Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/07/2018, 05:24(GMT+7)
 
Chính sách

Thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên - những kiến nghị hoàn thiện
Thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên - những kiến nghị hoàn thiện
Ảnh minh họa: Internet

Tóm tắt: Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đầu tư nguồn lực lớn để phát triển kinh tế - xã hội gắn với chính sách dân tộc ở Tây Nguyên. Xác định “giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu”, nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục, đào tạo cho Tây Nguyên được Đảng, Nhà nước ta ban hành, tạo tiền đề, động lực cho sự phát triển bền vững của khu vực. Tuy nhiên, chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói riêng vẫn đang đối diện với nhiều thách thức, cần phải được tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.

Từ khóa: chính sách giáo dục, giáo dục dân tộc, học sinh dân tộc thiểu số, Tây Nguyên

Abstract: The Communist Party and State have used huge resources for socio-economic developments in association with the ethnic policy in the Central Highlands. It is defined "education and training as the top national policy", and a series of specific guidelines and policies on ethnic minority education have been released to support and encourage the sustainable developments of Central Highlands. However, the ethnic education policy is still facing many challenges, still cannot solve all the local difficulties and it needs to be further reviewed and improved in coming time.

Key words: Education policy; ethnic education; pupils of ethnic minorities; Central Highlands

 

1.  Chính sách phát triển giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

Hệ thống chính sách về phát triển giáo dục, đào tạo của Nhà nước được ban hành và thực hiện đối với học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Nguyên gồm 2 nhóm: chính sách quốc gia có phạm vi, hiệu lực trên toàn quốc (trong đó có các đối tượng điều chỉnh hoạt động trên địa bàn Tây Nguyên) và chính sách đặc thù được ban hành và có hiệu lực riêng đối với Tây Nguyên.

1.1 Nhóm chính sách quốc gia được thực hiện ở Tây Nguyên

Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Trẻ em năm 2016… đều có các quy định để bảo đảm quyền được giáo dục của học sinh DTTS. Bên cạnh đó, Nhà nước còn ban hành nhiều chính sách, quy định liên quan đến phát triển giáo dục, đào tạo như chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập theo quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ; các chính sách đối với trẻ em và học sinh mẫu giáo, giáo viên mầm non theo Quyết định số 60/2011-QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách ưu tiên cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, dự bị đại học, các trường chuyên nghiệp đối với học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông ở các trường phổ thông dân tộc nội trú (DTNT); chính sách dạy nghề đối với học sinh DTTS nội trú theo Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách khuyến khích nhà giáo dạy học ở các vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS và giáo dục hòa nhập theo Nghị định số 35/209/QH12 của Quốc hội khóa XII;… Các chính sách đó đã góp phần động viên, tạo điều kiện cho con em các DTTS đến trường, nâng cao chất lượng học tập.

1.2 Nhóm chính sách dành riêng cho Tây Nguyên

         Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành những chính sách về phát triển giáo dục, đào tạo dành riêng cho Tây Nguyên. Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 18/01/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001- 2010”; Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 01/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề các tỉnh Tây Nguyên và các huyện miền núi của các tỉnh giáp Tây Nguyên giai đoạn 2011 - 2015; Quyết định số 276/QĐ-TTg ngày 18/2/2014 của Thủ tướng về Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 12-KL/TW ngày 24/10/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-LK/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020; Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 09/6/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện các chính sách được quy định tại Quyết định số 1951/QĐ-TTg đến hết ngày 31/12/2020. Đó là những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước đối với giáo dục và đào tạo vùng Tây Nguyên.

Bên cạnh các chính sách của trung ương, chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên còn ban hành các chính sách hỗ trợ riêng của mình (với nguồn tài chính từ ngân sách tỉnh). Điển hình là Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Kon Tum trong việc thực hiện Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg hỗ trợ tiền ăn cho học sinh trong các trường dân tộc bán trú; Quyết định số 143/QĐ-UB ngày 26/01/2010 của UBND tỉnh Đăk Nông về chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên người DTTS tỉnh Đăk Nông; Nghị quyết số 31/2016/NQ-HĐND ngày 06/9/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên DTTS thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Đăk Nông từ năm học 2016-2017 đến năm học 2020-2021; tỉnh Đăk Lăk triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ cho học sinh ở các trường phổ thông DTNT, bán trú, học sinh học tiếng Êđê, giáo viên dạy tiếng Êđê, thực hiện chính sách hỗ trợ sách giáo khoa cho học sinh nghèo …

Những chính sách trên đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục dân tộc ở Tây Nguyên nói riêng, thực hiện công bằng trong giáo dục, nâng cao mặt bằng dân trí, là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững Tây Nguyên.

2. Kết quả thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

2.1 Những kết quả đạt được

Nhìn chung, các chính sách phát triển giáo dục dân tộc đã được các địa phương tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, kịp thời; vì vậy thời gian qua mặc dù còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng sự nghiệp giáo dục Tây Nguyên đã thu được nhiều kết quả quan trọng.

Trong vùng DTTS, nhận thức về giáo dục ngày càng chuyển biến rõ nét. Với phương châm có dân sinh là có trường lớp, đến nay phần lớn các thôn, buôn, làng, các xã ở các tỉnh Tây Nguyên đều có nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trung học cơ sở thu hút ngày càng đông các cháu trong độ tuổi đến trường. Phần lớn các trường học ở vùng đồng bào DTTS tại chỗ đều được xây dựng kiên cố, bán kiên cố, không còn tranh tre nứa lá, không còn tình trạng học 3 ca, mà số trường tiểu học tổ chức học 2 buổi/ngày ngày càng tăng lên. Riêng về hệ thống các trường phổ thông DTNT những năm gần đây được đặc biệt quan tâm. Hiện nay tất cả các huyện có từ 10.000 người DTTS trở lên đều có trường phổ thông DTNT. Năm học 2016 - 2017, Tây Nguyên có 59 trường phổ thông DTNT (tăng 15 trường so với năm học 2011 - 2012), trong đó 06 trường cấp tỉnh và 53 trường cấp huyện. Tổng số học sinh phổ thông DTNT Tây Nguyên năm học 2016 - 2017 là 14.454 học sinh (trong đó cấp tỉnh là 3.249 học sinh và cấp huyện là 11.205 học sinh). Tỷ lệ học sinh học trường phổ thông DTNT so với học sinh DTTS cấp trung học của vùng là 7,23% (tăng 0,57% so với năm học 2010 - 2011)[1].

Để tạo điều kiện thuận lợi cho con em đồng bào DTTS ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa đến trường, các tỉnh Tây Nguyên cũng chú trọng phát triển về quy mô, mạng lưới trường phổ thông dân tộc bán trú (DTBT). Nếu năm học 2012 -2013, toàn vùng có 5 tỉnh có trường phổ thông DTBT, gồm 81 trường và 10.682 học sinh bán trú, thì đến năm học 2016 -2017, toàn vùng có 97 trường và 12.753 học sinh bán trú. Chất lượng giáo dục của hệ thống trường phổ thông DTBT ngày càng được nâng lên. Năm học 2016-2017, số học sinh hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp trung học cơ sở 92%; số học sinh đạt thành tích từ cấp huyện trở lên chiếm 3% ở cả 2 cấp học; số trường đạt chuẩn quốc gia ở cấp tiểu học là 05 trường, cấp trung học cơ sở 01 trường. Kết quả này đã khẳng định chất lượng giáo dục của các trường phổ thông DTBT ở Tây Nguyên đã đạt được nhiều tiến bộ rõ rệt, mặt bằng chất lượng có thể đặt ngang bằng với các trường có điều kiện thuận lợi của vùng[2]. Hệ thống trường phổ thông DTBT đã và đang làm thay đổi tích cực chất lượng giáo dục ở Tây Nguyên hiện nay. Sự phát triển ổn định về quy mô, số lượng và nâng cao chất lượng đã góp phần huy động tối đa học sinh trong độ tuổi tới trường, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; góp phần quan trọng vào việc cũng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS ở Tây Nguyên.

Các tỉnh Tây Nguyên cũng phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, biên soạn nhiều tài liệu, sách giáo khoa… bằng tiếng DTTS (tiếng nói, chữ viết của người DTTS có đông dân số nhất ở từng địa phương) đưa vào giảng dạy ở các trường tiểu học tại các vùng đồng bào DTTS, các trường phổ thông DTNT. Tính đến năm học 2016 -2017, toàn vùng Tây Nguyên có 107 trường, 626 lớp, với 14.964 học sinh học tiếng Ê Đê, 84 trường, 392 lớp với 8.726 học sinh học tiếng Jrai; 26 trường, 68 lớp với 1.991 học sinh học tiếng Bana[3]. Bên cạnh đó, việc bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng dân tộc và bồi dưỡng phương pháp dạy học tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai cho học sinh DTTS được các cơ sở giáo dục và đào tạo triển khai tích cực, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng dạy học, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên.

Giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học cũng được phát triển mạnh. Đến nay, Tây Nguyên có 05 trường đại học, 04 phân hiệu/cơ sở của các trường đại học và 9 trường cao đẳng. Với quy mô sinh viên chính quy tại các trường trên địa bàn của vùng năm học 2016-2017 là 31.386 sinh viên, chiếm 1,77 tổng số sinh viên cả nước (trong đó sinh viên đại học là 19.980 và cao đẳng là 11.406), tỷ lệ sinh viên người DTTS đạt từ 18% -20% trở lên trong tổng số sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trong vùng[4].

Một trong những chính sách phát triển giáo dục dân tộc là thực hiện chế độ cử tuyển học sinh dân tộc tốt nghiệp trung học phổ thông vào theo học tại các trường đại học, cao đẳng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh dân tộc được tiếp cận giáo dục trình độ cao và tạo nguồn cán bộ DTTS tương lai. Trong những năm qua, đã có hàng nghìn con em đồng bào dân tộc Tây Nguyên được cử tuyển vào học tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trong vùng và trên cả nước.

Các tỉnh Tây Nguyên thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với học sinh DTTS như cấp miễn phí sách, vở, đồ dùng học tập, bảo hiểm y tế, cấp học bổng, tín dụng cho học sinh, sinh viên, ưu tiên trong tuyển sinh, đào tạo theo địa chỉ sử dụng… Nhờ có các chính sách hỗ này, nhiều con em đồng bào DTTS được học tập, đào tạo, góp phần tăng t lệ các em đến trường. Con em các dân tộc đều có người học đại học, cao đẳng và các trường dạy nghề. Nhiều em đã có những nỗ lực và đạt thành tích cao trong học tập, qua đó đã bổ sung thêm một nguồn lực được đào tạo cơ bản phục vụ cho các vùng đồng bào DTTS.

2.2 Những hạn chế, khó khăn

Thực tế cho thấy, các chính sách của Nhà nước đã đi vào cuộc sống và đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục, đào tạo vùng DTTS Tây Nguyên phát triển. Tuy nhiên, chính sách giáo dục dân tộc hiện nay vẫn đang đối diện với nhiều thách thức, vẫn chưa thể giải quyết được hết những khó khăn của địa phương, cụ thể như:

Nhìn chung chất lượng học tập của học sinh DTTS trên địa bàn Tây Nguyên còn thấp, còn có sự chênh lệch lớn về chất lượng giáo dục giữa học sinh người DTTS và học sinh người Kinh. Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, khoảng cách từ nhà ở đến trường học còn lớn, nhiều hộ đồng bào dân tộc nghèo còn thói quen đưa con đi rẫy, chưa quan tâm, chăm lo đến việc học tập của con cái.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đối với giáo dục mầm non còn thiếu và chưa đồng bộ. Tỷ lệ phòng bán kiên cố còn chiếm quá nửa tổng số phòng học, còn nhiều điểm trường nhỏ lẻ, phân tán. Tỷ lệ nhập học ở bậc mẫu giáo thấp, chỉ đạt 33%, bằng 2/3 mức trung bình của cả nước (khoảng 46,4%)[5]. Tỷ lệ đi học mẫu giáo của các em DTTS thấp dẫn đến việc các cháu chưa được chuẩn bị tốt về k năng nói tiếng Việt trước khi vào lớp 1, khiến các cháu gặp rất nhiều khó khăn khi đi học, làm hạn chế khả năng tiếp thu kiến thức và học tập hòa nhập, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ bỏ học cao và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng học tập của những năm học tiếp theo.

Nguồn lực đầu tư cho giáo dục dân tộc nội trú chưa đáp ứng yêu cầu. Đa số các trường phổ thông DTNT cấp huyện được đầu tư xây dựng từ những năm 80, 90 của thế kỷ trước, nên hầu hết các hạng mục công trình đã xuống cấp trầm trọng; nhiều hạng mục phục vụ cho hoạt động giáo dục và nuôi dưỡng học sinh chưa được đầu tư như: phòng học bộ môn, thư viện, nhà tập đa năng, phòng y tế, công trình vệ sinh, nước sạch… Vì vậy, nhu cầu xây mới, bổ sung, nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất trường phổ thông DTNT của các tỉnh Tây Nguyên rất lớn, trong khi nguồn vốn chủ yếu bố trí từ Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục đào tạo hàng năm rất hạn hẹp. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng dạy học và các hoạt động giáo dục của nhà trường.

Việc thực hiện một số chính sách đặc thù về giáo dục, đào tạo ở vùng đồng bào DTTS chưa tốt. Đặc biệt là các chính sách như: cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ mặc dù rất thiết thực nhưng triển khai kém, chất lượng đào tạo và sử dụng chưa cao[6]. Nhận thức về chính sách này còn khác nhau nên một số địa phương không mặn mà khi triển khai thực hiện các chính sách này.

 Việc triển khai một số chính sách có lúc, có nơi còn chậm trễ, thiếu đồng bộ, thực hiện chưa tốt; một số chính sách đối với giáo viên, nhân viên, học sinh vùng DTTS khó khăn vẫn còn hạn chế, bất cập về đối tượng được hưởng, định mức, thời gian hưởng, phương thức hỗ trợ[7]… hầu hết các địa phương vùng DTTS tỷ lệ hộ nghèo cao, điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên mặc dù đã được ưu tiên, nhưng do nguồn lực ngân sách có hạn nên chưa đáp ứng được nhu cầu kinh phí đầu tư thực hiện các mục tiêu giáo dục và đào tạo; vẫn còn thiếu cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển giáo dục dân tộc Tây Nguyên.

3. Một số kiến nghị phát triển giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò của giáo dục dân tộc, nâng cao ý thức tự học của mọi tầng lớp nhân dân

Triển khai và nâng cao các hoạt động tuyên truyền, vận động đổi mới trong toàn xã hội về vai trò của giáo dục dân tộc đối với công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao tri thức, nâng cao chất lượng cuộc sống trong vùng đồng bào dân tộc, thúc đẩy sự phát triển bền vững Tây Nguyên. Theo đó, phát triển bền vững phải trên cơ sở nền giáo dục - đào tạo toàn diện, tiên tiến luôn luôn được đổi mới. Cần tăng cường phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí của trung ương và địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với phát triển giáo dục dân tộc để có được sự thống nhất từ nhận thức đến hành động của lãnh đạo các cấp và người dân quan tâm, nâng cao ý thức học tập, thúc đẩy sự phát triển giáo dục dân tộc.

Hai là, rà soát các chính sách phát triển giáo dục dân tộc; điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Tiếp tục thực hiện đầy đủ và kịp thời các chính sách hiện hành về phát triển giáo dục nói chung, các chính sách giáo dục đối với học sinh DTTS ở Tây Nguyên nói riêng. Rà soát lại các chính sách hiện hành, trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung, ban hành các chính sách phát triển giáo dục và đào tạo vùng DTTS giai đoạn mới cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, chú ý đến những chính sách đặc thù cho giáo dục dân tộc Tây Nguyên.

Ba là, rà soát, quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở giáo dục, đào tạo

Tập trung đầu tư nguồn lực sớm kiên cố hóa, chuẩn hóa cơ sở vật chất trường lớp ở tất cả các cấp học đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Các địa phương trong vùng cần rà soát lại mạng lưới các cơ sở giáo dục. Trước mắt cần ưu tiên đầu tư xây dựng trường học mới cho các xã chưa có trường mầm non, khắc phục tình trạng trường học xuống cấp, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất các điểm trường lẻ để tăng quy mô huy động trẻ đến lớp, cần phát triển hệ thống trường lớp mầm non đến tận cụm điểm dân cư để tăng tỷ lệ các cháu được đi học mẫu giáo trước khi được vào học lớp 1; ưu tiên nguồn vốn để từng bước hoàn thiện mạng lưới các trường học phổ thông, bảo đảm đáp ứng nhu cầu đi học của học sinh trong độ tuổi. Quy hoạch giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học phải đảm bảo tính liên thông, gắn chặt với các chỉ số phân luồng giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh DTTS và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Bốn là, xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, nhà giáo phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Nâng dần đội ngũ, cán bộ, giáo viên là người DTTS ở các cấp quản lý giáo dục và trong các cơ sở giáo dục; làm tốt công tác cử tuyển; gắn đào tạo với sử dụng, đảm bảo đúng số lượng, cơ cấu, ngành nghề, trình độ, chức danh theo địa chỉ, đảm bảo yêu cầu công tác, xây dựng đội ngũ giáo viên là người DTTS đạt chuẩn. Ở cấp học mầm non, tiểu học có số lượng lớn học sinh DTTS theo học nên bố trí giáo viên đứng lớp là người DTTS, điều này là cần thiết và hợp lý khi nhiều học sinh dân tộc vào lớp Một còn chưa nói thạo hoặc thậm chí chưa biết nói tiếng Việt. Bố trí một phần kinh phí phù hợp từ nguồn ngân sách chi cho đào tạo, bồi dưỡng của địa phương để ưu tiên bồi dưỡng tiếng DTTS cho giáo viên bậc học mầm non và tiểu học công tác tại các vùng đồng bào DTTS. Thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách cho giáo viên và cán bộ quản lý, đặc biệt phải ưu tiên tối đa cho các nhà giáo đang công tác tại vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.

Năm là, đổi mới chương trình giáo dục các cấp học và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo

Tập trung nghiên cứu cải tiến phương pháp, nội dung, chương trình học và các bộ sách giáo khoa phù hợp với học sinh DTTS. Cả chương trình học cũng như nội dung kiến thức trong sách giáo khoa cần được điều chỉnh theo hướng phù hợp với khả năng của học sinh DTTS, nhất là cấp tiểu học, tạo điều kiện cho các em được tiếp cận ngay với tiếng Việt từ cấp học mầm non và tiểu học nhằm nâng khả năng tiếp thu của các em, góp phần giải quyết tình trạng học sinh bỏ học và không nắm được kiến thức cơ bản. Từng bước đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học, tăng cường các hoạt động xã hội, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh DTTS.

Sáu là, nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho đồng bào DTTS

 Trong thời gian tới, các tỉnh Tây Nguyên đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng chính sách về dân tộc, miền núi nói chung, Tây Nguyên nói riêng mang tính tập trung, có nhiều nội dung, giải quyết nhiều mục tiêu với nguồn lực đủ mạnh cho từng vùng. Nhất là ưu tiên giải quyết đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt, đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động; thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng DTTS quản lý để phát triển trồng, chăm sóc, bảo vệ và khai thác rừng hiệu quả; hỗ trợ phát triển sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, kết nối thị trường tiêu thụ; hỗ trợ đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới hồ chứa, công trình thủy lợi, hỗ trợ khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất… để góp phần nâng cao chất lượng đời sống đồng bào DTTS Tây Nguyên./.


 



[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo: Báo cáo tình hình phát triển giáo dục và đào tạo vùng Tây Nguyên năm 2017.  

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh: Tài liệu Hội nghị phát triển giáo dục và đào tạo vùng Tây Nguyên tổ chức ngày 17/10/2017 tại Đà Lạt, trang 04.

3.Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh: Sđd, tr. 04.

4.Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh:Sđd, tr. 06.

5.  PGS.TS. Bùi Tất Thắng (chủ nhiệm) (2015), Đề tài mã số TN3/X08: Vấn đề giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho phát triển bền vững Tây Nguyên, tr. 46.

[6] Chính sách cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng đang có những bất cập: học sinh cử tuyển được hưởng nhiều ưu đãi trong thời gian học tập và được phân công công tác (bố trí việc làm) sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trong khi những học sinh DTTS khác sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông tự thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học công lập không được hưởng chế độ ưu đãi trong quá trình học tập và không được ưu tiên bố trí việc làm, điều đó dường như tạo ra sự không công bằng trong cùng đối tượng học sinh DTTS. Mặt khác, khi tiến hành cử tuyển, không có quy định điều kiện về chọn ngành học, mà để học sinh cử tuyển tự chọn ngành, nên các em chọn những ngành chưa thực sự cần thiết đối với địa phương hoặc những ngành hiện được đào tạo nhiều trong xã hội, nên sau khi tốt nghiệp khó bố trí việc làm. Bên cạnh đó, quy trình chọn học sinh cử tuyển chưa được tuân thủ nghiêm nên chất lượng (kiến thức) của sinh viên cử tuyển không đảm bảo dẫn đến kết quả tốt nghiệp của một số sinh viên cử tuyển thấp, đó là nguyên nhân nhiều cơ quan, đơn vị không muốn tuyển dụng sinh viên cử tuyển vào làm việc.

[7] Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT-BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính về hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường phổ thông DTNT và các trường dự bị đại học dân tộc quy định: học sinh đang học tại các trường trên được hưởng học bổng chính sách bằng 80% mức lương cơ sở của Nhà nước và được hưởng 12 tháng trong năm. Với mức trợ cấp như vậy là thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu về ăn ở và sinh hoạt của học sinh hiện nay. Học sinh lưu ban chỉ được hưởng 50% suất học bổng, quy định này có tác dụng trong việc khuyến khích học sinh chăm chỉ và tập trung học tập để đạt được kết quả học tập cao, song đối với học sinh nội trú nhà nghèo khi lưu ban, nếu được hưởng 50% học bổng thì cuộc sống sẽ khó khăn dễ dẫn đến bỏ học giữa chừng. Đối với trường phổ thông DTBT: với mức hỗ trợ tiền ăn cho cho học sinh bán trú theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ quy định chính sách mỗi học sinh được hỗ trợ mỗi tháng bằng 40% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 9 tháng/năm/học sinh là quá thấp.

 

 Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11/2018.

Đào Thị Tùng - Học viện Chính trị Khu vực III
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Phát huy hơn nữa vai trò của các chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động lập pháp (22/06/2018)
Tăng cường quản lý chính sách dân tộc trên cơ sở phân định miền núi, vùng cao và vùng dân tộc thiểu số theo trình độ phát triển (15/06/2018)
Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta (12/04/2018)
Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp (13/03/2018)
một số vấn đề trong công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lí (29/01/2018)
Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp (19/01/2018)
một số vấn đề trong công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lí (29/01/2018)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân