đe dưới búa” lưỡng nan của đa số các nước đang phát triển trong khi lựa chọn chính sách tỉ giá chống lạm phát.

Thực tế cho thấy, không có một cơ chế tỷ giá hối đoái nào là tối ưu trong mọi trường hợp, và ổn định tỷ giá là điều kiện tốt cho tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. ổn định tỷ giá không có nghĩa là duy trì tỷ giá bất biến mà vận động dựa trên quan hệ cung cầu thị trường có sự điều tiết tích cực của nhà nước. Có hai phương thức  xác định xu hướng và mức vận động của tỷ giá danh nghĩa ổn định thường được dùng là:

- Xác định một hoặc một số ngoại tệ mạnh mà tỷ giá bản tệ biến động gắn với chúng. Đó có thể là ngoại tệ thường dùng trong thanh toán quốc tế, hoặc đồng tiền của nước bạn hàng chính. Phương thức này đặt cược "số phận" bản tệ vào các nhân tố bên ngoài, và do đó dễ gây ra tình trạng "lạm phát nhập khẩu", đột biến giá cả ngoài tầm quản lý của Chính phủ, tăng tính bị động của chính sách vĩ mô.

- Định kỳ phá giá bản tệ. Ngân hàng Trung ương dự kiến trước mức phá giá bản tệ trong khoảng thời gian xác định trên cơ sở cân nhắc và dự báo cung - cầu về ngoại tệ, tình hình kinh tế - xã hội cụ thể trong, ngoài nước và xu thế vận động của chúng. Tuy vậy, phương thức này cũng ẩn chứa một số nguy cơ lạm phát sau:

 Thứ nhất, khoảng cách của các chu kỳ phá giá nếu không được cân nhắc đầy đủ sẽ gây ra tình trạng hỗn loạn, bất an trong tâm lý và hoạt động kinh tế; sẽ làm gia tăng nạn đầu cơ hoặc thái độ "nghe ngóng" chờ thời của các chủ đầu tư (đặc biệt là khi Chính phủ tạo ra “quy luật” chỉ phá giá hay điều chỉnh tỷ giá một chiều - tức chỉ tăng hay giảm tỷ giá). Hơn nữa, nếu "chốt" tỷ giá quá lâu, sẽ dẫn tới tình trạng định giá quá cao đồng bản tệ và thậm chí có thể dẫn tới thiểu phát.

Thứ  hai, mức phá giá bản tệ, nếu thái quá sẽ gây tình trạng tăng giá hàng nhập khẩu sản xuất, nhất là các ngành có tỉ lệ nhập ngoại nguyên vật liệu cao, sẽ dẫn đến suy thoái sản xuất trong nước, từ đó dẫn thẳng đến “chiếc hố lạm phát”.

Thứ ba, nếu không cân nhắc đến cơ cấu nợ nhà nước (bằng bản tệ và ngoại tệ) thì việc phá giá có thể dẫn đến làm tăng thiệt hại từ các khoản nợ bằng ngoại tệ của Nhà nước, do phải trả nợ bằng những đồng ngoại tệ trở nên đắt đỏ hơn so với khi vay. Mặt khác, do phá giá bản tệ thường dẫn đến tăng giá hàng nội địa và giảm giá trị tài sản tính bằng bản tệ, tác dụng xấu tới cán cân vãng lai, nên để tránh hiện tượng chảy máu tư bản, người ta thường phải tăng lãi suất sau khi tăng tỷ giá. Việc tăng lãi suất dẫn đến hậu quả giảm khả năng đầu tư trong nước, giá hàng nội địa tăng, kém cạnh tranh hơn so với hàng nhập khẩu. Việc phá giá bản tệ còn làm giảm lương thu nhập và mức sống của người lao động. Việc kéo dài mức sống thực tế nghèo đói của người lao động sẽ làm giảm cầu, thu hẹp thị trường tiêu thụ, giảm sản xuất và tác động xấu tới công cuộc cải tổ. Nếu tăng lương danh nghĩa để bù đắp thiệt hại về thu nhập này sẽ lại đẩy giá tăng, lạm phát và khủng hoảng kinh tế. Chính tình thế lưỡng nan này khẳng định tính chất "con dao hai lưỡi" của biện pháp phá giá bản tệ và sự cần thiết phải thận trọng khi sử dụng nó.

Do vậy, sự phá giá bản tệ sẽ là nhân tố ổn định chỉ khi những biện pháp phối hợp của chính sách tiền tệ không làm tăng cung tiền và "tiền tệ hoá" sự thiếu hụt ngân sách - một việc làm sẽ khiến gia tăng lạm phát và đặt đất nước trước sự phá giá mới. Việc phá giá nếu không được quản lý tốt sẽ dễ tạo ra vòng xoáy lạm phát chóng mặt của lạm phát - phá giá bản tệ - lạm phát... để rồi đi tới sự sụp đổ bản tệ.

Vòng xoáy này thường đi kèm với một vòng xoáy khác có cùng nguyên nhân, cơ chế và hậu quả tác động - đó là vòng xoáy: lạm phát - nạn ngoại tệ hoá (đô la hoá) - tăng tỷ giá - tăng lạm phát.

Là đặc trưng cho thời kỳ đầu của nền kinh tế chuyển đổi, nạn ngoại tệ hoá có quan hệ trực tiếp tới chính sách tỷ giá và tăng tỷ lệ thuận với mức mất giá cuả bản tệ nhằm tự bảo vệ thu nhập của cả người kinh doanh lẫn tiêu dùng trước lạm phát. Về lâu dài, nạn ngoại tệ hoá làm mất lòng tin vào bản tệ, làm yếu tác động điều chỉnh của Ngân hàng Trung ương, vì nó tạo ra những khoảng "chân không" nằm ngoài tác động của các chính sách dự trữ và thanh toán. Khi đó tỷ giá hối đoái trở thành công cụ điều tiết chính đời sống kinh tế, còn hiệu quả tác động lẫn nhau giữa các chính sách tài chính - tiền tệ - tín dụng và ngoại hối bị giảm sút, mà sự tác động này là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho sự hoạt động của bản tệ và nền kinh tế chuyển đổi. Tuỳ theo mức thu hẹp phạm vi lưu thông do đồng bản tệ phục vụ mà mức dư thừa của phát hành tiền tệ tăng lên (kể cả những đồng tiền phát hành chỉ nhằm mua ngoại tệ vào dự trữ), điều này trực tiếp làm gia tăng lạm phát. Cùng với tình trạng buôn lậu qua biên giới, nạn ngoại tệ hoá còn đưa đến việc làm tăng dòng chảy ngoại tệ ra nước ngoài, làm suy giảm nguồn tài lực cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước.

3. Tính hai mặt của chính sách lãi suất cao

Để khắc phục nạn ngoại tệ hoá, một mặt, cần tìm cách tăng nguồn cung ngoại tệ để cân bằng cung cầu ngoại tệ, giữ ổn định tương đối tỷ giá và đưa tỷ giá chính thức gắn với tỷ giá thị trường; phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thắt chặt kiểm soát sử dụng ngoại tệ đi đối với mở rộng thị trường vàng, bạc, đá quý trong nước. Mặt khác, cần có chính sách đề cao bản tệ mà tiêu biểu là chính sách lãi suất thực dương đối với tiền gửi tiết kiệm, thu hẹp chênh lệch quá cao giữa lãi suất đồng bản tệ và ngoại tệ v.v.. Song cũng chính tại đây, cần nhấn mạnh rằng, bản thân chính sách lãi suất thực dương phải được sử dụng sao cho không gây ra "phản ứng phụ", tạo ra chiếc bẫy lạm phát trái ngược với mục tiêu ban đầu chống lạm phát của nó. Về nguyên tắc, sự lên xuống mạnh của lãi suất là một tín hiệu và biểu hiện của một cuộc chấn động kinh tế, và khi đó hiệu quả của chính sách lãi suất sẽ bị suy giảm rất nhiều trong việc thực thi mục tiêu của chính sách tiền tệ. Việc tăng lãi suất được sử dụng như một công cụ để bảo vệ tỷ giá hối đoái trước sự biến động nhanh chóng của các luồng vốn trên thị trường quốc tế và trước những thiếu hụt trong cán cân thanh toán quốc tế. Nâng lãi suất sẽ kích thích hạn chế tiêu dùng, tăng tích trữ hàng hoá và vàng, làm tăng tiền gửi và sử dụng tiết kiệm các khoản vay, làm giảm cầu tín dụng, thu hẹp nhập khẩu. Mức lãi suất càng cao hơn mức lạm phát thì tác động tức thời của nó đến việc giảm phát càng rõ rệt. Tuy nhiên, lãi suất quá cao sẽ hạn chế đầu tư xã hội, dẫn đến tăng đình trệ suy thoái, thất nghiệp và phá sản. Ngoài ra, mức lãi suất cho vay cao "ở đầu vào" sẽ được người vay tự động chuyển vào giá cả "ở đầu ra", làm tăng mức giá chung. Thêm nữa, nguyên tắc thị trường đòi hỏi tiền huy động được phải sinh lợi thông qua cho vay lại hoặc đầu tư, nếu không muốn gây áp lực lạm phát tương lai bởi gánh nặng nợ lãi huy động cho ngân hàng và ngân sách nhà nước. Đặc biệt, lãi suất cao còn có thể làm gia tăng lượng cung tiền từ nước ngoài, từ đó làm tăng áp lực lạm phát tiền tệ . Điều này càng rõ nét và nguy hiểm trong bối cảnh tự do hoá tài chính cao theo cam kết hội nhập trong các tổ chức kinh tế quốc tế (vì nếu lãi suất cao thì dòng vốn nước ngoài đổ vào gửi hoặc cho vay trong nước càng cao nhằm hưởng chênh lệch lãi suất so với thị trường lãi suất khu vực và quốc tế). Vì thế, mức lãi suất luôn được khuyến nghị tuân theo bất phương trình sau: L1<L2<L3<L4, trong đó L1: mức lạm phát; L2: lãi tiền gửi; L3: lãi cho vay và L4: lợi nhuận bình quân xã hội trong cùng kỳ hạn lãi suất. Nhiệm vụ của Nhà nước là lựa chọn mức "trần" lãi suất sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể và mục tiêu vĩ mô kinh tế - xã hội của mình. Đồng thời, phải có những biện pháp khắc phục hậu quả của nâng cao lãi suất, nếu không sẽ vấp phải vòng xoáy mới của lạm phát khi lãi suất hạ xuống làm mở rộng tín dụng, tăng cung tiền tệ và tăng thêm sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán tuỳ theo mức độ phản ứng cuả các tác nhân kinh tế.

4. Tính hai mặt của chính sách tự do hoá ngoại thương

Có nhiều nguyên nhân được đưa ra để biện hộ cho một nước đang phát triển duy trì chính sách bảo hộ sản xuất trong nước: bảo đảm công ăn việc làm trong nước ở những ngành có hàm lượng lao động cao, bảo vệ và phát triển năng lực sản suất trong thời kỳ đầu phát triển, nhất là các ngành công nghiệp trẻ, tránh biến thị trường trong nước thành bãi thải máy móc và công nghệ thế giới, đồng thời chống bán phá giá của các hãng cạnh tranh nước ngoài v.v.. nghĩa là nhằm bảo đảm từng bước tăng tổng cung và tổng cầu, tăng dung lượng thị trường và quan hệ cân đối, lành mạnh của cung - cầu trong nước, giữ ổn định giá cả trong nước.

Tuy nhiên, sức ép tự do hoá ngoại thương ngày càng tăng lên và mang tính khách quan, xuất phát trước hết từ nguyên lý phát huy lợi thế so sánh của mỗi nước, theo đó tổng khối lượng sản phẩm làm ra sẽ là lớn nhất, hiệu quả nhất khi mà mỗi hàng hoá sẽ được sản xuất tại quốc gia có giá thành thấp nhất. Mở rộng ngoại thương là biện pháp mà nhờ đó, các nước có thể phát triển chuyên môn hoá, nâng cao năng suất khai thác các nguồn lực, kích thích cạnh tranh lành mạnh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng, do đó tăng tổng khối lượng sản xuất với chi phí thấp nhất. Bảo hộ quá mức gây thiệt hại không chỉ cho người tiêu dùng, mà cả cho nền kinh tế nói chung, vì làm tăng giá cả mặt hàng được bảo hộ (do đó góp phần làm tăng mặt bằng giá chung của xã hội), làm tăng nguy cơ tụt hậu xuất phát từ 2 phía: thứ nhất, làm sản xuất trong nước đứng lại và chi phí sản xuất cao, giá tăng, do thị trường trong nước không được mở rộng, còn thị trường ngoài nước bị thu hẹp trước sự "trả đũa" bằng bảo hộ của các đối tác nước ngoài; thứ hai, việc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu để thực hiện bảo hộ lại tạo điều kiện hợp thức hoá hoạt động của những chi nhánh công ty xuyên quốc gia đang có mặt ở trong nước, để chúng nâng cao giá, hưởng lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả, sản xuất và người tiêu dùng trong nước chịu thiệt, chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài được lợi. Hơn nữa, một nước quá nhấn mạnh sản xuất thay thế nhập khẩu sẽ còn vấp phải vấn đề nan giải là thiếu hụt ngày càng lớn lượng ngoại tệ nhập nguyên, vật liệu phục vụ sản xuất hàng thay thế nhập khẩu. Rõ ràng, việc thiếu cạnh tranh do bảo hộ thái quá sẽ bóp méo giá cả, làm sai lệch tín hiệu thị trường và phân bổ, định hướng sai các nguồn lực cần thiết và còn hạn hẹp của chính nước đang phát triển chủ trương bảo hộ cứng nhắc thị trường của mình. Vì thế, dưới góc độ chống lạm phát, những nguyên tắc bảo hộ thường được nhấn mạnh là: chỉ bảo hộ những ngành có lợi thế so sánh có triển vọng và cần thiết phải phát triển; bảo đảm sự cạnh tranh cần thiết; không được kéo dài lâu và áp dụng đại trà; cân nhắc đến lợi ích của người tiêu dùng; áp dụng chung cho mọi loại hình doanh nghiệp; không làm gia tăng tình trạng buôn lậu không thể kiểm soát do điều kiện địa lý tự nhiên v.v...

Mặt khác, nếu tự do hoá quá nhanh, thiếu kiểm soát ngoại thương, cũng làm phát sinh những tác động tiêu cực cho mục tiêu phát triển kinh tế, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và kiềm chế lạm phát.

Tự do hoá ngoại thương đương nhiên làm tăng độ nhạy cảm của nền kinh tế, tăng sự thúc đẩy lẫn nhau giữa sự mất giá trong và ngoài nước, điều đó cũng có nghĩa là làm tăng các yếu tố mất ổn định nhiều khi vượt ngoài tầm kiểm soát vĩ mô của nhà nước, tạo nên cái gọi là nguy cơ "lạm phát nhập khẩu". Điều này càng rõ nét vào thời kỳ đầu cải cách, những thiết chế thị trường chưa được tạo lập và hoạt động đồng bộ. Hơn nữa, việc tự do hoá ngoại thương có thể gây ra tình trạng đặc biệt "giá trị gia tăng âm", càng làm càng lỗ cho cả người sản xuất lẫn kinh doanh ngoại thương. Nguyên nhân thuộc về chính sách tỷ giá, về sự lạc hậu công nghệ làm tăng chi phí, đẩy giá cao hơn giá thế giới. Khi đó lạm phát sẽ gia tăng do hai khả năng của sự thái quá: hoặc là tăng sự can thiệp nhà nước bằng những khoản tài trợ thái quá và bảo hộ vô điều kiện những người sản xuất nội địa; hoặc là coi nhẹ sự can thiệp nhà nước dẫn đến tăng mâu thuẫn và xung đột xã hội, gây ra mất ổn định vĩ mô. Còn cần kể thêm rằng, nếu không được định hướng và quản lý ở mức độ cần thiết, tự do hoá nhập khẩu sẽ không chỉ làm giảm nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu, mà còn làm tăng nạn chảy máu vàng và ngoại tệ do nhập thái quá những hàng tiêu dùng trong nước có thể sản xuất được, hoặc những hàng tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng thu nhập cho phép của năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế, làm cạn kiệt dự trữ vàng và ngoại tệ quốc gia, làm gia tăng nợ nước ngoài, kích thích thói quen tiêu dùng hàng ngoại, tư tưởng “sính ngoại” - yếu tố bất lợi cho sản xuất và tiêu thụ hàng trong nước. Kết quả, không chỉ làm tăng giá hàng trong nước (do sự thúc đẩy giá lẫn nhau giữa hàng nhập cao cấp và hàng khác) mà còn gây lãng phí nguồn vốn, giảm tỷ lệ tích luỹ cho phát triển và chèn ép sản xuất nội địa. Nạn buôn lậu qua biên giới cũng góp phần theo hướng tác động trên, và còn gây thất thu ngân sách, làm giảm hiệu lực của những chính sách quản lý vĩ mô nhà nước. Vì thế, tự do hoá ngoại thương phải được tiến hành từng bước, có quản lý, phù hợp với những điều kiện khách quan cho sự phát triển tiếp theo của nó. Cần có sự kết hợp chức năng phối hợp, kích thích của Nhà nước và chủ nghĩa bảo hộ, với tự do hoá thị trường, song song với đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của hàng nội địa, và đóng cửa những xí nghiệp nào làm ăn quá kém mà mọi sự trợ giúp nhà nước chỉ kéo dài cơn hấp hối của chúng mà thôi.

 

(Kỳ sau đăng tiếp)

 

 

TS. Nguyễn Minh Phong
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Phòng ngừa tham nhũng liên quan đến doanh nghiệp (02/01/2009)
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái - giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học (23/12/2008)
ODA và cuộc chiến chống tham nhũng - nhìn từ góc độ nhà nước và thể chế (12/12/2008)
Tác động và bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ (24/11/2008)
Triển vọng thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội Việt Nam 2008 (06/11/2008)
Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam - mối liên hệ với phát triển bền vững và biến đổi khí hậu (17/10/2008)
Ưu tiên hoàn thiện pháp luật phù hợp với chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong điều kiện vận hành của cơ chế kinh tế thị trường (02/10/2008)
Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam - mối liên hệ với phát triển bền vững và biến đổi khí hậu (17/10/2008)
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 06/01/2009
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân